Hiển thị các bài đăng có nhãn những bài báo cũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn những bài báo cũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

MUỐN GIÁM SÁT, PHẢI CÓ NĂNG LỰC GIÁM SÁT

TBKTSG số 28-2007 đăng chuyền đề “Để nâng cao chất lượng làm luật”. Dựa vào ý kiến của nhiều luật sư và chuyên gia thuộc nhiều ngành khác nhau và dựa trên thực tế nhiều luật ban hành thiếu tính khả thi hoặc thiên vị lợi ích của cơ quan hành pháp, cũng là người soạn thảo luật, mà xem nhẹ lợi ích của xã hội (ví dụ cụ thể và mới nhất là dự thảo luật về hội), chuyên đề đã đặt vấn đề giới hạn độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp và tăng cường năng lực soạn thảo luật của cơ quan lập pháp cũng như trao quyền soạn thảo dự án luật cho các tổ chức và đoàn thể xã hội.

Sau khi báo ra, chuyên đề đã lập tức nhận được sự phản hồi từ nhiều chuyên gia luật pháp, chứng tỏ nó đã “gãi đúng chỗ ngứa”, đặt đúng vấn đề bức xúc và vẫn đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau lâu nay. Tất nhiên, hai ba bài viết trong một chuyên đề và những bài trao đổi lại sau đó chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề đặt ra cũng như chưa thể đưa đến sự đồng thuận. Dù sao nó cũng cho thấy tầm mức quan trọng của vấn đề và đào sâu thêm được những khía cạnh có liên quan. Với số báo này, chúng tôi tạm kết thúc cuộc trao đổi ở đây và mong rằng nó sẽ còn được tiếp tục ở những diễn đàn khác để có thể đi đến một sự thống nhất nào đó, một sự thống nhất rất quan trọng để phát triển hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Để tạm đúc kết, phải nói rằng trong các ý kiến phát biểu trực tiếp hoặc được trích dẫn trong chuyên đề, không có ý kiến nào đòi xóa bỏ quyền soạn thảo và trình dự án luật của cơ quan hành pháp mà chỉ đặt vấn đề, để nâng cao chất lượng làm luật, cần hạn chế bớt độc quyền này đồng thời tăng cường khả năng soạn thảo và trình dự án luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức, đoàn thể xã hội. Điểm thứ hai: có sự thừa nhận chung về những sự bất cập trong quy trình làm luật hiện nay, vì độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp khó tránh khỏi dẫn đến chỗ soạn thảo luật chỉ nhắm thuận tiện cho công việc quản lý nhà nước mà không chú ý thích đáng đến lợi ích của các tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên, đến giải pháp thì các ý kiến lại có sự khác biệt. Có ý kiến cho rằng, cơ quan hành pháp vẫn phải là nơi soạn thảo luật chủ yếu và có thể ngăn ngừa sư lạm quyền của cơ quan soạn thảo bằng các chốt chặn trong quy trình soạn thảo và thông qua một dự luật, nhất là bằng vai trò phản biện và giám sát của Quốc hội. Có ý kiến ngược lại, cho rằng cần tăng cường khả năng và quyền soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội và các tổ chức, đoàn thể xã hội.

Xét thực tiễn làm luật ở nước ta, chúng tôi cho rằng vẫn cần mở rộng quyền và khả năng soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức và đoàn thể xã hội, tuy nhiên điều quan trọng nhất không phải là ai soạn thảo luật mà là quy trình soạn thảo như thế nào để thu hút được sự đóng góp có giá trị của xã hội; và quy trình giám sát, phản biện và thông qua tại Quốc hội như thế nào để luật được thông qua thật sự có chất lượng. Nhưng muốn Quốc hội đóng được vai trò giám sát, phản biện và quyết định với đầy đủ sự thông hiểu thì mỗi đại biểu phải có đủ năng lực làm việc đó. Câu hỏi đặt ra là: với đa số đại biểu không phải là chuyên trách, mọi đại biểu dân cử của ta phải chăng đã có đầy đủ khả năng này, và làm thế nào để đạt tới đó?

“Không có Thánh Gióng”!

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, đã nói một cách hình ảnh như vậy khi đề cập đến các doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cam kết WTO hiện nay (Hậu WTO: Doanh nghiệp “xung kích trong bị động” - VietnamNet 21-8-2007).

