Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

“Ăn coi nồi, ngồi coi hướng”


Tôi vẫn còn nhớ mãi một bức biếm họa đăng đầu những năm 1970 trên một tờ báo Pháp, nếu tôi nhớ không lầm là tờ Le Monde, vẽ triết gia Jean Paul Sartre một tay cầm cái tẩu hút thuốc đặc trưng của ông, tay kia cầm cuốn La Nausée (Buồn nôn) ném ra phía sau lưng, miệng tuyên bố (đại ý): Trước những đứa trẻ chết đói ở châu Phi, cuốn La Nausée chẳng có nghĩa lý gì! Hẳn chẳng phải vì bốc đồng mà ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh nói như vậy về một trong những tác phẩm then chốt của mình. Sống trong một xã hội gọi là xã hội tiêu thụ, chủ xướng một triết học đề cao tự do và từ đó trách nhiệm của con người với chính mình, ông cũng là người kêu gọi dấn thân cho xã hội vì tất cả chúng ta đều đã “xuống thuyền” (embarqué), ở trên cùng một con thuyền. Nói theo ngôn ngữ bây giờ, ông không phản đối “quyền được lấp lánh”, chẳng những thế còn đề cao tự do cá nhân, nhưng ông cũng kêu gọi ý thức xã hội, và cao hơn nữa là sự dấn thân cho xã hội. Đó không phải là sự phủ định quyền tự do cá nhân, không phải là đề cao thứ chủ nghĩa tập thể máy móc triệt tiêu mọi sắc thái và sáng tạo cá nhân mà chính là vì con người sống là sống trong xã hội, do đó hoàn toàn không thể không có trách nhiệm với xã hội. Trước những đứa trẻ chết đói ở châu Phi, Sartre vứt cuốn La Nausée là vì vậy, để dấn thân cho một xã hội. một thế giới tốt đẹp hơn.
Với những đứa trẻ đói ăn ở châu Phi xa lắc, người có ý thức xã hội còn thấy bứt rứt không yên, huống hồ với những người đồng bào còn nghèo khó trong cùng một đất nước. Tự do tiêu dùng, tự do “lấp lánh”, điều đó là bình thường trong một xã hội bình thường vốn bao giờ cũng đa dạng, đa sắc màu chứ không phải như trong một xã hội khép kín, “đồng phục hóa”. Tuy nhiên, bởi chúng ta sống là sống trong xã hội, chúng ta không thể không biết, và trong chừng mực nào đó không thể không có trách nhiệm với xã hội chung quanh. Cho nên, “lấp lánh” đến mức bất chấp xã hội chung quanh đang nghèo khó, thậm chí nghèo đói thì sự “lấp lánh” ấy chẳng khác nào một sự xúc phạm đối với những người chưa hoặc không có cơ hội (chứ chưa hẳn là không có khả năng) sống một cuộc sống xứng đáng hơn về vật chất và cả tinh thần. Hiện tượng một số người giàu tiêu xài xa hoa, khoe của, hợm hĩnh ở một đất nước mà tính theo thu nhập bình quân đầu người chỉ vừa mới bước qua khỏi ngưỡng nước nghèo đã làm dấy lên sự bức xúc, chỉ trích trong cộng đồng cũng bởi lý do đó. Bởi, đối lập với hiện tượng trên là thực trạng nhiều người vẫn đang phải vất vả kiếm ăn từng bữa, nhiều vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa  đang phơi bày sự khốn khó; xã hội đang đứng trước nhiều vấn nạn lớn chưa thấy lối ra như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông ách tắc, tình trạng quá tải như nêm cối ở các bệnh viện lớn, môi trường sống suy thoái, đạo đức xã hội xuống cấp…
Tôi không đồng ý đối lập nhân cách với hàng hóa như tiêu đề của cuộc thảo luận này (Hàng hóa hay nhân cách?), bởi nhân cách nào mà không cần tiêu dùng, tức cần hàng hóa? Và khi đã tiêu dùng, tất nhiên ai chẳng muốn hàng hóa mình xài ngày càng tốt hơn, đẹp hơn, nếu có khả năng mua? Vả chăng, hàng hóa không có tội, tội là ở cách sử dụng hàng hóa, sự hợm hĩnh trong cách sử dụng, làm như hàng hóa là tất cả. Và trách nhiệm với xã hội chung quanh đôi khi chỉ cần là đừng lăng mạ, đừng xúc phạm những người chưa có cơ hội như mình qua cách tiêu dùng lãng phí, phô trương, hợm hĩnh, khoe mẽ. Có người bảo nền kinh tế thị trường nước ta đang ở giai đoạn của chủ nghĩa tư bản hoang dã. Có thể, văn hóa tiêu dùng ở nước ta - với sự xuất hiện của những nhà giàu mới mà tài sản nhiều khi không đến từ phát triển công nghiệp hoặc công nghệ mà chủ yếu đến từ kinh doanh đất đai và những nguồn thu nhập bất minh khiến nhiều người chỉ qua một đêm đã trở thành tỉ tỉ phú - cũng đang ở giai đoạn tương tự như vậy. Điều đó giải thích vì sao không ít nhà giàu mới ở nước ta có cách xài tiền khiến ngay cả nhiều người sống ở các nước phát triển cũng phải kinh ngạc, và rất khác với cách tiêu tiền của những tỉ phú đôla như Bill Gates. Ở các nước phát triển, thứ văn hóa tiêu dùng kiểu “shop until you drop”, tiêu dùng bất chấp tất cả, từ lâu đã bị phê phán trong khi với không ít nhà giàu mới ở nước ta nó lại đang là mốt nhằm khoe của và cũng nhằm tạo cái “mác” để lòe đối tác trong làm ăn.
Thật ra, không cần nói đâu xa xôi, trong kho tàng văn hóa dân gian nước ta đã có sẵn những bài học về “văn hóa tiêu dùng” và cách hành xử phù hợp với những giá trị xã hội, giá trị cộng đồng. Nếu coi tục ngữ là túi khôn của cha ông để lại thì câu tục ngữ “ăn coi nồi, ngồi coi hướng” là một thí dụ về túi không đó. Trong câu tục ngữ ấy, không ai cấm ăn, cấm ngồi, không ai tước đoạt quyền được ăn, được ngồi của bất cứ ai. Người xưa chỉ khuyên phải “coi nồi, coi hướng” tức là phải biết nghĩ đến người khác, đến người chung bàn ăn, đến cộng đồng khi ta ăn, ta ngồi để có cách hành xử phù hợp với những giá trị được cả cộng đồng thừa nhận.
Cần tiêu dùng, nhưng tiêu dùng một cách có văn hóa. Cần hàng hóa, nhưng hàng hóa không phải là tất cả. “Lấp lánh” cứ việc, nhưng làm sao để nó đừng như một sự xúc phạm đối với không ít thân phận nghèo khó, cực nhọc còn đầy rẫy quanh ta, chưa nói đến việc chung tay giúp họ thoát ra khỏi thân phận ấy. 

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

“TẶC” NGÀY CÀNG NHIỀU!

