Thứ Năm, ngày 19 tháng 2 năm 2015

CHO NHỮNG MÙA XUÂN BỚT ĐẮNG ĐAU

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới. Lòng đắm say bao nguồn vui sống. Xuân về với ngàn hoa tươi sáng. Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng…”
Có lẽ trong tất cả những ca khúc rộn ràng vang lên khắp hang cùng ngõ hẻm, khắp thôn xóm mỗi dịp xuân về, bài Xuân và tuổi trẻ này của nhạc sĩ La Hối mang lại cho người nghe cái cảm giác lâng lâng say men xuân hơn cả. Nó rộn ràng, tươi vui, say đắm bởi vị men được tạo ra do sự hòa quyện giữa mùa xuân đất trời với cuộc sống đầy “nguồn vui sống” của con người, của xã hội. Nó tạo cho con người cảm giác lạc quan, yêu đời, ham sống, muốn sống bên một “đời xuân mới” có thực.
Nhưng liệu “đời xuân mới” đã đến thật với mọi người hoặc tuyệt đại đa số người Việt hôm nay? Xuân này, cũng như nhiều xuân qua, hẳn nhiều người sẽ say men xuân, sẽ có điều kiện để thấy ngày quả thực thắm tươi . Nhưng không phải tất cả. Đó đây, những người cảm thấy đắng, đau trong lòng khi xuân về hẳn không phải là ít, không hề ít. Những cảnh đời đắng, đau khi xuân về kể ra thì vô cùng đa dạng. Đó là những người nông dân chưa gắn được với thị trường, với doanh nghiệp; phải chặt bỏ, đổ bỏ sản phẩm mình làm ra vì không tiêu thụ được, vì sản xuất mà thiếu thông tin về thị trường như những nông dân phải đổ bỏ thanh long cho bò ăn, nuôi bò sữa thì phải đổ bỏ sữa như vừa qua ở Lâm Đồng. Đó là những công nhân vắt kiệt sức trong nhà máy để đổi lấy đồng lương nhiều khi không đủ tái tạo sức lao động và là nạn nhân khá thường xuyên của những vụ ngộ độc tập thể sau những bữa ăn nghèo nàn dinh dưỡng ở nhà máy. Đó là những người mẹ vì quá nghèo, không lối thoát, phải tự tử để cho con sống hoặc những thiếu niên tự tử để đỡ gánh nặng cho mẹ cha đang bế tắc trong cuộc mưu sinh cho gia đình. Là những phụ nữ hoặc tự mình hoặc bị lừa bởi những đường dây buôn người để bán thân đổi lấy đồng tiền trong những tụ điểm mại dâm trá hình ở xứ người như vụ 136 phụ nữ Việt bị cảnh sát bắt “xỏ xâu” (chữ của tờ Petro Times) ở Malaysia mới đây, hay những cô dâu bị đánh dập, bị giết hại ở Hàn Quốc, Đài Loan hoặc mất tích một cách bí ẩn như vụ 100 cô dâu Việt biến mất không dấu vết ở Trung Quốc… Và còn nhiều cảnh đời u tối khác nữa. Với họ và người thân, mùa xuân hẳn không về hoặc có về đấy nhưng không trọn vẹn, và “đời xuân mới” hẳn còn xa.
Nông dân Việt Nam vốn được coi là cần cù, lam lũ; nông dân nhiều vùng như miền Tây còn được tiếng là nhạy bén với thị trường, với cái mới, vậy mà bao nhiêu năm nay vẫn loay hoay với bài toán thị trường tiêu thụ, với đầu ra cho sản phẩm, được mùa thì rớt giá, mất mùa giá lên  thì hàng hóa cũng không còn để bán, cứ thế năm này qua năm khác. Lỗi có phải ở họ hay ở nền sản xuất nông nghiệp nói chung chưa thích ứng tốt với cơ chế thị trường, sản xuất đứt rời với tiêu thụ, trong đó có lỗi của những chính sách còn bất cập, những kế hoạch tái cơ cấu sản xuất và thị trường nông nghiệp chậm chạp khiến nông dân mãi không cất cánh lên được, mãi là con tin của những lực lượng làm giàu trên lưng họ, dù họ nuôi sống cả nước và còn góp phần không nhỏ vào thành tích xuất khẩu? Cũng chính do nền kinh tế nông nghiệp quẩn quanh chưa tìm ra lối đi mới ấy đã đẩy không ít hộ nông dân vào hoàn cảnh bi đát, gây không ít bi kịch mẹ chết cho con, con chết cho mẹ cha được sống mà ai cũng biết.
Với công nhân, nhất là công nhân khu vực đầu tư nước ngoài, chính sách thu hút đầu tư bằng lao động rẻ được duy trì quá lâu, vô hình trung đã trói chặt họ vào mức sống chỉ đủ để tồn tại, nói chi nghĩ đến tương lai, đến tích lũy, đến chất lượng sống ngày càng phải được nâng cao.
Và những phụ nữ Việt phải mưu sinh bằng cách bán thân ở xứ người - không ít trong số đó hẳn ra đi từ những gia đình không thể tìm ra sinh kế ở nông thôn hoặc từ những gia đình rơi vào hoàn cảnh cùng quẫn ở đô thị - phải chăng không là một vấn đề kinh tế-xã hội gây ra nỗi đau âm thầm cho mọi người Việt? Bởi có ai không muốn sống cuộc đời tử tế, có ai không muốn được tiếng sạch sẽ, thơm tho? Nhưng cơ hội đã không đến với họ, đã bay đi đâu mất khi những đồng tiền ngân khố quốc gia thay vì được dùng để mở mang giáo dục, việc làm, nghề nghiệp, nâng cao sức khỏe cho nông dân, cho người nghèo đô thị thì đã chui tọt vào những cái túi nhũng lạm.

