Linh mục Trương Bá Cần, Tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc, nguyên tổng tuyên úy (tức người hướng dẫn tinh thần) phong trào Thanh Lao Công (Thanh niên Lao động Công giáo) miền Nam trước 30-4-1975 đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 10-7-2009. Trưa 10-7, tôi nhận được cú điện thoại từ tòa soạn báo Tuổi Trẻ khẩn khoản đề nghị tôi viết một bài ngắn dài gì cũng được về Lm Cần. Tôi lưỡng lự vì cả đêm trước mất ngủ tới sáng, chiều nay lại phải đi viếng linh cữu Lm Cần, người đặt bài lại nằn nì phải giao bài trước 5 giờ chiều, quá căng thẳng. Nhưng nghĩ lại, giữa Lm Cần và mình có mối duyên nợ đặc biệt (hồi mới lên đại học, do tình cờ mà tôi đến tá túc ở 370 Lê Văn Duyệt – CMT8 bây giờ, rồi trở thành đoàn viên phong trào TLC, được làm việc với ông, rồi bị cuốn hút vào phong trào SVHS Sài Gòn lúc nào không hay) đành không chợp mắt cả buổi trưa, viết xong bài này kịp mail cho tòa soạn TT trước 4giờ chiều. Kịp lên đường đi viếng Lm.
Bài viết đăng trên TT 11-7-2009 có tựa khác. Ở đây tôi lấy tựa có tính riêng tư hơn.
MỘT NGƯỜI THẦY CỦA TÔI
Linh mục Trương Bá Cần đã ra đi.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến một giai đoạn sôi nổi của phong trào đô thị chống chiến tranh xâm lược Mỹ, đòi hòa bình, đòi dân sinh dân chủ ở Sài Gòn trước 30-4-1975, một phong trào qui tụ nhiều tầng lớp khác nhau, từ trí thức, sinh viên học sinh đến công nhân lao động, chức sắc các tôn giáo trong đó có ông, một người luôn muốn nối kết Công giáo với Dân tộc, muốn người Công giáo trong khi vẫn là mình thì vẫn luôn sống trong lòng dân tộc.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến loạt bài báo mang tính chất nghiên cứu “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miến Bắc” đăng 3 kỳ lần đầu tiên trên tạp chí Đối Diện vào năm 1971 mà vì nó tác giả và chủ nhiệm báo phải “vác chiếu ra tòa” và lãnh án 9 tháng tù giam. Là tiến sĩ sử học Sorbonne, trong điều kiện tư liệu hiếm hoi về miền Bắc ở Sài Gòn lúc bấy giờ, ông đã cố gắng để trình bày một bức tranh chân thực hơn những gì người dân miền Nam được biết về quá trình tái thiết sau chiến tranh và sản xuất dưới bom đạn Mỹ ở miền Bắc. Loạt bài báo có thể nói đã gây một cơn sốt tìm đọc trong giới trí thức và sinh viên học sinh ở miền Nam lúc bấy giờ.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến việc ông cùng với các linh mục Phan Khắc Từ, Trần Thế Luân cùng tham gia cuộc đấu tranh của công nhân hang Pin Con Ó, bị bắt rồi bị thả ngoài và ngồi tuyệt thực trên lề đường Nguyễn Trãi; nhớ đến cuộc vận động đốt thẻ cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 10-1971; nhớ đến cuộc tuyệt thực của ông và một số linh mục khác để đòi trả tự do cho công nhân và sinh viên học sinh bị bắt. Mặc dù sau 30-4-1975 ông có 33 năm liên tục làm Tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc, có những công trình nghiên cứu lịch sử đáng chú ý như về Nguyễn Trường Tộ… nhớ đến ông, người ta vẫn nhớ nhất những tháng ngày ông cùng với các đồng đạo của mình hòa mình vào cuộc đấu tranh chung của người dân các đô thị miền Nam vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, không phân biệt Công giáo, Phật giáo hay không tôn giáo.
Với tôi và một số người khác, những thanh niên mới bước chân vào đại học, mới bước những bước đầu tiên vào đời trong những năm tháng ấy, trong một môi trường sống không thiếu điều kiện để hư hỏng nếu muốn hư hỏng, phải nói, được biết ông và làm việc với ông là một may mắn. Ông là người thầy của chúng tôi trong giai đoạn đầi tiên, một người thầy vừa giản dị vừa nghiêm khắc, người đầu tiên gieo vào đầu óc chúng tôi tình tự dân tộc, luôn hướng chúng tôi đến những điều tốt đẹp và không chấp nhận cho chúng tôi sống không có lý tưởng. Trong cuốn sách tự thuật “50 năm nhìn lại” mới xuất bản năm 2008, ông kể: Tháng 10-1971, nhằm phản đối cuộc bầu cử độc diễn củ Nguyễn Văn Thiệu, một số sinh viên, học sinh công giáo đã tham gia xuống đường đốt xe Mỹ. Một số lén sử dụng căn phòng của ông trong giáo xứ Vườn Xoài (trên đường Lê Văn Sỹ hiện nay) để chế tạo bom xăng lúc ông không có mặt, cảnh sát phát hiện, kéo đến lập biên bản, người ta gọi ông về để chứng kiến. Có người tỏ vẻ trách móc ông, ông đã nói như quát: “Anh em thanh niên làm bom xăng đốt xe Mỹ, để đuổi Mỹ về nước cho đất nước hòa bình, cho nhân dân khỏi khỏ. Điều chúng ta không dám làm, anh em trẻ dám làm, sao gọi là xấu hổ?”. Ông là vậy, không ồn ào, nhưng không kém quyết liệt khi cần.