Thủy hỏa đạo tặc. Đạo tặc là cụm từ đầu tiên trong đó có “tặc” mà ngày lớn lên, đi học, tôi cũng như nhiều người được biết tới. Đạo tặc - trộm cướp - được ông bà ta đặt ngang với lụt lội và hỏa hoạn, những mối họa lớn cho con người. Mặt khác, khi bàn về nguyên nhân của nạn đạo tặc, ông bà ta cũng có cái nhìn rất xã hội: bần cùng sinh đạo tặc, nghĩa là nghèo đói sinh ra trộm cướp.
          Lớn lên chút nữa, bắt đầu làm quen với sử sách, tôi được nghe tới hai từ dâm tặc. Dâm tặc gắn liền với hôn quân bạo chúa, với tham quan ô lại, với cường hào ác bá, với những giai đoạn hỗn quan hỗn quân, nhất là trong sử sách Trung Hoa. Những tên dâm tặc, những đôi gian phu dâm phụ nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa, hầu như ai cũng biết, đó là những Lao Ái - Triệu Cơ, những Tây Môn Khánh - Phan Kim Liên trong Thủy Hử và Kim Bình Mai. Truyện kiếm hiệp Kim Dung sau này cũng không thiếu những tên dâm tặc như Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo Giang hồ.
          Cùng với hai từ dâm tặc, tôi cũng bắt đầu biết đến từ hải tặc qua những truyện hoặc phim phiêu lưu mạo hiểm. Nói đến hải tặc, trí óc tôi bao giờ cũng hình dung ra những con tàu giương cờ đen vẽ đầu lâu và hai khúc xương trắng hếu bắt chéo nhau, những con tàu đi trong đêm bất ngờ cặp mạn những con tàu buôn và những tên cướp biển dữ dằn xông lên tàu cướp giết. Hai từ hải tặc cũng được nhắc đến qua tin tức thời sự nhưng không nhiều như bây giờ. Rồi cùng với hải tặc là không tặc, những tên cướp máy bay được biết đến qua phim ảnh cũng như tin tức thời sự nhưng khá hiếm hoi.
          Kho từ vựng liên quan đến “tặc” của tôi cách đây khoảng 30 - 40 năm chỉ có thế. Thế rồi bỗng dưng “tặc” xuất hiện ngày càng nhiều và trong đủ mọi lĩnh vực. Đầu tiên là lâm tặc kể từ khi nạn phá rừng rộ lên và kéo dài đến tận bây giờ, sau khi nước ta đã “cơ bản hoàn thành việc phá rừng” như dân gian nói đùa. Hết lâm tặc đến đinh tặc, một căn bệnh trầm kha mà cả nhà nước với bao nhiêu phương tiện trong tay lẫn cả xã hội dường như bó tay. Đến nay thì theo tin báo chí, đinh tặc không còn nhắm vào xe gắn máy mà cả xe hơi, không chỉ hoạt động ở ngoại thành mà còn tiến vào nội thành. Bọn người vô lương tâm không chỉ làm cho nạn nhân của chúng tốn tiền tốn của, bị chặt chém, mà có lúc còn khiến nạn nhân gặp tai nạn do bị xẹp lốp, mất tay lái.
          Vài ba chục năm nay thì kho từ vựng liên quan đến “tặc” đã phát triển không ngừng: từ “cát tặc” hay “sa tặc” – những kẻ khai thác trộm cát dưới sông, đến “quặng tặc”, “vàng tặc”, “than tặc” – những kẻ khai thác trộm khoáng sản, mỏ vàng, mỏ than, hay gần đây là “sưa tặc” – những kẻ cưa trộm cây sưa trên hè phố, tài sản chung của cộng đồng, để bán thu lợi riêng, “nghêu tặc” – những kẻ ăn cướp nghêu trong bãi nuôi của người khác như vụ hàng ngàn người tràn vào ăn cướp nghêu của một hợp tác xã nuôi nghêu ở Cà Mau mới đây, “cẩu tặc” – những kẻ chuyên môn rình mò ăn trộm chó từng dẫn đến những cái chết đau thương do người bị mất trộm chó không kìm nổi phẫn nộ ra tay bất chấp pháp luật. Thời công nghệ thông tin, máy tính ta lại có “tin tặc”, những kẻ đột nhập máy tính của người khác để ăn cắp thông tin hoặc để cài những phần mềm phá hoại.
Kho từ vựng chỉ những hành vi ăn cắp, ăn cướp cứ thế ngày càng nhiều lên theo thực tế cuộc sống xã hội, nhiều khi bất chấp những quy tắc hình thành từ ngữ mới, miễn sao thuận tiện, ngắn gọn để gọi một thực tế. Chẳng hạn, nếu lâm tặc. cát tặc, quặng tặc, sưa tặc, nghêu tặc dùng để chỉ những kẻ ăn cắp, ăn cướp gỗ rừng, cát sông, quặng mỏ. cây sưa, con nghêu… thì “đinh tặc” lại không phải là kẻ ăn cắp đinh mà là rải đinh cho người đi đường bị bể vỏ ruột xe để rồi buộc họ phải thay với giá cắt cổ. “Cẩu tặc” thì lại có nghĩa là kẻ trộm chó chứ không phải là kẻ chó má, đểu cáng như trước đó mọi người vẫn hiểu.
Tuy nhiên, có một số hành vi cũng thuộc loại ăn cắp, ăn cướp và cũng khá phổ biến hiện nay lại chưa có từ ngắn gọn để chỉ hoặc được chỉ bằng một từ nghe ra khá nhẹ nhàng. Chẳng hạn, ăn cắp văn chương, ý tưởng, luận văn của người khác vẫn được gọi là đạo văn chứ không phải là “văn tặc”; xài bằng giả, bằng dỏm cũng là hành vi ăn cắp cái không phải của mình nhưng chưa có từ ngắn gọn để gọi. Chẳng lẽ gọi đó là “bằng tặc”? Những kẻ lén lút xả thải chưa qua xử lý ra sông suối, phá hoại môi trường sống trong lành của người dân cũng là một dạng ăn cướp môi trường, nhưng chưa ai sáng tạo ra từ mới, ngắn gọn để gọi. Gọi là “môi tặc” thì nghe kỳ và dễ làm người nghe liên tưởng đến những màn gọi là “khóa môi” người đẹp mà một số báo mạng hay khoái trá đưa lên.
Song có một thứ “tặc” mới, có lẽ là “đỉnh cao” của mọi thứ “tặc”, mà các nhà sáng tạo ngôn ngữ dân gian đã kịp thời tìm ra từ ngắn gọn, thuận tiện để chỉ. Đó là từ “đức tặc” để chỉ những kẻ đạo đức giả, thối nát, vô liêm sỉ, vô đạo đức nhưng vẫn đeo bộ mặt đạo đức. Tuy hai từ “đức” và “tặc” đã từng hiện diện trong một câu nói của Khổng Tử: “Hương nguyện, đức chi tặc giả”, nhưng ghép hai từ này liền với nhau thành một danh từ để chỉ những kẻ giả hình, ăn cắp đạo đức, phá hoại lý tưởng như trong một bài viết của Bùi Văn Nam Sơn mới đây thì thực sự là một sáng tạo, dù không hoàn toàn mới.
Đến đây, một câu hỏi đặt ra: người ta nói ngôn ngữ phản ánh hiện thực, vậy trước sự phát triển tăng tốc của những từ liên quan đến “tặc” thời gian qua, chúng ta phải nghĩ gì về hiện thực cuộc sống hôm nay?

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Xã hội cần đối diện với sự thật

Vụ thảm sát tại tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang, trong đó hung thủ chưa đầy 18 tuổi giết hại một cách dã man ba người trong một gia đình, trong đó có một cháu bé mới 18 tháng tuổi, và chặt đứt bàn tay một cháu bé 8 tuổi là vụ giết người cướp của man rợ mới nhất trong hàng loạt vụ giết người ngày càng tăng nhanh về số vụ và về mức độ phi nhân tính. Người ta chưa kịp quên vụ Nguyễn Đức Nghĩa ở Hà Nội chặt người yêu thành nhiều khúc, vứt ở nhiều nơi để cướp tài sản thì lại choáng váng vì vụ giết người mới nhất này. Rồi trong khi vụ tiệm vàng ở Bắc Giang vẫn đang nóng thì người ta lại bàng hoàng được biết vụ một nhân viên bảo vệ nông trường ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị giết bằng một nhát dao đâm vào ngực và tám nhát vào lưng bởi ba hung thủ sống lang thang từ Bắc Ninh vào, trong đó có hai kẻ là cha con và người con chỉ mới 13 tuổi, nhằm cướp chiếc xe gắn máy và điện thoại di động của nạn nhân lúc đang ngủ.
            Trước những vụ việc như vậy, có họa là bịt mắt, bưng tai mới có thể cho rằng xã hội vẫn đang phát triển theo chiều hướng bình thường. Nếu là tội ác do những băng đảng gây ra, mà xã hội nào cũng có, thì là một lẽ. Đàng này, giải thích làm sao khi kẻ thủ ác ở đây lại là những con người hôm qua còn được hàng xóm láng giềng xem là những con người hoàn toàn bình thường, thậm chí hiền lành; là những thiếu niên còn chưa đến tuổi trưởng thành. Nếu cộng thêm vào đó những vụ đám đông ùa vào cướp của nạn nhân khi họ gặp tai nạn trên đường xảy ra liên tục gần đây, tất cả cho thấy xã hội quả đang có cái gì trục trặc, con người bình thường đang bị mất phương hướng, không biết noi theo cái gì trong cuộc sống ngoài việc thỏa mãn nhu cầu vật chất bằng mọi cách, kể cả những cách man rợ nhất mà lẽ ra những con người bình thường không thể, không dám thực hiện. Nó cho thấy trong một bộ phận nào đó của xã hội, từ trong thâm sâu, con người đang bị mục ruỗng. Và sự mục ruỗng đó, sự phi nhân tính đó có thể ngày càng lan ra nếu xã hội không thức tỉnh, không đối diện với sự thật và tìm phương cách cứu chữa, ngăn chặn, không để nó lan ra thêm nữa.
            Đó phải là một sự thức tỉnh trên bình diện xã hội chứ không chỉ ở bình diện cá nhân. Chúng ta đã nói quá nhiều về sự  “xuống cấp đạo đức” cá nhân và xã hội mà chưa chỉ ra được căn nguyên sâu xa của sự xuống cấp ấy là gì, nó nằm ở đâu và vì vậy mà chưa tìm ra phương cách khắc phục. Căn nguyên phải chăng nằm ở các thiết chế xã hội, bao gồm cả hội đoàn, nhà trường, gia đình,… dường như đang tỏ ra lạc hậu trước sự biến đổi của xã hội, và kém hiệu quả, nếu không nói là vô dụng trong việc ngăn chặn tội ác; ngay cả tôn giáo - vốn được xem như cái thắng (phanh) bên trong của con người trước cái ác - cũng tỏ ra bất lực trong việc giúp con người hướng thiện. Phải làm gì, tháo gỡ ở đâu để các thiết chế xã hội ấy lấy lại được sức mạnh của mình, thậm chí là không đánh mất chính mình và vai trò của mình, trong việc xây dựng lại nền tảng tinh thần của xã hội, để con người biết noi theo cái gì trong cuộc sống và biết dừng lại trước lằn ranh thiện – ác?
Đứng trước vụ bạo loạn, cướp phá mới đây ở Luân Đôn, mà về tính chất khác với những vụ giết người cướp của man rợ kể trên, Thủ tướng Anh David Cameron đã phải gọi đó là “tiếng kêu đánh thức nước Anh trước sự sụp đổ từ từ về đạo đức”. Và rằng “ những vấn đề xã hội tích tụ trong hàng thập kỷ đã bùng nổ trước mặt chúng ta”. Ông cũng hứa hẹn sẽ đề ra hàng loạt chính sách nhằm đảo ngược sự “sụp đổ đạo đức” ấy và cho rằng “trong khi người dân đòi hỏi phải đối đầu cương quyết với những kẻ phạm tội thì họ cũng muốn thấy các vấn đề xã hội phải được giải quyết, đẩy lùi”.
Xã hội chúng ta cũng đang cần đánh thức, cần đối diện với sự thật, xây dựng lại nền tảng tinh thần của xã hội để ngày mai tội ác man rợ không xảy ra bên nhà hàng xóm của mình, trong nhà người thân của, hay khủng khiếp hơn, ngay trong nhà mình. Đối diện với sự thật chính là vì tương lai của xã hội, dù vẫn biết trong xã hội người tốt bao giờ cũng nhiều hơn kẻ xấu.