Mùa xuân là mùa của hy vọng. Liệu có thể hy vọng trong chương trình nghị sự đất nước những năm tới đây, những phận người bèo bọt, những vấn đề kinh tế-xã hội cụ thể sẽ được lưu tâm hơn giữa những khái niệm cao xa và những con số đẹp đẽ. Để những mùa xuân sau ngày càng ngọt ngào, bớt đắng đau…  

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10 năm 2013

BẮT ĐẦU “CUỘC CHIẾN” NƯỚC


“Cướp nước” -  một quan chức sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Đà Nẵng đã nói thẳng như vậy về việc nhà máy thủy điện Đăk Mi 4 chuyển nguồn nước từ nơi này sang nơi khác nhằm vận hành nhà máy điện, gây ra tình trạng khát nước cho thành phố Đà Nẵng và cả một vùng sản xuất nông nghiệp của Đà Nẵng và Quảng Nam. Đà Nẵng dự định đưa vấn đề tranh chấp nguồn nước ra trước Quốc hội. Không chỉ Đăk Mi 4 với Đà Nẵng, Quảng Nam, tranh chấp nguồn nước còn diễn ra giữa một số nhà máy thủy điện khác với các tỉnh Gia Lai, Phú Yên…Khỏi cần nói, “cuộc chiến” này dự báo sẽ ngày càng gay gắt khi tình trạng khô hạn càng kéo dài, khốc liệt. Bởi không có điện, người ta vẫn sống được, dù khổ sở; không có nước, con người không thể tồn tại. Không có nước, những đô thị như Đà Nẵng, Kontum sẽ chết khát, nông dân các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên sẽ không thể làm nông nghiệp ( trong bốn yếu tố của sản xuất nông nghiệp – nước, phân, cần, giống – nước là yếu tố đầu tiên) và do đó không có thu nhập để sống.
“Cuộc chiến” nước - cứ tưởng chuyện chỉ có thể xảy ra tận đâu bên Trung Đông xa xôi, ở những xứ sở sa mạc đất đai khô cằn, nơi từng xảy ra những cuộc chiến giành nguồn nước, nơi mà nước có khi còn đắt hơn cả xăng. Hay là chuyện giữa các quốc gia bên dòng Mekong, nơi mà hàng loạt đập thuỷ điện được xây dựng ở thượng nguồn đang đe doạ nguồn nước, hệ sinh thái và nguồn sống của nhiều triệu người ở các quốc gia ven và hạ lưu con sông này. Đó thực ra cũng không còn là mối đe dọa xa xôi mà đã gây tác hại thực sự khi năm kia có đoạn trên sông Mekong ở Lào nước gần như cạn kiệt và lũ, cùng với nó là phù sa, là tôm cá đổ về Cửu Long ở nước ta ngày càng hiếm, càng ít. Không, “cuộc chiến” nguồn nước – như có tờ báo đã báo động trong một bài xã luận trên trang nhất mới đây – giờ đang thực sự nổ ra ngay trong nước ta, giữa một số địa phương với ngành thuỷ điện.