Trên con đường đến với dân tộc và góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, tất nhiên có người đi xa, có người đi gần, nhưng tôi nghĩ, dù không phải lúc nào cũng đồng ý với ông, trong lớp chúng tôi, sẽ chẳng ai quên được ông, người giúp chúng tôi biết giữ “đạo làm người”, như ông hay nói mỗi khi đối diện với cảnh sát chế độ Sài Gòn trong các cuộc đấu tranh.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Về tui. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Về tui. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009
NGƯỜI THẦY TIẾNG VIỆT CỦA TÔI
Đó là thầy Vũ Tất Thắng. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in gương mặt vừa nghiêm nghị vừa thanh tú, với đôi mắt to, sáng và sống mũi cao, mái tóc húi cao của thầy; nhớ chiếc áo dài the đen mà thầy mặc mỗi khi vào lớp, trong khi những người thầy khác hồi học đại học sau này tôi lại không còn nhớ nổi một gương mặt nào.
Năm 1961, sau khi thi đậu tiểu học ở Phước Tuy (Bà Rịa bây giờ), tôi bắt đầu vô học trường dòng Phanxicô ở Thủ Đức, theo chương trình Pháp, bắt đầu từ lớp huitième (lớp 8). Tiếng Việt được coi như một sinh ngữ, cùng với tiếng Anh (khi học lên cinquième - lớp 5). Tôi chỉ học tiếng Việt với thầy Thắng đâu 2-3 năm gì đó từ lớp 8, nhưng nhờ thầy mà tôi yêu tiếng Việt, học tốt ngữ pháp tiếng Việt, yêu thơ văn Việt Nam, mặc dù tôi cũng rất thích thơ văn tiếng Pháp. Cùng với Stendhal, Flaubert, Maupassant, Baudelaire, Alain Fournier, G. Apollinaire, J. Prévert…tôi yêu Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, yêu văn chương Tự lực Văn đoàn, yêu Thơ mới, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê… Hồi ấy chúng tôi ở nội trú trong trường, chỉ đến chiều thứ bảy là được ra ngoài đi chơi, và thường là lấy xe lam từ Thủ Đức về Sài Gòn chơi. Mỗi lần như vậy tôi thường la cà ở các hàng sách báo trên lề đường Lê Lợi và tìm mua sách báo, tạp chí cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. Tôi nhớ hồi ấy tôi đã mê và bỏ tiền mua những tuyển tập thơ tiền chiến của Xuân Diệu (Thơ thơ), Huy Cận (Lửa thiêng), Chế Lan Viên (Điêu tàn)…cũng như tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tất cả in trên giấy hoa tiên rất đẹp, rất trang trọng. Tất nhiên tôi cũng mua và đọc cả những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở miền Nam thời ấy cũng như các nhà văn nước ngoài khác, ngoài Pháp, qua loại sách Livre de poche được nhập khẩu và bán ở Sài Gòn lúc bấy giờ.
Trở lại với thầy Thắng. Chính chiếc áo dài the đen thầy mặc và giọng giảng bài truyền cảm của thầy đã truyền cho tôi tình yêu tiếng Việt và văn chương Việt Nam . Cho đến một ngày, thầy xuất hiện trong lớp trong bộ quân phục để từ giã chúng tôi. Thầy phải đi quân dịch. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì về thầy nữa mà trong lòng bao giờ cũng thầm cảm ơn thầy đã dạy cho tôi biết yêu tiếng Việt. Sau 30-4-1975, tôi cố nghe ngóng tin tức về thầy mà không nắm được gì, không biết thầy còn sống hay đã mất. Lâu lâu rồi, tôi lại nghe một bạn học cũ nói thầy còn sống nhưng gặp chuyện đau buồn về gia đình. Tôi nghe mà thương cho thầy, nhưng vẫn không biết thầy ở đâu.
Có ai tình cờ đọc được những dòng này và biết thầy ở đâu, làm ơn chỉ giùm tôi, tôi vô cùng biết ơn.
VỀ HƯU !