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010

LÀM SÓI


Vì sao một bé gái 14 tuổi lại nghĩ đến việc tự đặt cho mình cái biệt danh dữ dằn: “ sói”, rồi cầm đầu một băng nhóm, đa số vẫn còn trong tuổi vị thành niên, chuyên thực hiện những hành vi tội ác mà trước nay chỉ những kẻ tội phạm già đời, chai sạn mới có gan thực hiện: bắt cóc, cướp của, hãm hiếp tập thể rồi quay phim nhằm khống chế, buộc nạn nhân bán thân để trở thành cỗ máy kiếm tiền cho cả bọn?
Khi tự đặt cho mình cái tên My “sói”, cô bé tuổi 14 đã nghĩ gì trong đầu?
Chúng ta không biết. Nhưng, bằng cách tự khoác lên mình cái lốt sói ở tuổi 14, có vẻ như cô bé đã tự xác định cho mình một cách thế tồn tại trong xã hội này: phải trở thành sói với kẻ khác. Cái biệt danh “sói” vang lên vừa như là cái nhìn, là sự tổng kết, đánh giá hoặc là sự phán xét của cô bé về xã hội, rằng: không làm gì có tình yêu, tình thương, không làm gì có chuyện “người yêu người, sống để yêu nhau” trong xã hội mà rất nhiều khi người ta đối xử với nhau như sói; vừa như một tuyên ngôn sống từ đó trở đi của cô bé: vậy thì, để tồn tại trong xã hội, ta - My “sói” cũng sẽ đối xử với mọi người như sói.
Cái nhìn của cô bé về xã hội khởi đầu từ gia đình. Chưa đầy một tuổi, cha mẹ ly dị, sống với ông bà đến 11 tuổi, ông bà theo nhau qua đời, chỗ nương tựa cuối cùng không còn, cô bé hoàn toàn bơ vơ. Đến sống với bố khi bố đã có gia đình riêng, rồi với mẹ khi mẹ đã ly dị đời chồng thứ hai, cô bé cũng không sống nổi. Tìm đâu ra tình yêu thương? Hẳn cô bé đã nhìn cuộc đời qua sự thiếu vắng tình yêu đó. Và thế là bắt đầu chuỗi ngày bỏ nhà đi hoang, kết bè kết nhóm và trượt dần vào con đường phạm tội.
Còn nhà trường, thầy cô? Chúng ta không có thông tin về những ngày My “sói” cắp sách đến trường cho đến lớp 7. Nhưng, với những gì chúng ta biết về nhà trường hiện nay, về cuộc sống đầy lo toan của thầy cô thì, dù có muốn, họ cũng chẳng thể nào có đủ tâm lực và thời gian làm tròn vai trò của những nhà giáo dục thực thụ, biết chăm lo cho sự trưởng thành nhân cách của từng đứa học trò chứ không chỉ là người truyền đạt như một cái máy một số kiến thức. Thật khó mà hình dung có bàn tay nào đó tận tụy, chịu thương chịu khó dìu dắt từng bước đi cho những học sinh “cá biệt” như My “sói”. Ngoài cuộc sống vật chất của gia đình phải lo, những thành tích thi đua phải đạt, việc bỏ công sức chăm lo cho sự trưởng thành nhân cách của những học sinh như My “sói” chưa chắc đã được ghi nhận như là một thành tích. Và, ở tuổi của mình, My “sói” chắc hẳn cũng đã nhìn xã hội qua nhà trường ấy, một nhà trường không dung nạp được cô bé.
Còn xã hội? Nếu có quan tâm đến những gì diễn ra trong xã hội, ở tuổi của mình, hẳn cô bé cũng sẽ không thiếu dịp để thất vọng trước không ít thực tế đi ngược với những gì người lớn tìm cách làm cho cô bé tin. Thực tế, cái xã hội gần gụi nhất mà cô bé tiếp xúc, gia nhập và nhanh chóng trở thành một trong những đầu đàn là những băng nhóm thanh thiếu niên kiếm sống, lừa đảo, phạm tội nơi các quán internet. Và thế là, để tồn tại trong môi trường ấy, My “sói” đã không ngần ngại trở thành sói với những cô bé cùng trang lứa. Hãy nghe My “sói” giải thích vì sao cô bé có thể, và phải, trở thành sói. Tại nhà tạm giữ Công an quận Đống Đa, Hà Nội, khi phóng viên báo Gia đình & Xã hội hỏi: "Cháu bé thế này thì làm sao để chỉ cần "hô" một câu là cả băng nhóm lao vào thi hành mệnh lệnh? Nhìn các bạn gái khác bị đánh đập, hãm hiếp, cháu có nghĩ đến một ngày nào đó sẽ có kẻ làm như vậy với cháu không?", My đáp: "Con sợ lắm chứ, nhưng phải giấu nỗi sợ vào trong để chẳng ai nhận ra. Có như thế thì bọn nó mới sợ mình cô ạ!". Và: “Con tự coi mình là đứa trẻ lạc loài. Phải bằng mọi cách để tự làm chủ đời mình, nhất thiết con phải "xù lông" lên thì mới tồn tại được…”
Con ngựa hoang chưa chịu vết thù nào trên lưng trừ vết thương tâm lý do gia đình bất hạnh, đã lạnh lùng gây những vết thù trên lưng những con ngựa khác. Không tin có tình yêu thương trong xã hội, không tin vào bất cứ thứ gì ngoài việc phải làm cho kẻ khác sợ mình để đạt được mục đích, cô bé “tuổi khăn quàng đỏ” - như ta thường nói - đã “giấu nỗi sợ vào trong”, “xù lông” lên làm sói để săn mồi và để những con sói khác không thể hại đến mình.
Câu hỏi đặt ra: với chiều hướng phát triển như hiện nay của xã hội, với khoảng cách quá lớn giữa lời nói và việc làm của người lớn (hãy nghĩ tới vụ Sầm Đức Xương và Nguyễn Trường Tô ở Hà Giang), với những cú sốc gia đình ngày càng tăng mà trẻ nhỏ phải hứng chịu, phải chăng chúng ta rồi sẽ còn phải chứng kiến sự xuất hiện của những con sói vị thành niên tiềm tàng khác?