Không đến nỗi như các nước Trung Đông nhưng rõ ràng Việt Nam không phải là quốc gia dồi dào về nguồn nước. Hình ảnh những con sông quê dạt dào nước tưởng như bất tận, nặng phù sa và ăm ắp cá tôm mà mỗi người Việt Nam đã quen từ tấm bé rõ ràng nay đã lùi vào dĩ vãng - với sự phát triển của công nghiệp, của thủy điện, sự tàn phá rừng đầu nguồn, đào bới bừa bãi tài nguyên làm mất đi thảm thực vật, và tác động của những quốc gia đầu nguồn các con sông. Rồi người Việt Nam sẽ phải tập sống trong sự tiết kiệm và sử dụng hợp lý hơn nguồn nước ngày càng khan hiếm, eo hẹp. Tuy nhiên, giáo dục ý thức tiết kiệm, sử dụng hợp lý nước không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là chuyện lâu dài, mặc dù cần khởi động sớm. Chính vì thiếu nước, phải tiết kiệm, Israel đã phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt, Việt Nam tại sao không? Nhưng điều cần làm ngay là một chính sách và cơ chế chia sẻ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước ở tầm quốc gia giữa các ngành, các địa phương; là sự cân nhắc thấu đáo việc cấp phép cho các dự án sử dụng nguồn nước sao cho hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
Rõ ràng đang có sự cắt khúc, đứt đoạn trong quản lý nguồn nước, quản lý các sông ngòi và toàn bộ lưu vực sông giữa các bộ ngành liên quan và các địa phương mà thiếu một cơ quan quản lý tổng hợp có tiếng nói cuối cùng. Trong sự quản lý cắt khúc, đứt đoạn đó, sự tác động đến hệ sinh thái, môi trường của các dự án thường là yếu tố ít được quan tâm nhất, làm hình thức, chiếu lệ nhất. Chính vì sự quản lý cắt khúc ấy mà có những con sông dày đặc các dự án thủy điện; có những dự án trên một con sông chảy qua nhiều tỉnh như sông Đồng Nai, tỉnh này thì cho phép làm, tỉnh khác lại phản đối. Hoặc, như nói ở trên, là sự tranh chấp nguồn nước giữa ngành thủy điện và các địa phương.  Vì vậy đã đến lúc cần có cơ quan quản lý tổng hợp từng lưu vực sông, có trách nhiệm cân nhắc tác động nhiều mặt, từ kinh tế đến hệ sinh thái, môi trường, xã hội và đời sống của cộng đồng dân cư trước khi cấp phép cho một dự án khai thác thủy năng.

Một nguồn nước, một con sông, một hệ sinh thái cũng như một con người, có ngưỡng chịu đựng của nó. Giành nhau khai thác cạn kiệt, quá ngưỡng chịu đựng của nó trước sau gì cũng mang lại thảm họa mà những lợi ích trước mắt sẽ không thể bù đắp được. Chính ở đây cần đến vai trò của Nhà nước như là người điều phối nhằm sử dụng khôn ngoan, hợp lý, tiết kiệm và bền vững nguồn nước. Và cơ quan quản lý tổng hợp đóng vai trò đó chẳng những cần sáng suốt, cần có đủ quyền mà còn cần sự vô tư, không để bị chi phối bởi bất cứ nhóm lợi ích nào.