Bà cho rằng 95% doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong số đó phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, rất ít doanh nghiệp vừa. Các doanh nghiệp nhỏ, đa số mới thành lập, thiếu và yếu đủ mặt, từ vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ năng quản trị đến cơ hội tiếp cận thị trường. Sau khi đất nước đã gia nhập WTO, môi trường cạnh tranh vẫn chưa được cải thiện là bao, vì vậy mà theo bà, sau hơn 20 năm đổi mới hầu như không có doanh nghiệp nhỏ nào vươn lên thành doanh nghiệp lớn được. Không có “doanh nghiệp Thánh Gióng”! Mà môi trường cạnh tranh, theo bà, phụ thuộc vào Nhà nước. “Không thể bảo doanh nghiệp cạnh tranh đi, khi không cho họ môi trường”, bà nói. Dẫn con số chỉ 8% doanh nghiệp Việt Nam hiểu biết và tận dụng được cơ hội do hội nhập mang lại sau 12 năm đất nước hội nhập khu vực và thế giới, bà đặt dấu hỏi liệu sau 12 năm Việt nam trở thành thành viên WTO, tình hình có lặp lại như vậy ?

Qủa thật, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ ra đời trong quá trình đổi mới, sinh sau đẻ muộn nên không có các lợi thế về đất đai mặt bằng, cơ hội tiếp cận tín dụng, cơ hội kinh doanh hoặc cả những lợi thế vô hình như các mối quan hệ mà những doanh nghiệp nhà nước lớn đã nắm từ trước. Tuy nhiên, nếu như có được môi trường kinh doanh bình đẳng và thông thoáng, một số doanh nghiệp đi sau vẫn có thể làm nên chuyện. Đáng tiếc, về môi trường cạnh tranh, có ai không giật mình, chẳng hạn, trước con số gây sốc mà Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đưa ra mới đây về lượng thời gian mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành các thủ tục về thuế: 245 ngày/năm ? Hoặc như việc tham vấn ý kiến doanh nghiệp về các chính sách, quy định liên quan đến kinh doanh mà bà Lan cho rằng còn rất hạn chế: “Hỏi nhiều, nghe ít, tiếp nhận càng ít hơn nữa”.

Dễ hiểu là trong điều kiện như vậy làm sao có được những “doanh nghiệp Thánh Gióng”, những doanh nghiệp làm ta ít nhiều liên tưởng đến những Microsoft, những Yahoo!, những Google – dù là ở quy mô nhỏ hơn ?

Thế nên, trở lại vấn đề doanh nghiệp và WTO, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào Nhà nước với tư cách là người tạo lập sân chơi bằng phẳng, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng. Và các cam kết WTO, do đó, cần phải trở thành một sức ép không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả đối với bộ máy quản lý, buộc nó phải chuyển đổi cung cách quản lý nhanh hơn, mới hơn, mở hơn.

Mà không riêng trong lĩnh vực kinh doanh, trong tất cả các lĩnh vực khác từ quản lý giáo dục đến quản lý văn hóa, quản lý báo chí... cam kết WTO phải trở thành ngọn roi thúc bộ máy quản lý nhanh chóng chuyển đổi cho phù hợp với qúa trình hội nhập.

HAI VẤN NẠN TỪ VỤ PMU 18

Vụ tham nhũng tại Ban Quản lý dự án (PMU) 18 cho thấy ít nhất có hai vấn nạn lớn đang đặt ra: một là sự quản lý yếu kém của hệ thống các cơ quan nhà nước đối với đồng tiền quốc gia; hai là chính sách, cơ chế, tuyển dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ, sử dụng con người của hệ thống tổ chức Đảng có vấn đề.

Với vấn nạn thứ nhất, như Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội, ông Tào Hữu Phùng, nhận xét: cả Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính đều buông lỏng quản lý, giám sát, để xảy ra tình trạng trong thời gian dài vốn ODA bị thất thoát lớn và nếu không do tình cờ phát hiện ra vụ đánh bạc của Bùi Tiến Dũng thì không biết tình trạng lãng phí nguồn vốn này còn kéo dài đến bao giờ, với quy mô nào. Ông Tào Hữu Phùng còn đi đến chỗ nhận xét: “Ngoài các bộ, cả Chính phủ, Quốc hội đều buông lỏng quản lý, xem vốn ODA là nguồn vốn ngoài ngân sách nên không ai quan tâm”. (Tuổi Trẻ, 10-4-2006). Phải nói thẳng, đó là sự vô trách nhiệm trước đồng tiền mà người dân đã giao cho Nhà nước quản lý. Hai tỉ đô la trả nợ nước ngoài mỗi năm kể từ năm 2006 sẽ lấy từ đâu nếu không phải từ tiền đóng thuế của người dân, của doanh nghiệp?