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

HIỆN ĐẠI HÓA VÀ CÁI BẰNG DỎM


Là giám đốc sở, nếu ông không biết cái bằng tiến sĩ mà ông đã bỏ 17.000 đôla để mua từ cái công ty “Đại học Nam Thái Bình Dương” ấy là bằng dỏm thì điều ấy chứng tỏ ông rất thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, và như vậy liệu có xứng đáng làm giám đốc sở văn hóa ở đất nước đang muốn xây dựng “xã hội học tập” này?
          Là giám đốc sở, nếu ông biết đó là bằng dỏm mà vẫn mập mờ đánh lận con đen, báo với tổ chức như đó là bằng thiệt và dùng nó để thăng quan tiến chức thì ông đã gian dối với tổ chức và với mọi người, và càng không xứng làm giám đốc sở văn hóa ở đất nước ngàn năm văn hiến này.
          Là giám đốc sở văn hóa mà làm như ông, sao có thể trách học sinh cứ đến mùa thi lại chạy đến các “chợ phao”, sao có thể dẹp được các “chợ luận văn” phục vụ cho những kẻ muốn có bằng mà không muốn học?
          Và nếu không bị phát hiện, hẳn rồi ông cũng sẽ được mời, với tư cách tiến sĩ, tham gia hoặc đứng đầu hội đồng khoa học này, ủy ban thẩm định kia và đưa ra những lời vàng ngọc về đủ thứ giá trị, trong khi cái giá trị căn bản là sự trung thực, tấm bằng thiệt và tri thức thiệt thì ông không có.
          Đó là nói riêng về ông giám đốc sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Phú Thọ. Nhưng, như mọi người đều biết, sử dụng bằng cấp dỏm hoặc bằng thiệt mà học dỏm đâu chỉ có ông giám đốc sở VHTTDL ở Phú Thọ. Không ít quan chức ở nhiều địa phương khác cũng đã và đang bỏ tiền mua bằng cấp để có điều kiện tiến thân cao hơn hoặc ít nhất cũng để chứng tỏ “giá trị” của mình. Chính ông giám đốc này cho biết có một số cán bộ ở Hà Nội, Thái Nguyên cũng “học” để lấy bằng như ông.
Giải thích về hiện tượng hay vấn nạn này, nhiều người đã phân tích về tâm lý sính bằng cấp, sính ngoại của người Việt Nam; về nghịch lý bằng cấp và chức vụ (được “cơ cấu” trước, có chức trước rồi mới lo “chạy” bằng); về quy trình tuyển chọn, đề bạt quan chức . Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nó còn nói lên một cái gì đó sâu xa hơn vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội Việt Nam. Đó là, trong khi chúng ta hô hào hiện đại hóa thì cái tâm lý xã hội thâm căn cố đế của chúng ta, kể cả trong  bộ máy công quyền vẫn chuộng hình thức, hư học, hư danh hơn là thực chất, thực học; chuộng bằng cấp, dù là bằng cấp dỏm, hơn là tri thức thiệt, năng lực thiệt. Hà Nội chẳng đã từng dự định buộc 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ đó sao?
Nhưng làm sao có thể hiện đại hóa đất nước, hiện đại hóa xã hội bằng tri thức dỏm, bằng cấp dỏm, bằng những thứ hư danh? Có thể bỏ 17.000 đôla để mua cái bằng dỏm nhưng làm sao có thể bỏ tiền để mua tri thức thiệt nhằm hiện đại hóa đất nước nếu không đổ mồ hôi, sôi nước mắt học, học và học? Rồi đất nước sẽ đi về đâu, nền học thuật nước nhà sẽ đi về đâu nếu đất nước đầy rẫy những ông tiến sĩ có bằng dỏm hoặc bằng thật mà học dỏm? Hiện đại hóa chắc chắn là không, mà đất nước sẽ ngày càng đi đến chỗ lụn bại vì làm gì có tri thức thiệt, tầng lớp trí thức thiệt để tiến hành hiện đại hóa? Bởi hiện đại hóa, nhất là hiện đại hóa xã hội, là sự thay đổi từ bên trong, trên nền tảng tri thức tiếp thu được chứ làm gì có thứ hiện đại hóa vay mượn, càng không thể có thứ hiện đại hóa dựa trên tri thức dỏm, bằng cấp dỏm mua được bằng tiền.
Nền tảng tri thức của một đất nước, một xã hội như cái vốn để phát triển. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy nó còn quan trọng hơn tài nguyên và những nguồn lực vật chất khác. Nghĩ tới một ngày nào đó người chủ của đất nước này kiểm tra lại lưng vốn của mình nhằm chuẩn bị đầu tư lớn và nhận ra, thay vì những đồng tiền vàng lại chỉ là một mớ giấy lộn, lúc ấy chắc chỉ còn biết khóc ròng. Để không có cái ngày ấy, đã đến lúc xã hội chúng ta cần đoạn tuyệt với cái tâm lý chuộng hư danh, hình thức để theo đuổi những giá trị thực, bắt đầu bằng học thiệt, tri thức thiệt, bằng cấp thiệt.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

HAI HÌNH ẢNH, MỘT NGÀY

Buổi trưa, về nhà. Vừa đẩy chiếc xe gắn máy qua cửa tôi đã nghe tiếng cô người làm vừa nói chuyện với ai đó qua điện thoại vừa khóc tấm tức, giọng như sắp vỡ oà. Tôi không dám hỏi cô có chuyện gì, sợ làm cô đau thêm. Khi cô đã nguôi, hỏi ra mới biết, ở dưới quê, bên nhà chồng cô đang tìm cách chiếm đoạt miếng đất mà vợ chồng cô dành dụm bao năm trời mới có được và bây giờ, trên đó, có mộ chồng cô. Quê ở miền Tây, lấy chồng miền Đông, chồng chết vì tai nạn giao thông, chưa tới tuổi 30 mà một nách ba con, cô bị nhà chồng đuổi ra khỏi nhà (trước đó vợ chồng cô ở chung với bên nhà chồng). Lang thang kiếm sống khắp nơi, cuối cùng cô phải gửi một đứa con cho ngoại, một đứa gửi bà xơ, đứa út mới ba tuổi theo cô lên Sài Gòn ở chung với cô ở nhà tôi.
Vậy mà giờ chút của cải duy nhất còn lại là miếng đất nhỏ kề bên đất nhà chồng cũng toan bị chiếm đoạt. Tôi nghĩ Trời sao quá bất công, đời sao quá bất công và con người sao có thể ác với nhau như vậy, vì ba đứa con của cô cũng là máu mủ bên nhà chồng, đã không cưu mang giúp đỡ thì thôi, sao có thể làm ác như vậy?

Buổi chiều. Vì là một ngày nghỉ lễ cuối năm, tính mời một số bạn bè tới nhà chơi, tôi chạy xe gắn máy ra một cửa hàng thực phẩm mua ít đồ về lai rai. Mua xong, chạy xe được một đoạn, đồ đạc lỉnh kỉnh khiến tôi bị té, đồ đạc vừa mua văng xuống đường. Đang lồm cồm bò dậy dựng xe lên bỗng thấy trước mặt một cặp thanh niên nam nữ dừng xe lại. Trong khi chàng thanh niên còn đang dựng xe lên thì cô gái ngồi phía sau đã vội xuồng xe, chạy đến chỗ tôi, hỏi: “Có sao không chú?” và cúi xuống tính giúp tôi dựng xe lên. Tôi bảo “không sao” và cám ơn cô gái. Cô gái trẻ, mặt mày sáng sủa, ưa nhìn, mỉm cười rồi quay lại xe của cô. Chàng trai rồ ga, chạy tiếp. Tôi bỗng cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi xấu hổ. Chẳng là lâu nay, qua những gì tôi chứng kiến, qua thông tin hàng ngày trên báo chí, tôi vẫn nghĩ thanh niên bây giờ là “đồ bỏ đi” hết. Việc làm của chàng trai và cô gái đã làm cho tôi thấy mình nghĩ oan cho họ và thấy xấu hổ về ý nghĩ của chính mình.
Vậy đó, cùng trong một ngày, hai sự kiện, hai hình ảnh đến với tôi, cái đầu làm tôi thấy bầu trời chỉ một màu xám xịt, cái sau làm tôi thấy bầu trời bỗng sáng tươi. Cái nào đúng? Đâu là sự thật?

Cuối cùng thì tôi đi đến kết luận (chỉ cho riêng mình): cả hai đều đúng, cả hai đều thật. Chuyện anh em trong nhà vì tranh giành miếng đất mà từ nhau, giết nhau là chuyện có thật và có thể đọc thấy nhan nhản trên báo. Chuyện một cô bé giúp việc chưa qua tuổi thành niên giết người nhà của chủ nhà để cướp tiền, vàng và mới bị xử 18 năm cũng là chuyện có thật. Chuyện những trai thanh gái lịch vặt hoa, cướp hoa trong lễ hội hoa anh đào và lễ hội hoa Hà Nội năm kia cũng là chuyện có thật. Nhưng mà, chuyện đôi trai gái tôi gặp chiều nay khi tôi bị té xe cũng là chuyện có thật đấy thôi. Và nhiều chuyện khác nữa…

Có lẽ chúng ta đang sống trong một thời mà cái tốt, cái xấu đan xen nhau đến khó phân biệt rạch ròi. Và cái xấu nhiều khi dường như lấn lướt. Nhiều khi ta mất niềm tin, nhất là khi ta nhìn vào những người lẽ ra phải mang lại cho ta niềm tin hơn ai hết, những người có ảnh hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của xã hội, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần. Nhưng thôi, dù sao đôi trai gái kia cũng đã mang lại cho tôi chút niềm tin, niềm hy vọng. Tôi hy vọng, tôi tin, không, tôi muốn tin, rằng họ sẽ đi tiếp, mãi mãi, trên con đường thiên lương của họ. Nhưng ai biết được? Xã hội có giúp họ? Những người hơn ai hết lẽ ra phải mang lại niềm tin, có giúp họ?

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2009

CÓ PHẢI CHỈ LÀ BỆNH NGOÀI DA ?