Thứ Bảy, ngày 08 tháng 9 năm 2012

NHỮNG THÔNG ĐIỆP TRÁI NGƯỢC


Như chỉ chờ có thế, Quốc hội Việt Nam vừa thông qua luật biển – một việc bình thường của một quốc gia ven biển và lẽ ra phải làm từ lâu sau khi tham gia Công ước về luật Biển Liên Hiệp Quốc 1982 (UNCLOS) – Trung Quốc đã cấp tập phản ứng bằng một loạt những hành động gây hấn, khiêu khích, đe doạ xem ra đã được tính toán từ trước: nâng cấp hành chính cái gọi là “thành phố Tam Sa” mà họ đã thành lập từ năm 2007 bao gồm trong đó cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, thành lập chính quyền để quản lý “thành phố” này, lập đơn vị quân đồn trú đặt trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, xua đội tàu đánh cá lớn xuống Trường Sa đánh bắt trái phép, gọi thầu dầu khí trong vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, cho tàu chiến xuống biển Đông tuần tra “sẵn sàng chiến đấu”, giở giọng đe doạ không úp mở trên báo chí. Không chỉ gây hấn với Việt Nam, Trung Quốc trước đó cũng đã gây hấn với Philippines sau khi cho tàu bè xâm phạm vùng biển của nước này.
Với Việt Nam, những hành động ức hiếp của Trung Quốc không phải hôm nay mới diễn ra mà đã kéo dài từ nhiều năm qua. Đầu năm 2005, tàu tuần tra của Trung Quốc đã bắn thẳng vào ngư dân Thanh Hóa đang đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam ở vịnh Bắc bộ, cách đường ranh giới trên biển đến 10 hải lý, làm chết 9 ngư dân và bị thương 7 người, 8 ngư dân sống sót bị bắt đưa về Hải Nam, bị vu là cướp biển. Những năm sau đó, nhất là từ sau khi Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt hàng năm trên biển Đông và cho đến tận hôm nay, ngư dân Việt Nam đánh bắt trên vùng biển Việt Nam ở biển Đông liên tục bị bắt giữ, đánh đập, cướp tài sản, tịch thu tàu thuyền, đòi tiền chuộc. Năm 2011, Trung Quốc hai lần cho tàu hải giám cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ cũng nhiều lần đe doạ các công ty dầu khí nước ngoài muốn hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí với Việt Nam khiến các công ty này phải rút lui.
Những hành động đó của Trung Quốc đã gây nên nỗi bức xúc lớn nơi người dân Việt Nam và gây nên nỗi lo ngại về chủ quyền đất nước, sự toàn vẹn lãnh thổ bị đe doạ. Chính vì vậy, người dân đã rất vui mừng khi Quốc hội thông qua luật biển, trong đó khẳng định lại Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng càng vui mừng trước quyết định của Quốc hội bao nhiêu, người dân lại càng âu lo, thấp thỏm, bối rối bấy nhiêu trước những tín hiệu, những thông điệp không rõ ràng hoặc theo chiều hướng ngược lại với xác quyết của Quốc hội, với mối lo hiển hiện trên biển Đông. Khi tình hình biển Đông đã căng như dây đàn sau hàng loạt hành động gây hấn cấp tập, khi nhiều người cảm nhận mối đe doạ đối với chủ quyền đất nước đã ở trước ngõ, khi giới truyền thông và các nhà sử học, luật gia trong nước đang ra sức đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa bằng cách vạch rõ sự vô căn cứ về mặt pháp lý và lịch sử của “đường lưỡi bò” trên biển Đông thì người ta lại tổ chức những hội nghị rình rang bày tỏ lòng biết ơn với nước láng giềng và tình cảm thắm thiết giữa hai nước, hai quân đội. Với truyền thống tốt đẹp của người Việt, ơn thì phải nhớ, phải trả, tất nhiên, nhưng giờ có phải là lúc thích hợp để nói chuyện ơn nghĩa khi người “làm ơn” đã lật lọng, công khai gây hấn mà lại giở giọng vu khống ta, khiêu khích, đe doạ ta, và lộ mặt là kẻ xâm lấn? Những tín hiệu, những thông điệp trái ngược đó khiến người dân bối rối, không biết nên hiểu thế nào, nên tin vào đâu. Dư luận nước ngoài, vốn gần như thống nhất phê phán sự sai trái của Trung Quốc qua những hành động hung hăng vừa qua, chắc cũng phải tự hỏi Việt Nam đang muốn gì?
Tháng 11 năm ngoái, trong một lần trả lời chất vấn trước Quốc hội, ông Thủ tướng có đề cập đến quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông. Trong một dịp gặp gỡ cử tri, ông Tổng bí thư cũng có nói mấy câu hiếm hoi gì đó về việc bảo vệ chủ quyền. Nhưng, sau những hành động mới nhất của Trung Quốc, tình hình đã khác. Nhiều người ước muốn, giá như có ai đó ở cấp nguyên thủ quốc gia đĩnh đạc xuất hiện trên truyền hình hoặc trước Quốc hội để trình bày một cách rõ ràng, rành mạch trước quốc dân về điều gì đã và đang diễn ra, quan điểm và lập trường của nhà nước ta ra sao, ta sẽ làm gì để bảo vệ biên cương và ích lợi của mình ở biển Đông. Một việc cần thiết như thế để đoàn kết lòng người, để gửi đến người dân một thông điệp rõ ràng, không thể mơ hồ, vậy mà xem ra quá khó. Thay vào đó người dân chỉ được thông tin về việc hai bộ ngoại giao và quốc phòng “trả lời kiến nghị” của cử tri liên quan đến những vấn đề trên. Sao lại chỉ là một sự “trả lời kiến nghị” thay vì giải trình trách nhiệm và trình bày đường hướng xử lý vấn đề ở cấp cao nhất?
Và như thế, trước những tín hiệu, những thông điệp trái ngược, không nhất quán, lòng người vẫn khó thể yên.