Nhưng vấn nạn thứ hai mới là nguyên nhân căn bản dẫn đến vấn nạn đầu. Vì sao những con người như Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến và những người khác liên quan trong vụ án này lại có thể leo cao đến thế để gây hại đến thế cho đất nước và cho cả Đảng mà lúc nào họ cũng được xếp là đảng viên A1 trong những tổ chức Đảng luôn được đánh giá là “trong sạch, vững mạnh” cho đến ngày họ bị bắt, thậm chí nếu không bị bắt có người trong số họ còn có thể được đề bạt lên cao hơn? Dường như cái gốc là ở cơ chế, chính sách, quan niệm dùng người của Đảng: với những vị trí nhất định, ngay trong kinh tế chứ chưa nói đến những lĩnh vực khác, chỉ có đảng viên được tin dùng. Và đó là điều kiện, là môi trường cho những kẻ mà cả tài năng lẫn phẩm chất con người có khi còn thua xa những người không có mác đảng viên, có thể lợi dụng để leo cao hòng tác oai tác quái. Chính sách tưởng chặt mà hóa ra lỏng, tưởng có ích cho Đảng mà hóa ra làm hại cho Đảng. Sự hẹp hòi trong chính sách sử dụng con người cuối cùng không chỉ làm thui chột những tài năng vốn cần cho phát triển đất nước mà còn khiến hình ảnh của Đảng bị ảnh hưởng bởi những đảng viên như Bùi Tiến Dũng, như Nguyễn Việt Tiến... Tin vào cái vỏ bên ngoài, vào lý lịch, vào những danh hiệu không thực chất mà không muốn hay không có khả năng nhìn ra bản chất con người, chuyện trả giá là dễ hiểu.

Cho nên, để không còn những PMU 18 khác, không chỉ cần thắt chặt việc quản lý và sử dụng đồng tiền quốc gia, đồng tiền tích cóp của dân sao cho hiệu quả mà còn rất cần xem lại cơ chế, chính sách, quan niệm sử dụng con người của Đảng.

TỪ CHUYỆN CHIẾC MŨ BẢO HIỂM

Chuyện chiếc mũ bảo hiểm tưởng nhỏ hoá ra không nhỏ. Nó liên quan đến năng lực và sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước. Chuyện chiếc mủ bảo hiểm và những rối rắm phát sinh hiện nay về chất lượng mũ bán trên thị trường mà có ý kiến đánh giá đến 75% (một con số quá lớn) không đạt tiêu chuẩn, về việc tổ chức kiểm định chất lượng mũ, …cho thấy có ít nhất hai điều chưa ổn trong quản lý nhà nước, cụ thể hơn là trong hoạt động của các bộ.

Thứ nhất, sẽ chẳng có gì phải nói nếu trước khi ban hành Nghị quyết 32/2007/NĐ-CP của Chính phủ mà mục đích là nhằm kiềm chế tai nạn giao thông nhưng có quan hệ đến hàng triệu triệu người dân, các bộ Công thương (trước đây là bộ Công nghiệp và bộ Thương mại) và bộ Khoa học-Công nghệ ngồi lại để rà soát lại toàn bộ năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm trong nước để có kế hoạch tổ chức sản xuất sao cho đáp ứng đủ nhu cầu (cả về số lượng và chất lượng), hoặc trong trường hợp doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng đủ nhu cầu thì cho nhập khẩu mũ bảo hiểm từ đâu, với những tiêu chuẩn bắt buộc như thế nào, và chỉ định cơ quan nào phải chịu trách nhiệm về chất lượng mũ sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu được phép lưu hành trên thị trường. Vấn đề ở đây là một khi đề ra chính sách, bộ máy quản lý phải bảo đảm các điều kiện để chính sách đó được thực thi nghiêm chỉnh, thông suốt trong thực tế.