Lại một lần nữa người ta nêu ra cái gọi là “văn hoá ứng xử” để giải thích cho chuyện chen lấn tại lễ hội hoa anh đào ở Hà Nội. Nhờ lực lượng 500 cảnh sát và nhân viên bảo vệ để bảo vệ cho 6 cây hoa anh đào mang từ Nhật sang trưng bày tại lễ hội, lần này may mà chỉ xảy ra chuyện chen lấn chứ không phải là một thảm họa văn hoá như ở lễ hội hoa anh đào năm ngoái hay lễ hội phố hoa bên hồ Hoàn kiếm Tết vừa rồi. Dù thế nào, những sự kiện trên đều bộc lộ một điều: sự xuống cấp ghê gớm về văn hóa và đạo đức của xã hội, một sự khủng hoảng về giá trị.
Người ta không còn biết ngượng với người khác và với chính mình. Người ta không còn sợ lương tâm cắn rứt mà chỉ sợ bị phạt (tiền hoặc tù) và nếu có thể tránh được phạt thì người ta tự do phá hoại cái mà người khác đã mất bao công sức để hoàn thành cho cộng đồng, trong đò có họ, hưởng. Một người có chút lương tâm, lương tri, một người biết xấu hổ trước một việc làm xấu, không ai cho phép mình làm thế. Nhưng vẫn có nhiều người thản nhiên làm được, và làm ngay ở mảnh đất gọi là “thủ đô xã hội chủ nghĩa” ( nhân tiện, thật ra cũng chẳng ai biết cái nội hàm của từ “xã hội chủ nghĩa” gắn với thành phố này, thành phố nọ là gì!).
Một khoảng trống khủng khiếp. Không chỉ là khoảng trống về văn hoá, về ý thức tôn trọng của công, về ý thức cộng đồng, mà hơn thế, một khoảng trống về giá trị.
Phải chăng “Thượng đế đã chết, tất cả đều được phép”?
Dostoievski, trong “Anh em nhà Karamazov” nói: Nếu Thượng đế không tồn tại, tất cả đều được phép. Còn Nietzsche, trong “Le Gai Savoir”, loan báo: Thượng đế đã chết và câu hỏi đặt ra là làm sao để con người không rơi vào chủ nghĩa hư vô. Cái khoảng trống về lương tâm và giá trị trong xã hội mà một số người, trẻ có già có, làm lộ ra qua việc phá phách phố hoa bên bờ hồ Hoàn kiếm ở Hà Nội khiến ta không khỏi liên tưởng đến câu của Dos (nhưng không có chữ nếu). Với những “nam thanh nữ tú” của “thủ đô xã hội chủ nghĩa” , có vẻ như “Thượng đế” - ở đây hiểu là những giá trị, những điều thiêng liêng, không nhất thiết có liên quan đến tôn giáo - không còn tồn tại. Những lý tưởng, những từ ngữ đẹp đẽ mà họ được nhồi cho từ trong nhà trường đến tổ chức đoàn hội, đến gia đình không còn tồn tại. Với họ, “Thượng đế” đã chết, “lý tưởng” đã chết, những điều cao siêu mỹ miều đã chết, và tất cả đều được phép. Được phép làm bất cứ điều gì mình thích, mình muốn, bất chấp tất cả. Đó phải chăng là chủ nghĩa hư vô khi mọi thứ được coi là giá trị đã sụp đổ?
Vì sao lại đến nông nỗi này?
Nói “văn hoá ứng xử” chỉ là nói chuyện bệnh ngoài da. Chuyện “tàn sát văn hoá” như đã xảy ra tại lễ hội hoa anh đào năm ngoái hay lễ hội phố hoa Hà Nội tết vừa rồi không chỉ là chuyện “văn hoá ứng xử”, bởi thiếu sót trong văn hoá ứng xử thường được hiểu là những thiếu sót nhỏ nhặt do thiếu hiểu biết, do vụng về hoặc do thô lỗ. Chuyện “tàn sát văn hoá” như đã xảy ra tại hai lễ hội trên bởi những “trai thanh gái lịch đất Tràng An” và cả một vài gương mặt xem ra rất đáng kính nói lên một điều gì đó sâu xa hơn: đó là sự thất bại thảm hại của nền giáo dục, là tính hai mặt trong đời sống xã hội.
Nền giáo dục thất bại vì nó không tạo ra được những con người có nhân cách trước khi nói đến chuyện trang bị kỹ năng. Giáo dục trước hết là dạy làm người, là giáo dục cách sống cho ra con người trước khi giáo dục kỹ năng, nhưng với nền giáo dục hiện nay, ngoài việc nhồi nhét những kiến thức chính trị và những giáo điều mà ngay cả những người rao giảng cũng không mấy người tin và làm theo, ngoài việc trang bị một số kỹ năng chuyên môn, việc dạy học sinh làm người với những phẩm chất phổ biến của một con người xem ra chẳng có là bao. Mặt khác, những gì được xem như là đạo đức, là tốt đẹp mà nhà trường rao dạy lại thường xuyên bị thực tế ngoài đời phủ nhận, người ta nói một đàng làm một nẻo, người ta rao giảng những điều cao đẹp mà trong thực tế người ta xổ toẹt. Thực tế đó khiến cho người trẻ không còn biết tin vào đâu trước tính hai mặt trong xã hội. Khủng hoảng giá trị, khủng hoảng niềm tin bắt đầu từ đó.
Và thế là, cướp hoa được cứ cướp, vặt hoa được cứ vặt, như ta đã thấy. Và đó không chỉ là chuyện “văn hóa ứng xử”. Nói “văn hóa ứng xử” chỉ là nói chuyện bệnh ngoài da.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008

“Hãy cố yêu người mà sống”!


Đôi khi, trong đời, ta phải bám víu vào cái gì đó để tin, để sống. Đôi khi ta vẫn thường lặp đi lặp lại trong trí câu hát ấy của Vũ Thành An để tự nhủ mình rằng đời dù sao vẫn còn nhiều người tốt, đời vẫn còn rất nhiều điểm sáng.
Ta đâu hay, ở một nơi nào đó một bà bí thư thứ nhất đại sứ quán lại bị quay phim đang tham gia buôn lậu sừng tê giác, sau khi một tuỳ viên và một tham tán thương mại cũng ở sứ quán ấy đã bị cáo buộc có liên quan đế đường dây buôn lậu này. Là cán bộ ngoại giao, hơn bất cứ người dân thường nào, họ biết cần phải bảo vệ danh dự quốc gia, nếu không làm gì được để tăng uy tín đất nước thì cũng đừng làm gì để hình ảnh đất nước bị hoen ố; biết đất nước mình đã ký công ước quốc tế CITES về bảo vệ động vật hoang dã; biết sức mạnh của phong trào bảo vệ môi trường ở các quốc gia phát triển, vậy mà vì tiền họ vẫn không do dự làm nhục quốc thể.
Ta đâu hay, một phó giám đốc sở bị cáo buộc nhận hối lộ hàng triệu đô la để tạo điều kiện cho một công ty nước ngoài trúng thầu môt loạt hợp đồng tư vấn trong các dự án vay vốn ODA. Nếu không bị lộ, hẳn là con đường hoạn lộ của ông vẫn thênh thang trong khi túi riêng vẫn nặng mà lại vẫn có thể đường hoàng rao giảng cho cấp dưới về đạo đức, về chống tham nhũng.
Mà cả hai trường hợp kể trên lại đều không phải do các cơ quan chống tham nhũng, buôn lậu trong nhà phát hiện mà do người ngoài phát hiện “giùm”!
Còn điều này thì ta hay nhưng đành bó tay: Mỗi ngày hàng triệu người dân thành phố này phải đổ ra đường để đến sở làm trong trạng thái mệt nhoài vì phải chen lấn do những lô cốt choán gần hết mặt đường ở hàng loạt con đường, từ tháng này qua tháng khác; chiều lại, lại tiếp tục chen lấn nhau trong khói bụi hoặc dưới mưa qua những đoạn đường khổ ải để về đến nhà trong trạng thái bơ phờ và căng thẳng. Báo chí có nói, dư luận có kêu thì cũng chỉ như nước đổ lá môn, dường như chẳng ai nghe thấy hoặc có nghe cũng thây kệ. Trong khi đó, một ông lãnh đạo một thành phố lớn khác để vài chục người dân phải thiệt mạng vì lụt lội, lại đổ cho dân “ỷ lại” (dù sau đó ông đã được tạo điều kiện để xin lỗi, trong khi có người lỡ lời còn không có được cái đặc ân này).
Sự kiên nhẫn, sức chịu đựng và lòng tin của những con người phải một mình vật lộn với thiên tai cũng như của những con người ngày ngày bị hành hạ trên những con đường khổ ải như vậy hẳn phải bị bào mòn đi rất nhiều.
Còn trong xã hội, bao cảnh anh em chém nhau vì đất, hay nói như một nhà báo kiêm nhà văn rằng “đất lên, tình người xuống”; cháu giết bà, con đánh mẹ vì tiền; nhà giáo “chống tiêu cực” thì bị nhân viên cùng trường đang đêm tới nhà chửi bới, hành hung. Đến người trồng trọt một nắng hai sương vốn xưa nay chất phác là thế, nay cũng dám trồng thứ rau mà mình thì không dám ăn, trồng chỉ để bán cho người khác ăn…
Đôi khi ta phải tự hỏi mình có bi quan quá không? Cái nhìn có đen tối quá không? Nhưng những điều liệt kê, còn xa mới đầy đủ, ở trên đều có thực cả đấy chứ? Mà nào phải những sự thực xa xăm, lâu lắc gì! Chúng xuất hiện từ khá lâu rồi và vẫn còn lặp đi lặp lại, dưới hình thức này hay hình thức khác.
Nhưng ta lại tự bảo mình: Hãy nhìn xung quanh mình xem, vẫn còn khối người tốt đấy chứ. Bạn bè mình, đồng nghiệp mình: anh A, anh B, cô C... vẫn tốt đấy chứ; thầy cô cũ của mình vẫn là những con người đáng kính; cả sếp của mình, ông D, bà H... cũng là những người tốt đấy chứ! Và cả những người không quen biết, chỉ gặp thoáng qua, có biết bao nhiêu người tử tế, cho mình cảm giác tin cậy! Phải, có không ít những con người như vậy xung quanh ta, và đó cũng là sự thực, nhưng sao điều đó vẫn không đủ sức xua tan cái cảm giác âu lo, bực bội, thiếu tin tưởng trong xã hội mà chỉ ai cố tình bịt mắt mới không nhìn thấy.
Vậy làm gì bây giờ? “Hãy cố yêu người mà sống” - ta vẫn thường mượn câu hát trên trong “Bài không tên số 5” của Vũ Thành An để tự nhủ đi nhủ lại với mình, như một sự bấu víu, rằng đời vẫn còn nhiều người tốt, còn nhiều điểm sáng. “Hãy cố yêu người mà sống” dù đời có qua lâu hay qua mau, bởi không yêu người, yêu đời nữa thì còn có lý do gì để sống? Biết thế, nhưng rồi mình lại phải tự “phản biện” với chính mình: Cố yêu người thì được rồi, dù người không phải lúc cũng dễ yêu, như khi ta bị một kẻ chạy xe ấu đâm ta té nhào rồi lại còn phải nghe một câu chửi thề ném lại phía sau: “Đồ mắc dịch!”, hay như khi ta cảm thấy bị phản bội.
Yêu người thì được, nhưng còn những gì đã đưa đẩy con người vào chỗ “khó yêu” đến thế - không chỉ là chuyện nhỏ nhặt đâm xe rồi buông một câu chửi rủa - liệu có yêu nổi không, có tiếp tục yêu được không?