RẠN VỠ TỪ BÊN TRONG


Từ ngày con lộ chạy qua làng, nối làng với tỉnh lộ, quốc lộ được nâng cấp, tráng nhựa phẳng lì, người chết vì tai nạn giao thông trong làng bỗng nhiên tăng vọt.
Phần lớn là thanh niên trai tráng nhậu xỉn hoặc không nhậu xỉn phóng xe ào ào, bạt mạng đâm vào nhau hoặc đâm vào cột điện.
Thế là người già chôn cất người trẻ. Con lộ phẳng lì giúp dân làng đi lại thuận tiện hơn, lên thành phố nhanh hơn, rút ngắn thời gian chuyển viện khi bị bệnh nặng, hàng hóa buôn bán vận chuyển dễ dàng hơn, nhưng nó cũng làm cho đám thanh niên, thiếu niên rời bỏ làng lên thành phố nhiều hơn để đi học, kiếm việc làm hoặc chơi bời lêu lổng chẳng làm gì. Nhiều đứa lúc còn ở làng học hành giỏi giang, ngoan ngoãn, sau một thời gian lên thành phố thì đàn đúm, bỏ học, trở về quê mang theo những thói hư tật xấu tiêm nhiễm chốn thị thành.
Những thanh niên còn lại ở làng giờ cũng chẳng còn mấy người làm nông. Con đường nhựa mở ra, hai bên đường giờ mọc đầy cửa hàng buôn bán, quán cà phê, quán karaoke, quán nhậu. Nói chung, thành phố có dịch vụ gì, những thứ giải trí gì, ở làng giờ hầu như đều có cả, chỉ chưa có dancing, massage. Và thanh niên nhiều người suốt ngày la cà ở quán.
Thế hệ này bắt đầu ngán làm nông, ngán nhúng chân xuống ruộng, ngán vun đất trồng rau, ngán làm cỏ, tưới nước cho cây tiêu, cây điều, cây cà phê vốn trước đây là thế mạnh của vùng đất đỏ Đông Nam bộ này. Trồng lúa, trồng rau màu, trồng tiêu, điều, cà phê, chăn nuôi heo gà giờ chủ yếu là lớp trung niên và người già trong làng mà vì ràng buộc gia đình hoặc vì không còn đủ sức nên không đi đâu được, đành chấp nhận ở tại chỗ.
Mà người ta ngán làm nông cũng phải. Làm nông thuần túy chỉ đủ ăn là may, không sao ngóc đầu lên được. Từ vài chục năm nay, nông dân vừa phải đánh vật với sản xuất (nước, phân, cần, giống) vừa phải đánh vật với thị trường đầy rủi may. Tiêu, điều, cà phê nay mới được giá, mai đã rớt giá, chưa kể dịch bệnh làm cây chết. Heo, gà, vịt... hết đợt này đến đợt khác, nếu không bị dịch bệnh thì cũng bị ảnh hưởng từ tin tức về dịch bệnh ở nơi khác khiến thương lái dựa vào đó dìm giá.