Thứ hai, sau nhiều phản ảnh của báo chí, của công luận về chất lượng cũng như giá cả mũ bảo hiểm, sau khi nhiều người dân đã phí tiền mua phải những loại mũ giả, mũ dỏm không đạt tiêu chuẩn, các bộ có liên quan hầu như vẫn không có phản ứng gì. Có cảm tưởng bộ máy quản lý nhà nước cấp bộ bận bịu với những vấn đề của chính nó, với sức ỳ của nó hơn là nhanh chóng, chủ động phản ứng vì lợi ích của hàng triệu người dân. Trong cải cách hành chính, người ta đang nói đến việc chuyển bộ máy nhà nước từ chỗ là bộ máy cai trị sang bộ máy phục vụ người dân. Đáng tiếc, trong trường hợp này điều đó đã không xảy ra. Và khi sáp nhập một số bộ, Thủ tướng cũng đề ra một nguyên tắc quản lý là mỗi đầu việc chỉ do một đầu mối chịu trách nhiệm. Nhưng trong trường hợp này, không rõ bộ nào chịu trách nhiệm chính và sự phối hợp giữa các bộ rõ là quá kém. Để đến bây giờ, nhiều tháng sau khi Nghị quyết 32 được ban hành, khi thời hạn áp dụng nghị quyết đã gần kề, Thủ tướng phải ra văn bản yêu cầu các bộ Khoa học-Công nghệ và Công thương phối hợp để quản lý chất lượng mũ bảo hiểm và công bố danh sách những loại mũ đạt tiêu chuẩn; kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh các loại mũ giả, mụ dỏm; yêu cầu bộ Tài chính tổ chức kiểm tra việc niêm yết giá mũ bảo hiểm và bán đúng giá niêm yết, không để xảy ra việc tùy tiện nâng giá làm thiệt hại lợi ích của người tiêu dùng.

Chuyện chiếc mũ bảo hiểm như vậy đã cho thấy những vấn đề lớn hơn trong chức năng, tính chất và sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước. Công cuộc cải cách hành chính của chúng ta bao giờ mới đến nơi ?

Minh bạch, lại chuyện minh bạch

Cuối cùng thì vào thứ năm tuần trước, 21-6, UBND Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chính thức thông báo ngưng đề án thí điểm cổ phần hóa Bệnh viện (Bv) Bình Dân sau khi công luận bày tỏ sự không đồng tình với đề án, cả về mục tiêu, tính khả thi lẫn tác động của việc cổ phần hóa bệnh viện xét về mặt công bằng xã hội.
Tại cuộc họp báo nhằm thông báo quyết định nói trên của lãnh đạo thành phố, trả lời phỏng vấn của báo chí, Phó chủ tịch UBNDTP Nguyễn Thành Tài cũng cho biết sẽ rút kinh nghiệm, tổ chức lấy ý kiến của các ngành, các tổ chức, đoàn thể, các nhà chuyên môn, nhà kinh tế về đề án cổ phần hóa một bệnh viện khác sau này.
Việc rút kinh nghiệm này quả thực cần thiết, bởi đến bây giờ nhiều người mới biết UBNDTP đã chỉ đạo chuẩn bị xây dựng đề án thí điểm cổ phần hóa Bv Bình Dân từ ba năm trước, đã kiến nghị Chính phủ cho phép tiến hành thí điểm từ hai năm trước và đã được Chính phủ cho phép xây dựng đề án thí điểm trình Chính phủ xem xét từ tháng 9-2005. Thế nhưng mãi đến tháng 5-tháng 6 năm 2007, khi dư luận, qua báo chí, hay biết và tỏ ra bức xúc về đề án thì một số cuộc hội thảo về chủ đề này mới được tổ chức, và cũng không phải do chính quyền thành phố chủ động. Ngoài ra, cũng qua báo chí người ta mới biết trong đề án cổ phần hóa, Bv Bình Dân đã được định giá quá thấp, chỉ bằng khoảng 1/12 giá trị thực – theo một số chuyên gia. Chính vì vậy, và trong bối cảnh không hề có thông tin chính thức về đề án cổ phần hóa bệnh viện, một số người đã nhảy vào trục lợi, mua bán quyền mua cổ phiếu và đẩy giá lên cao khi bệnh viện chưa hề có quyết định cho phép cổ phần hóa. Ngay cả trong tình hình đó, tình hình mà không thể nói cơ quan chức năng không hay biết, thành phố vẫn không hề có thông báo hay cảnh báo chính thức nào. Để rồi bây giờ, khi thành phố chính thức thông báo ngưng đề án thí điểm cổ phần hóa Bv Bình Dân, cả người mua lẫn người bán “cổ phiếu” ảo đều lâm vào tình cảnh khó khăn.
Y tế là một dịch vụ công động chạm đến đông đảo người dân, nhất là đa số người có thu nhập trung bình và nghèo. Lẽ ra, với một đề án động chạm đến đông đảo người dân như vậy, như ông Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng chính phủ kiêm Phó trưởng ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nói tại hội thảo quốc gia về cổ phần hóa bệnh viên công ngày 17-5, “UBNDTPHCM cần công bố đề án công khai để người dân được đóng góp ý kiến, từ đó lãnh đạo thành phố có thể cân nhắc điều hay lẽ thiệt.” Nếu làm như vậy ngay từ đầu, thành phố đã có thể tiết kiệm được thời gian, công sức dốc vào việc xây dựng đề án. Nếu minh bạch ngay từ đầu, có lẽ đã tránh được việc nhiều người bây giờ rơi vào cảnh dở khóc dở cười khi nắm trong tay những “cổ phiếu” ảo do tom góp tiền chạy mua quyền mua cổ phiếu của cán bộ công nhân viên Bv Bình Dân.

BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN

(Lại một bài báo cũ, nhưng vấn đề thì vẫn chưa hề cũ).

Trong tất cả các biện pháp chống tham nhũng, chống lãng phí thì công khai hoá phải là biện pháp đầu tiên. Bởi, như mọi người đều biết, mọi lời hô hào chung chung, mọi sự kêu gọi tu dưỡng đạo đức, thậm chí mọi sự lên án mạnh mẽ nhất mà không kèm theo địa chỉ, danh tính cụ thể của những đơn vị, cá nhân vi phạm, cho đến nay đều tỏ ra không có hiệu quả. Tham nhũng, lãng phí vẫn lan tràn, và như tổng kết mới đây của ngành công an cho thấy, càng ngày những kẻ tham nhũng bị phát hiện có chức vụ càng cao.
Cũng chính vì thế, trong những ngày qua, trong khi các đại biểu Quốc hội đang thảo luận với nhiều ý kiến chưa ngã ngũ về dự thảo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng thì việc Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế-ngân sách của Quốc hội Tào Hữu Phùng cho nổ “quả bom” liên quan đến việc một doanh nghiệp nhà nước dự chi đến hơn 847 triệu đồng để đón nhận huân chương Lao động hạng 3 (mặc dù sau đó doanh nghiệp này cho rằng dự toán chỉ có 460 triệu đồng) đã gây nên một tác động lớn. Tác động càng mạnh khi báo Tuổi Trẻ TPHCM và kênh truyền hình VTV1 nêu đích danh đơn vị mà Phó chủ nhiệm ủy ban Kinh tế-ngân sách còn ngại công khai hóa : đó là Công ty gốm xây dựng Hạ Long thuộc Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng - Bộ Xây dựng.
Chỉ khi bị đưa ra ánh sáng, chỉ đích danh, thì những thủ phạm lãng phí, tham nhũng mới thật sự cảm thấy nao núng và luật pháp mới phát huy tác dụng răn đe của nó.
Cũng vậy, việc báo chí công khai hóa những đơn vị, cá nhân liên quan đến việc nhập 150 xe mô tô công vụ trị giá 750.000 đô-la Mỹ cho cảnh sát giao thông TPHCM và nhiều xe ôtô, mô tô trị giá gần nửa triệu đô-la Mỹ cho cảnh sát giao thông Hà Nội trong dự án tăng cường năng lực quản lý giao thông đô thị, nhưng xe nhập lại không sử dụng được do không đúng quy cách, gây lãng phí lớn tiền vay của Ngân hàng Thế giới, cũng đã khiến công luận hết sức bức xúc và buộc những kẻ có liên quan phải đối diện với trách nhiệm của mình.
Trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống lãng phí, nếu tất cả các vụ việc vi phạm đều được công khai hoá như vậy thì những kẻ có ý định tham nhũng hoặc chi xài phung phí ngân sách nhà nước mới cảm thấy chùn tay, không dám phạm tội. Công khai hoá, bên cạnh sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật,chính là cách duy trì sức ép thường xuyên lên mọi mưu toan tham nhũng, chi xài phung phí đồng tiền ngân sách.

TA MUỐN GÌ?

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện...”.

Một mục tiêu như vậy, theo chúng tôi, hẳn sẽ được nhiều người đồng tình. Với điều kiện, chẳng hạn, dân chủ phải thực sự là dân chủ chứ không phải là dân chủ hình thức, bị cắt xén. Công bằng phải thực sự là công bằng cho cả những người dân thấp cổ bé miệng nhất chứ không chỉ giữa những người có quyền thế. Nhân dân phải thực sự làm chủ thông qua những định chế cụ thể và hữu hiệu, chứ không chỉ là khẩu hiệu để trong thực tế chỉ có cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước làm chủ. Người dân được giải phóng khỏi áp bức, bất công, được tự do thực sự chứ không phải khúm núm như người đi xin khi có việc phải tiếp xúc với cơ quan công quyền. Con người được phát triển toàn diện, được tự do sáng tạo và đóng góp thực sự, được tìm kiếm những lối đi mới mẻ cho mình và cho xã hội mà không phải lo sợ bất cứ điều gì... Thực tâm làm được như vậy, theo chúng tôi, Đảng không lo không thu phục được nhân tâm.