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2008

CẦN NHÀ NƯỚC MẠNH LẪN XÃ HỘI DÂN SỰ MẠNH


Để bảo vệ môi trường sống của cộng đồng cho cả hôm nay và mai sau trước những hành vi hủy hoại môi trường kiểu Vedan, Hyundai-Vinashin và cả những doanh nghiệp chưa bị phát hiện; để bảo vệ người tiêu dùng trước những mánh khóe gian lận thương mại kiểu như những cây xăng sử dụng công nghệ để móc túi người tiêu dùng và những công ty dù biết sản phẩm mình đang bán là độc hại vẫn tìm cách tuồn ra thị trường, cần cả hai cái trên - một nhà nước mạnh lẫn một xã hội dân sự (xã hội công dân) mạnh.
Một nhà nước mạnh là một nhà nước mà công chức - những công bộc của dân - có ý thức, biết và dám chủ động bảo vệ luật pháp, đặt lợi ích của cộng đồng, của xã hội lên trên hết. Nói có ý thức là bởi những vụ vi phạm về môi trường kéo dài và chỉ được vạch trần gần đây cũng như những vụ xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng kéo dài dường như cho thấy ý thức nói trên đang rất thiếu vắng. Nói biết là bởi, trong nhiều trường hợp, công chức có trách nhiệm cần phải cân phân giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích của số ít người và lợi ích của số đông. Nói dám là bởi trong không ít trường hợp, trong thực tế, người công chức làm đúng theo chức trách và lương tâm chưa chắc được tưởng thưởng mà lắm khi ngược lại, còn người nhắm mắt cho qua đôi khi lại thu được lợi từ những kẻ cố tình vi phạm pháp luật. Một nhà nước mạnh không cho phép công chức của mình, khi sự việc vỡ lở, có thể trốn chạy trách nhiệm bằng cách đổ thừa cho thiếu năng lực, bởi cho đến khi sự việc vỡ lở anh ta vẫn tự cho rằng mình có năng lực đảm đương nhiệm vụ, bằng không đã phải xin từ chức. Nếu không phải do năng lực mà do bị ngáng trở trong việc thực hiện nhiệm vụ, anh ta phải biết kiến nghị lên cấp trên giải quyết, nếu không được giải quyết thì vì ý thức trách nhiệm trước người dân, trước pháp luật và vì lòng tự trọng do không hoàn thành nhiệm vụ, ít nhất anh ta phải có năng lực xin từ chức. Tiếc thay, điều này còn hiếm trong bộ máy nhà nước của ta.
Tuy nhiên, cho dù bộ máy nhà nước có mạnh đến đâu vẫn không thể thay thế được những sáng kiến và hành động chủ động của các công dân, của xã hội dân sự trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Bởi hơn ai hết, là người dân bình thường, là người tiêu dùng bình thường, họ là người đầu tiên phải hứng chịu tác hại của việc hủy hoại môi trường hoặc của những hành vi, mánh khóe gian lận thương mại. Thực tế, dù thừa nhận hay không thừa nhận, trong xã hội đã hình thành những nhóm lợi ích khác nhau và những công bộc của dân, ngay cả trong trường hợp không bị một bên có thế và lực nhiều hơn chi phối hoặc mua chuộc, có lúc cũng không biết cân phân đâu là lợi ích lớn hơn của xã hội, đâu là lợi ích của chỉ một nhóm. Do vậy, thiết chế chính trị, luật pháp rất cần trao cho các hiệp hội, các nhóm … của xã hội dân sự quyền được chủ động có sáng kiến, kể cả sáng kiến lập pháp, và hành động, kể cả hành động pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu không, có nguy cơ bộ máy nhà nước, các công bộc của dân chỉ nghe thấy tiếng nói của một bên, của những nhóm lợi ích mạnh hơn, có thế và lực hơn.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007

Dân trí… không từ trên trời rơi xuống !