Tin tức mới đây về việc sử dụng chất tạo nạc trong nuôi heo ở đâu đó cũng khiến những người nuôi heo ở đây điêu đứng. Thịt bán trên thị trường vẫn cao, cao gấp đôi giá heo hơi mua tại chuồng, vậy mà thương lái vẫn còn muốn ép giá phía người nuôi xuống nữa. Trồng trọt, chăn nuôi như cánh đồng bị bão liên tục chà đi xát lại. Nông dân, vì sự sống, vẫn làm nhưng mù mịt tương lai. Bảo sao con cháu họ không muốn bỏ đi?
Trên cái nền sản xuất như vậy, cuộc sống không khỏi bấp bênh và xã hội khó mà ổn định. Tuy vậy, trai tráng trong làng bỏ đi thì lại có những người từ những vùng quê khác ở rất xa và có lẽ còn nghèo khó hơn kéo tới. Có những người chí thú làm ăn ở vùng đất mới nhưng cũng có người không.
Trong làng bắt đầu xảy ra nạn trộm cắp, từ con chó tới đồ đạc trong nhà, từ tiêu, điều, cà phê cho tới cái máy bơm đặt dưới giếng sâu. Trong làng cũng bắt đầu có những con nghiện ma túy, cả ở nơi khác tới lẫn trong thanh niên xưa nay ở làng. Làng không còn yên bình như mấy chục năm trước.
Ngay trong thời chiến tranh, người ta chết vì chiến tranh, vì bom rơi đạn lạc, nhưng quan hệ giữa người với người trong làng, trong xóm ít xao xác hơn bây giờ. Người ta tin nhau và tin vào điều thiện hơn bây giờ. Có cái gì đó như là sự rạn vỡ từ bên trong.
Các nhà lãnh đạo tinh thần, lãnh đạo tôn giáo trong làng nhận ra sự xói mòn của những giá trị tinh thần, giá trị đạo đức xưa nay vẫn được thừa nhận nơi dân làng. Họ cố gắng làm điều gì đó để ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ từ bên trong, nhưng dường như vẫn chưa tìm ra được lời giải hữu hiệu trước những xu hướng mới của xã hội. Vả chăng, những nỗ lực tinh thần chỉ hữu hiệu khi được hỗ trợ bởi những thiết chế xã hội phù hợp, mà các thiết chế xã hội thì đang xơ cứng.
Ngôi làng tôi đang nói tới là ngôi làng của tuổi thơ tôi, nơi thỉnh thoảng tôi vẫn trở về. Còn có thể có bao nhiêu ngôi làng như thế, những ngôi làng đang lung lay gốc rễ, những ngôi làng đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ từ bên trong, từ trong mỗi người làng, mỗi gia đình, từ trong từng tế bào xã hội của làng xóm. Chẳng thế mà thỉnh thoảng chúng ta vẫn được nghe về những tội ác ghê rợn xảy ra nơi chốn thôn quê, nơi bình yên một thuở, nơi tá túc cho những con người mệt mỏi với cuộc sống chốn thị thành nhưng giờ chính nó cũng đang phải đi tìm lại sự bình yên.


AI CANH GIẤC CHO DÂN ?