Thế nên, trước những ý kiến nhiều chiều về những vấn đề quan trọng đang được đặt ra trong cuộc thảo luận góp ý cho Đại hội Đảng lần thứ X, theo chúng tôi, cần đặt ra câu hỏi: Ta muốn gì? Nói cách khác: Mục tiêu của ta là gì? Ta muốn đất nước đi về đâu? Tiếp tục phát triển, hội nhập và sánh vai với các nước trên thế giới hay dừng lại, thậm chí lùi lại (so với những gì mà 20 năm đổi mới đã làm sáng tỏ) với những giáo điều, những tư tưởng, những mô hình đã chứng tỏ là bất cập, cản trở sự phát triển vì không có hiệu quả, không có sức sống, không theo kịp thời đại? Hỏi tức là đã trả lời.

Vậy, nếu điều mà ta muốn, nếu mục tiêu mà Đảng đề ra và có thể đoan chắc là không người Việt Nam bình thường nào ở trong và ngoài nước không đồng tình là “xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thực sự, thì những vấn đề đang được đặt ra cần phải được giải quyết phù hợp với mục tiêu ấy. Chẳng hạn vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, vấn đề kinh tế quốc doanh và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, việc sử dụng người giỏi bất kể là trong hay ngoài Đảng ở mọi nấc thang của bộ máy hành chính, việc cải tổ hệ thống chính trị và dân chủ hóa xã hội, phát triển xã hội dân sự...

Phải giải quyết những vấn đề ấy phù hợp với mục tiêu đề ra, phù hợp với mong mỏi của người dân mà đa số góp ý trong thời gian qua đã cho thấy, và phù hợp với sự phát triển, dứt khoát không đi ngược lại sự phát triển.

NẾU TRỊNH HÒA VẪN TIẾP TỤC GIONG THUYỀN ĐI BIỂN...


Thì bộ mặt của thế giới ngày nay có lẽ đã khác.

Hay đúng hơn,bàn cờ thế giới có lẽ vẫn thế,những vấn đề đặt ra cho các quốc gia ngày nay có lẽ vẫn thế,chỉ có điều là những quân cờ trên bàn cờ thế giới sẽ hoán đổi vị trí cho nhau.Phương Tây sẽ không phải là những người mang vốn liếng đi đầu tư ở nước ngoài, chuyển giao công nghệ ra nước ngoài mà ngược lại sẽ là người nhận đầu tư,nhận chuyển giao công nghệ.Người mang vốn liếng và công nghệ ra nước ngoài đầu tư và chuyển giao sẽ là Trung quốc và những nước Châu Á khác (trừ trường hợp Nhật bản đã đứng trong danh sách này).Người suốt 13 năm ròng thương thuyết để được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới cũng sẽ không phải là Trung quốc và người đặt điều kiện sẽ không phải là Mỹ mà ngược lại, v.v...

Tất nhiên, như một câu tục ngữ Pháp nói, với những chữ "nếu" người ta có thể cho cả Paris vào trong một cái lọ. Lịch sử là lịch sử. Thế nhưng nhìn lại lịch sử, đặt ra những giả thiết, thật ra cũng là để rút bài học cho ngày hôm nay và cả ngày mai.
Giữa thế kỷ 15, thiên niên kỷ thứ hai, khi nhà buôn,nhà hàng hải,nhà thám hiểm Trung quốc Trịnh Hòa cùng với đội tàu buôn của mình đặt chân đến cảng Aden ở Trung Đông, Trung quốc đã đi trước Châu Au hàng thế kỷ xét về mặt kỹ thuật,kinh tế,chính trị trong khi Châu Au vẫn đang chìm trong "đêm dài Trung cổ". Điều gì sẽ xảy ra nếu Trịnh Hòa tiếp tục giong thuyền vòng qua mũi Hảo vọng rồi tiến lên phía bắc, đến Châu Au ?
Tiếc thay,điều đó đã không xảy ra.Những cuộc tranh giành quyền lực phe phái trong triều đình nhà Minh đã dẫn đến hậu qủa là những chuyến đi biển như thế bị cấm và Trung quốc đóng cửa với giao thương bên ngoài.