Ngã tư, đèn đỏ, giờ tan tầm, xe cộ bốn bề đều kẹt cứng. Mấy thanh niên đi xe gắn máy, tướng tá có vẻ là dân văn phòng, có học, vẫn tỉnh bơ lấn trái lên cho sát ngã tư, làm xe ở đường bên kia không cách nào quẹo qua được. Thế là kẹt càng thêm kẹt. Nếu tuân thủ luật đi đường, nếu chịu nhường nhau một chút, hẳn mọi người đã có thể đi nhanh hơn. Biết vậy, nhưng… Hẳn không ít lần bạn đã chứng kiến cảnh đó và buột miệng: dân trí gì mà thấp kém! Hoặc đi trên đường, không ít lần bạn chứng kiến người ta vứt xác chuột chết ra đường hoặc quét tấp rác, đổ đồ ăn dư thừa xuống miệng hố ga, làm cống bị nghẹt. Bạn lầm bầm: dân trí ở đâu nhỉ? Đi mua vé tàu xe, bạn đang xếp hàng chờ tới lượt mình, bỗng mấy cô ả từ đâu sấn tới, chen lên đầu, giành quyền mua vé của mấy người sắp đến lượt ở hàng đầu, và điều đáng nói là mấy nhân viên bán vé vẫn tỉnh bơ bán cho những người mới đến giành chỗ này. Có người đứng trong hàng phản đối; có người, nhìn vẻ bặm trợn của mấy cô ả, không dám hé môi. Còn bạn lại lầm bầm, bực tức: đúng là dân trí thấp kém!
Có thể kể ra vô số trường hợp như vậy. Và bạn nghĩ không sai: dân trí của không ít người Việt mình kém thật. Người Việt mình bây giờ đi ra nước ngoài du lịch hay làm ăn cũng nhiều, hẳn đều có thể thấy ở nhiều nơi người ta tự động xếp hàng, không ai đến sau mà tự tiện chen lên trước nếu không muốn bị nhìn như con quái vật; đến ngã tư đường gặp đèn đỏ, dù đường giao cắt chẳng có chiếc xe nào chạy và tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng một anh cảnh sát, người lái xe cũng tự động dừng xe chờ đèn xanh; thậm chí vào nhà hàng, người ta cũng phải chờ người phục vụ chỉ định bàn tùy theo số khách mới vào nhiều hay ít chứ không phải thích sà vào bàn nào là sà vào, một mình chiếm cả cái bàn dành cho 5-6 người. Và trong môi trường đó dường như đa số người Việt mình đi nước ngoài cũng tỏ ra lịch sự hơn, biết tuân thủ các quy ước xã hội hơn. Thế nhưng ở trong nước lại khác. Vì sao như vậy? Sống trong một môi trường mà chẳng ai thèm đếm xỉa gì đến cái chung, chẳng ai thèm nhường nhịn ai, chẳng ai buồn tuân thủ các quy ước xã hội, lỡ phạm luật có bị bắt thì đã có cách “chạy”, người ta như bị cuốn phăng đi. Và giả như bạn muốn tuân thủ pháp luật và những quy ước xã hội tốt đẹp, muốn sống đúng theo điều bạn nghĩ, hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận cái nhìn của không ít người coi bạn như một kẻ dở hơi. Đó là một thực tế chúng ta đụng chạm hàng ngày khi đi ra đường, khi vào tiệm ăn, khi xếp hàng mua vé hoặc làm giấy tờ…
Từ thực tế đó, trong không ít phát biểu của các quan chức, trong nhiều bài báo của phóng viên, khi đế cập đến những hiện tượng kém văn minh của người dân mình, thường kết luận bằng một cụm từ gỏn lọn: kém dân trí. Ít ai chịu khó đặt tiếp vấn đề: Dân trí từ đâu ra ? Dân trí kém do đâu ?
Qủa vậy, dân trí không từ trên trời rơi xuống. Dân trí một nước là kết qủa của một quá trình hun đúc, bồi đắp lâu dài thông qua ít nhất ba con đường: giáo dục; sự thi hành luật pháp nghiêm minh, nhất quán; và sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh của xã hội dân sự. Ở ta, cả ba con đường này đều có vấn đề, đều khiếm khuyết không nhiều thì ít.
Nền giáo dục ở ta từ mấy chục năm qua, ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, chỉ tập trung giáo dục lý tưởng chính trị và đạo đức cách mạng vốn cần thiết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, mà ít chú ý giáo dục đạo làm người và tinh thần công dân cần thiết cho việc xây dựng xã hội trong thời bình, nhất là một xã hội đang muốn vươn đến chỗ là một xã hội văn minh, hiện đại. Những đức tính như lòng trung thực, lương tâm chức nghiệp, ý thức tôn trọng của công, tôn trọng những quy ước của một xã hội văn minh không được coi trọng. Từ một xã hội bao cấp thiếu thốn đủ bề chuyển qua nền kinh tế thị trường còn đậm nét sơ khai, nhiều chuẩn mực và giá trị cũ đổ vỡ trong khi những chuẩn mực và giá trị mới phù hợp với giai đoạn mới, yêu cầu mới lại không được kịp thời xây dựng, con người như sống trong thời hoang sơ, chỉ biết làm sao thỏa mãn nhu cầu của riêng mình, bất chấp nó có ảnh hưởng gì đến xã hội, đến cái chung hay không. Việc giành đường, cướp đường nói lên rất rõ điều này, trong khi việc thi công cầu đường kém chất lượng do rút ruột công trình, làm dối, làm ẩu nói lên rất rõ sự thiếu vắng lương tâm chức nghiệp và tính trung thực của công dân trong một xã hội văn minh.
Trong khi đó, việc thi hành nghiêm minh luật pháp, một yếu tố mang tính cưỡng chế (đối với thiểu số công dân kém ý thức) nhưng có tác dụng góp phần hình thành dân trí, lại cũng có vấn đề. Luật pháp ở ta chưa đảm bảo cho người chấp hành luật nghiêm túc được bảo vệ, được an toàn, nói chi đến được tưởng thưởng; trong khi đó những người vi phạm luật, lách luật nhiều khi chẳng những không bị trừng phạt mà còn thu được lợi ích từ việc vi phạm hoặc lách luật đó. Tình trạng ấy, cọng với tình trạng ăn hối lộ để cho một số người qua mặt luật pháp đã vô hiệu hóa mọi ý đồ hoặc nỗ lực sử dụng luật pháp như một công cụ nâng cao dân trí. Từ đó dẫn đến tình trạng xem thường pháp luật tràn lan, rõ nhất là trong lĩnh vực giao thông.
Cuối cùng, bổ sung cho hai con đường nâng cao dân trí kể trên, nhưng không kém phần quan trọng, là hoạt động của xã hội dân sự. Đứng trước những thách thức mới hay những nhu cầu mới đặt ra cho xã hội, thường bao giờ từ trong cộng đồng cũng xuất hiện những tập hợp tự nguyện của những công dân vì lợi ích chung của cộng đồng mà đứng ra phản ứng trước những thách thức đó hoặc đáp ứng những nhu cầu chung đó rồi bằng chính hoạt động của họ, thuyết phục, vận động mọi công dân khác cùng làm theo. Nhà nước dù mạnh đến đâu, luật pháp dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề đặt ra cho xã hội. Xã hội dân sự, với các tổ chức, hội đoàn đủ loại, hoạt động độc lập với nhà nước nhưng lại đóng vai trò bổ trợ cực kỳ hữu ích cho sự khiếm khuyết của nhà nước và luật pháp trong việc đảm bảo sự vận hành tốt đẹp của xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với chế độ bao cấp (trong đó nhà nước được xem và được trông đợi là người cung cấp tất cả) kéo dài và với sự nghi kỵ chưa phải đã hết đối với tất cả những gì không được “đóng dấu” nhà nước, xã hội dân sự đã bị teo tóp đi, sáng kiến công dân không còn chỗ đứng.
Trong bối cảnh như vậy, trước những vấn nạn như vấn nạn trật tự giao thông, khi nhà nước tỏ ra bất lực, còn các hội đoàn chính thống thì thụ động vì bị hành chính hóa, giáo dục thì không thực sự sản sinh ra được những công dân trưởng thành, có đầy đủ ý thức công dân… xã hội dân sự cũng chẳng đóng góp được gì trong việc “nâng cao dân trí” vì từ lâu đã bị nghi kỵ, không được khuyến khích. Lấy vụ việc nóng hổi vừa mới xảy ra là vụ em Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ một quán phở ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội hành hạ như một nô lệ trong suốt 13 năm làm thí dụ, ta thấy cả luật pháp, cả hệ thống chính trị từ tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Đội Thiếu niên Tiền phong đến công an phường, cảnh sát khu vực, tổ dân phố… đều đã chẳng làm gì để bảo vệ và giải cứu em Bình. Họ còn không biết có vụ việc như vậy thì em và những người như em còn biết kêu vào đâu, trông đợi vào đâu. Em Bình đã được giải cứu chỉ nhờ vào lòng trắc ẩn và can đảm của một người phụ nữ đã 70 tuổi. Nếu xã hội dân sự phát triển , nếu có nhiều những con người tốt bụng như bà Hà Thị Bình trong những tập hợp công dân tự nguyện vì xã hội thì không ít trường hợp tương tự trường hợp em Bình có thể được ngăn chặn từ sớm. Nhiều quy ước, tập quán xã hội tốt cũng có thể nhờ những tập hợp tự nguyện đó mà hình thành.
Do vậy, muốn dân trí được nâng cao, ngoài vai trò của giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu mới của xã hội, ngoài sự nghiêm minh và không thiên vị của pháp luật, phải có chỗ cho sáng kiến công dân, có chỗ cho trí tuệ và năng lực của dân được tự do hoạt động. Mỗi khi than phiền về dân trí, xin hãy chịu khó suy nghĩ thêm một chút.

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

VỐN XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM, NHÌN TỪ THỰC TẾ HÔM NAY

Lại một bài báo cũ từ tháng 6/2006 của tôi. Đây là bài ghi nhận từ cuộc hội thảo “Vốn xã hội trong phát triển” do Tạp chí Tia Sáng tổ chức ngày 24-6 -2006 tại Hà Nội. Hội thảo đã không tốn nhiều thì giờ cho các vấn đề lý thuyết, đi từ cách hiểu của R. Putnam, F. Fukuyama đến J. Coleman, C. Bourdieu hay xa hơn như L.J. Hanifan - dù vốn xã hội là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. Những bức xúc nóng bỏng từ thực tế đã “đổ bộ” vào hội thảo.

Một cách khái quát, vốn xã hội nhằm chỉ những mối liên kết, những “mạng lưới xã hội” hình thành trên cơ sở lòng tin hay sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên của “mạng lưới”, của cộng đồng vốn cùng nhau chấp nhận những quy tắc, những chuẩn mực xã hội chung. Những mối liên kết ấy, sự tin cậy lẫn nhau ấy, những chuẩn mực cùng được chấp nhận ấy có thể giúp làm giảm các chi phí giao dịch giữa các thực thể trong xã hội, làm tăng hiệu quả của các hoạt động xã hội bằng cách thúc đẩy sự hợp tác, và tăng hiệu quả của các thiết chế xã hội mà không cần đến sự can thiệp của luật pháp. Tạm đồng ý với nhau về cách hiểu vốn xã hội như vậy, những người tham dự hội thảo đã tập trung phân tích về thực trạng của vốn xã hội ở Việt Nam và giải pháp để phát triển nguồn vốn này.