Vậy là mình về hưu. Bảy tháng trước khi đến hạn nghỉ hưu chính thức. Là theo đề nghị của chính minh, bởi nếu muốn tiếp tục làm nhiệm vụ tổng thư ký tòa soạn cho đến đầu 2010 thì cũng được. Nhưng bỗng dưng tới tuổi này lại cảm thấy ham chơi quá nên xin hưu sớm quách cho khỏe, để còn đi chơi đi bời ! Dường như về già người ta ham chơi hơn thì phải !
Có mấy anh em, nhất là mấy em gái trong tòa soạn, nghe mình nghỉ hưu tỏ vẻ ngạc nhiên. « Còn trẻ sao hưu sớm thế? Anh mà ra đường còn khối cô mê ! » Trời đất, không biết nói đùa hay nói thật, nghe thì cũng thấy sướng thầm trong bụng nhưng mà đã 60 cái xuân xanh rồi, tóc đã lốm đốm bạc rồi, xương cốt đã bắt đầu rơ, bắt đầu ê ẩm rồi, còn trẻ cái nỗi gì ! Nhưng mà kể cũng lạ, hồi còn trẻ, nhất là lúc còn học trung học, mình toàn bị tụi bạn gọi là « ông già », đến giờ già thiệt thì hầu như ai cũng bảo còn trẻ (so với cái tuổi 60 của mình, và so với một số anh em khác tuổi thực trẻ hơn) !
Về hưu có cảm giác gì ? Cảm giác đầu tiên là nhẹ nhõm, lâng lâng. Như cất được một cái gánh nặng gì đó ! Từ đây khỏi phải lo kế hoạch, kế hiếc, khỏi phải lo để xảy ra sai sót gì cho cơ quan nhé ! Từ đây có nhiều thì giờ đi du lịch, du hí hơn nhé ! Không sướng sao được. Chợt nhớ lại bài tạp văn « Buổi sáng thật thà » của Nguyễn Ngọc Tư nói về cái cảm giác luyến tiếc chiếc ghế, luyến tiếc quyền hành của một ông già về hưu, bèn thành khẩn soát xét lại trong từng đường tơ kẽ tóc, từng tế bào xem mình có cái cảm giác luyến tiếc ấy không. Phải thành thật mà nhận rằng không hề có. Vậy là vui.
Tất nhiên mình cũng dè chừng chuyện chơi bời một hồi có khi rồi cũng chán. Mấy anh bạn về hưu trước mình truyền lại kinh nghiệm như vậy. Nên chơi thì chơi, mình cũng chuẩn bị kế hoạch để « sống tích cực », như người ta nói, để trí óc khỏi mụ đi, để khỏi rơi vào chỗ trầm cảm do biếng nhác, không làm gì. Này nhé, mình sẽ ký họp đồng với tờ báo hiện tại làm một chân biên tập gì đó, nếu còn rảnh và thấy thích hợp thì sẽ hợp đồng làm công việc gì khác nữa với một tờ báo khác. Lại còn có vài công ty muốn mình làm việc cho họ. Chỉ sợ không có sức, và công việc không biết có thú vị không thôi. Ngoài ra còn phải để thì giờ viết blog và đi chơi nữa chứ. Càng về già càng ham chơi mà !
Chợt nghĩ, không hiểu sao nhiều người ham bám ghế dữ vậy (tất nhiên cái ghế tổng thư ký tòa soạn một tờ báo thì không thể so với những cái ghế to hơn, béo bở hơn ở những ngành nghề khác, nhưng dù sao thì cũng là một cái ghế !). Có lẽ quyền lực, quyền hành là thứ gì đó có sức quyến rũ ghê gớm nên có khi cái ghế cũng không béo bở gì cho lắm mà người ta cũng không dễ từ bỏ. Lại có những người tuy không hám địa vị hay quyền lợi nhưng thành thật tin rằng, không có họ ngồi ở cái ghế họ đang ngồi thì thế giới sẽ sụp đổ, mọi thứ sẽ đảo lộn, sẽ hỏng bét. Họ không bao giờ nghĩ rằng, không có họ ở đó, mọi thứ có khi còn tốt đẹp hơn, chưa biết chừng.
Mình thì tự bản chất, mình nhận thấy vậy, đã không ham địa vị, quyền hành (năm 1997, đang làm tổng thư ký tòa soạn Tuổi Trẻ, vì bất đồng, mình đã xin nghỉ ngang, chuyển qua TBKTSG, thời gian đầu chỉ làm thư ký tòa soạn), có lẽ vì vậy mà về hưu trước thời hạn, với mình cũng là chuyện rất ư bình thường.
Nhớ lại, những năm ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết, mình từng nghĩ, thậm chí ước sống đến 45, chết là đẹp. Vậy mà bây giờ đã sống đến 60, hưu là vừa.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)