Các nhà sử học vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân nào khiến phương Tây có thể bành trướng mạnh mẽ từ nửa sau của thiên niên kỷ này,nhưng hầu như mọi người đều nhất trí rằng chính sự co cụm, tự cô lập của Trung quốc từ giữa thế kỷ 15 trong khi Châu Au đang chuẩn bị cho những chuyến thám hiểm đầu tiên của mình đã là nhân tố chính làm nên diện mạo của thế giới ngày nay.

Học giả Wang Gungwu, Giám đốc Viện Đông Á ở Singapore, nguyên Phó Giám đốc Viện Đại học Hồng kông, trong một bài báo trên Tạp chí Kinh tế Viễn Đông cho rằng có một sợi dây gần như xuyên suốt toàn bộ thiên niên kỷ này ở Châu A, đó là cuộc đấu tranh dai dẳng giữa các nhà cai trị và tầng lớp thương nhân mà nhà cầm quyền luôn coi như là một thứ tai họa cần thiết,một thứ tai họa buộc phải chấp nhận.Chính vì thế mà họ luôn tìm cách hạn chế và kiểm soát việc buôn bán.Và sự thắng thế của chính trị đối với thương mại trong hầu hết thiên niên kỷ thứ hai ở Châu Á đã bóp nghẹt sự tăng trưởng kinh tế cũng như sự nở rộ của khoa học và văn hóa đi kèm theo nó.Thất bại của Trung quốc trong việc tiến vào kỷ nguyên công nghiệp
trước Châu Âu cũng bắt nguồn từ đó, mặc dù như đã nói ở trên, về nhiều mặt Trung quốc đã đi trước Châu Âu hàng thế kỷ.

Qủa thực, ngay từ thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên các dân tộc ven biển ở Nam và Tây Á (chủ yếu là Ấn Độ,Ba Tư và sau đó là các nhà nước Ả rập) trên đường đến các cảng Trung quốc, đã dẫn đầu trong buôn bán với lục địa Đông Nam Á và quần đảo Indonesia. Trên đường đi buôn bán của họ, họ đã để lại những tác phẩm vĩ đại từ bàn tay con người. Đó là những đền đài nổi tiếng như Borobudur (kiến trúc Ấn Độ,xây dựng từ thế kỷ thứ 9 trên đảo Java,Indonesia) và Angkor Wat (Campuchia) mà người ta coi là những thí dụ về ảnh hưởng của những thương nhân đi biển.Không những thế, các thương nhân còn mang theo mình những tư tưởng,những định chế ảnh hưởng lên đời sống tôn giáo,chính trị và nghệ thuật trong vùng mà họ đến buôn bán.Sự phát triển của thương mại tác động đến văn minh là thế.

Tuy nhiên, ở Châu Á thương mại qua đường biển phải vật lộn trong hàng thế kỷ với các nhà nước nông nghiệp vốn thích sự ổn định hơn là sự dịch chuyển và đặt ưu tiên cho việc bảo vệ đường biên giới trên bộ chống lại sự xâm lăng của bên ngoài. Cả Trung quốc và An Độ đếu thiết lập những hệ thống giá trị xem quyền lực chính trị là thống soái,xem nhẹ tầm quan trọng của biển và thương mại qua đường biển. Ở Trung quốc,thang giá trị đó là sĩ-nông-công-thương, ở An Độ thương nhân cũng bị coi là giai tầng hạ đẳng. Với thời gian, cả những nước láng giềng cũng bị ảnh hưởng bởi hệ thống giá trị này và những cảng thị phồn thịnh một thời nhờ buôn bán ở Java,ở ven biển miền trung Việt Nam và ở thung lũng Menam thuộc miền trung Thái Lan ngày nay cũng lây nhiễm những thành kiến tương tự.