Nghịch lý: kinh tế tăng trưởng, vốn xã hội suy giảm

Không gửi tham luận trước mà phát biểu trực tiếp tại hội thảo, Giáo sư Hoàng Tụy cho rằng vốn xã hội phát triển hay không phụ thuộc vào hai yếu tố: kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội và thể chế chính trị. Theo ông, về hạ tầng tâm lý xã hội, đã đến lúc nói đến những nhược điểm, những khuyết tật trong tâm lý xã hội của dân tộc. Nổi cộm nhất hiện nay trong hạ tầng tâm lý xã hội, theo ông, là sự gian dối, không chỉ trong thi cử hay các vụ tham nhũng mà còn ở những cái lớn hơn, như nói trị tham nhũng không trừ ai nhưng việc xử lý những vụ tham nhũng gần đây chưa chứng tỏ được điều ấy. Một khuyết nhược khác trong hạ tầng tâm lý xã hội của dân tộc là sự thiếu óc tưởng tượng, óc sáng tạo, ngay từ trong giáo dục. Về thể chế chính trị, ông cho rằng đang có những “lỗi hệ thống” và cơ chế lựa chọn lãnh đạo đang có những bất cập. Muốn phát triển vốn xã hội của Việt Nam cần sửa đổi những yếu tố trên.
Tiếp nối ý tưởng trên, GS Nguyễn Văn Chiển cho rằng ở Việt Nam đang thiếu cơ chế để người dân có thể vạch trần sự gian dối. Ông cũng cho rằng có nhiều thứ đang mai một trong vốn xã hội của Việt Nam như truyền thống đoàn kết đang suy yếu, thay vào đó là sự tranh giành quyền lợi.
Diễn giả Nguyễn Trung cho rằng trong khi đời sống vật chất được cải thiện thì vốn xã hội lại đang sút giảm nghiêm trọng và so với thế giới, đặt trong bối cảnh cạnh tranh, vốn xã hội của ta đang rất thấp. Ông nói ông không hình dung được vốn xã hội, đạo đức xã hội xuống cấp như thế này thì làm sao Việt Nam có thể trở thành một xã hội công nghiệp hiện đại, một quốc gia công nghiệp vào năm 2020?
Ngược dòng thời gian, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, trong tham luận của mình, phân tích: từ sau năm 1953, chính sách đại đoàn kết dân tộc bị thay thế bằng một loạt chính sách rất xa lạ với truyền thống của dân tộc (thay đại đoàn kết dân tộc bằng đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất với đấu tố, xử lý oan sai hàng loạt cán bộ, sử dụng nhục hình, kích động con tố cha, vợ tố chồng…) đã phá hoại nặng nề vốn xã hội ở nông thôn và để lại những di chứng lâu dài. Cải tạo xã hội chủ nghiã ở thành phố cũng gây ra tác hại tương tự về vốn xã hội trong quan hệ giữa người và người, sự tàn phá vốn văn hoá, vốn đạo đức cũng cực kỳ nghiêm trọng và để lại những hệ qủa lâu dài. Việc áp dụng triệt để quan niệm thành phần chủ nghiã trong chính sách cán bộ đã bóp méo nghiêm trọng vốn xã hội truyền thống tốt đẹp của dân tộc và gây ra rất nhiều tác động tiêu cực nhiều mặt đối với xã hội. Con người không còn được quyết định bởi năng lực và đóng góp của bản thân mình mà bởi “thành phần” của cha mẹ, ông bà để lại. Theo ông, trong quá trình đổi mới, một số những cách làm quá thô bạo và phi lý đã được lặng lẽ điều chỉnh nhưng chưa bao giờ được chính thức thừa nhận là sai. Song chừng nào việc quyết định cán bộ còn thiếu công khai minh bạch, được quyết định bởi những yếu tố không liên quan gì đến năng lực, phẩm chất thì vốn con người và vốn xã hội vẫn còn bị hạn chế và bị bóp méo.
Diễn giả Trần Hữu Quang phân tích thêm: chính não trạng coi trọng chính trị hơn đạo đức trong bối cảnh các thiết chế xã hội bị nhà nước hoá, chính trị hoá đã khiến cho người ta có xu hướng quan tâm tới mục đích hơn là phương tiện, coi trọng thành tích hơn là nỗ lực, phương pháp và con đường đạt tới mục tiêu - từ đó dẫn tới một thứ tâm lý thực dụng hiểu theo nghiã tiêu cực trong xã hội. Luật sư Nguyễn Ngọc Bích thì nhấn mạnh tới tác hại của chủ nghiã thành tích: chủ nghiã thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả hiện tại mà nó đề cao là không thật. Khi cá nhân chạy theo thành tích, họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác tự nguyện, không góp vào mà còn làm giảm đi vốn xã hội.

Vốn xã hội – Nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự

Vậy làm thế nào để phục hồi và phát triển vốn xã hội của Việt Nam?
Hầu như tất cả các diễn giả đều chỉ ra mối liên hệ giữa việc phát triển vốn xã hội với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, bởi vốn xã hội không tách rời mà luôn có sự tương tác với môi trường các thiết chế nhà nước và xã hội.
Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng trong xã hội có những mối liên kết dọc (tiêu biểu là các quan hệ thứ bậc trong trật tự hành chính, quan hệ giữa nhà nước và công dân) và những mối liên kết ngang (liên kết tự nguyện và bình đẳng giữa các cá nhân, không có quan hệ tùy thuộc, trên dưới). Xét theo quan điểm vốn xã hội, chính các mối liên kết ngang vốn rất đa dạng, phong phú mới có nhiều khả năng đóng góp những ý tưởng, những giải pháp thiết thực, có hiệu quả cho những bài toán phức tạp của cuộc sống muôn màu muôn vẻ khó lường trước được. Loại liên kết ngang này chủ yếu là các liên kết trong các tổ chức của xã hội dân sự, độc lập và bổ khuyết cho Nhà nước pháp quyền trong một xã hội dân chủ. Như vậy vốn xã hội chỉ có thể phát triển trong điều kiện xã hội dân sự được phát triển. Một khi xã hội dân sự chưa được phát triển thì vốn xã hội còn nghèo nàn và chưa đóng góp được gì đáng kể cho phát triển kinh tế, thậm chí còn chưa được coi là một nhân tố phát triển.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhấn mạnh: nói đến vốn xã hội là nói đến xã hội dân sự, nói đến dân chủ theo nghiã là sự tham gia trực tiếp của người dân (không phải dân chủ qua bỏ phiếu). Cái gì người dân làm được hãy để cho dân làm. Nếu Nhà nước nhúng tay vào tổ chức mọi hoạt động, có thể có những ảnh hưởng tiêu cực đối với vốn xã hội, người dân sẽ quen ỷ lại và đánh mất những khả năng vốn có trong các haọt động chung. Ở Việt Nam, vướng mắc lớn nhất trong các năm qua là vấn đề cơ chế: quyền lực thì tập trung cao độ mà Nhà nước lại quản lý kém.
Diễn giả Nguyễn Trung cũng cho rằng không thể tránh né hai vấn đề cơ bản để phát huy vốn xã hội, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân sự, trong đó, theo ông, hai yếu tố dân tộc và dân chủ là không thể thiếu. Theo ông, việc phát triển vốn xã hội trên cơ sở Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là bảo đảm tốt nhất loại trừ những hiện tượng hoang dã trên con đường hướng tới tương lai, là cách trả giá ít nhất những cái giá phải trả trong quá trình này, và là cách sử dụng tối ưu, tiết kiệm nhất mọi nguồn lực có thể huy động được.
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng trong thời bao cấp chính vốn xã hội tự có của người Việt Nam đã cứu được xã hội, thể hiện qua việc đổi mới là từ dưới lên; trong thời đổi mới, vốn xã hội tự có đã làm cho kinh tế xã hội phát triển. Nhưng có một nghịch lý là vốn xã hội tích cực ngày càng suy giảm trong khi những liên kết xã hội xấu, “ma qủy” lại phát triển mạnh. Do đó vấn đề đặt ra là vừa phải khôi phục vốn xã hội tốt, vừa phải khắc phục những liên kết xấu. Muốn làm được như vậy, theo ông, cần phát triển dân chủ. Những luật cụ thể nhằm triển khai những quyền tự do cơ bản được ghi trong Hiến pháp không thể nằm trên Hiến pháp, giới hạn Hiến pháp mà ngược lại. Chẳng hạn, theo ông và một số diễn giả khác, Luật về hội, Luật báo chí nên là Luật về quyền tự do lập hội, Luật về quyền tự do báo chí. Có như vậy mới khắc phục được tư duy nhà nước hoá tất cả. Có như vậy xã hội dân sự mới có thể phát triển và vốn xã hội tăng lên.