Trong thế kỷ thứ 10, thương mại phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam Trung quốc như Quảng Đông, Phúc Kiến và Triết Giang , mở ra một kỷ nguyên hoạt động hàng hải tấp nập của người Trung quốc dựa trên những quan hệ chính thức với các vuơng quốc Champa, Khmer và các cảng thị ở Sumatra và bán đảo Malay. Với sự hỗ trợ trước hết là của triều đình Nam Tống (1127-1279) và sau đó là của các viên quan lại ở vùng Hoa Nam của đế quốc Nguyên Mông, người Trung quốc đã thiết lập được sự hiện diện thương mại mạnh mẽ tại các quốc gia ven biển ở phía Nam trước khi các nhà buôn phương Tây đặt chân đến đây vào thế kỷ thứ 16. Một thế kỷ trước khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến vùng này vào năm 1508, nhà Minh (1368-1644) đã chứng tỏ sức mạnh trên biển của họ bằng cách giao cho Trịnh Hòa cầm đầu bảy chuyến đi biển lớn trong khoảng thời gian từ 1405 đến 1435. Tuy vậy những chuyến thám hiểm ấy không phản ánh một sự thay đổi nào trong chính sách bóp nghẹt thương mại của nhà Minh. Ngược lại, chúng chỉ thể hiện ý muốn của triều đình nắm độc quyền ngoại thương và không muốn cho tư nhân nhúng tay vào. Chính sách ấy được nhà Minh duy trì trong gần 200 năm và mãi cho đến năm 1567 mới được nới lỏng phần nào khi, đứng trước tình hình buôn bán qua đường biển ngày càng tấp nập do người Bồ Đào Nha cầm đầu ở ngoài khơi bờ biển Trung quốc, triều đình buộc phải cho phép một số nhà buôn Trung hoa được ra nước ngoài buôn bán.
Trong vùng Đông Nam Á cũng vậy, mọi cố gắng nhằm xây dựng những vương quốc thương mại dù là của người Java, người Chăm, người Khmer, người Malay hay người Thái đều tỏ ra uổng công vô ích. Các nhà cai trị của họ luôn coi quyền lực chính trị mới là nguồn gốc mang lại sự giàu có do buôn bán chứ không bao giờ có chuyện ngược lại.

Trong khi đó, vào cuối thế kỷ 16,người Châu Au đã tăng cường sự có mặt trong vùng và họ chẳng những mang tới những con tàu mạnh hơn, những phương pháp hải chiến mới hơn mà còn mang tới những hệ thống chính trị mới ủng hộ tầng lớp thương nhân và cho phép họ có vai trò lớn hơn trong chính quyền. Đó là kết qủa của sự thay đổi căn bản trong mối quan hệ giữa thương mại và quyền lực đã khởi đầu từ giữa thiên niên kỷ thứ hai ở Châu Au mà nguồn gốc lâu đời phải lần ngược lên tới những đế quốc thương mại phồn thịnh một thời quanh Địa Trung Hải. Qua thế kỷ 18 –19 thì tư tưởng trọng thương đã biến đổi các chính quyền ở khắp Châu Au.Những thiết chế ra đời từ các tư tưởng đó đã tạo cơ sở cho sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc.

Và với việc Trịnh Hòa và những người như Trịnh Hòa, không chỉ ở Trung quốc mà cả ở những nước Châu Á khác, bị cấm đi biển, cấm giao thương với bên ngoài, thì khi những đạo quân phương Tây kéo tới họ nhanh chóng bị khuất phục là lẽ đương nhiên. Vẫn còn cho mình là trung tâm của vũ trụ, họ không biết được thế giới đã biến đổi đến mức nào, phương Tây đã có những bước tiến về mặt kỹ thuật ra sao. Ở Việt Nam, khi những con người lỗi lạc, có đầu óc thức thời, nhận ra được ưu thế kỹ thuật của phương Tây và muốn cải cách như Nguyễn Trường Tộ ở nửa sau thế kỷ 19 thì đất nước đã rơi vào tay thực dân Pháp; hoặc một nhà nho có đầu óc canh tân như Phạm Phú Thứ, đến khi cùng phái bộ Phan Thanh Giản qua Pháp và Tây Ban Nha điều đình và nhận ra các nước Châu Âu
"Cây hoa,sông núi qua song kính,
"Dây điện chạy ven lộ, phố, đài.
"Bát chính rõ ràng làm được tốt,
"Tứ đoan thâm thúy chẳng truyền hay.
"Phương Đông giá sớm thêm cơ xảo,
"Pha-lý,Long-đôn chửa hẳn tài."(*)
thì mọi sự cũng đã rồi.

Cho mãi đến thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ này,và có nước thì tận cuối thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ,lần đầu tiên trong lịch sử tầng lớp thương nhân mới có được vị trí xứng đáng ở các quốc gia và lãnh thổ Châu Á,điển hình là Nhật, Hồng Kông, Singapore, Đài .Vì thế mà họ giàu.

Bước vào thiên niên kỷ sắp tới, khi kinh tế và thương mại trở nên toàn cầu hóa, Châu Á - theo học giả Wang Gungwu - vẫn đứng trước những thách thức rất lớn,đồng thời cơ hội cũng rất lớn : hoặc là xem trọng những Trịnh Hòa của thời đại mới và đạt đến phồn vinh hơn hoặc là quay trở lại những giá trị cũ và tiếp tục thua kém tụt hậu trên bàn cờ thế giới.
__________________________________________
* Paris, London