Hiển thị các bài đăng có nhãn thời sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thời sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

AI CANH GIẤC CHO DÂN ?


Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Công nghiệp hóa và những tập đoàn “phá gia chi tử”



Còn chưa hết bàng hoàng với những khoản đầu tư không thể gọi bằng từ ngữ nào khác hơn là phá hoại đồng vốn nhà nước của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) qua việc mua những nhà máy điện cũ nát từ nước ngoài, những con tàu cũ mới đưa vào khai thác thì đã phải bỏ ra hàng đống tiền để sửa chữa và cuối cùng nằm ụ, gây thiệt hại trực tiếp hàng trăm tỉ đồng (*) thì công luận một lần nữa lại bàng hoàng, khó hiểu trước thông tin mà Thanh tra Chính phủ mới công bố, theo đó Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đang có năm khoản nợ có nguy cơ không thu hồi được mà nguyên nhân chủ yếu cũng do mua những con tàu cũ và những khoản đầu tư chẳng khác nào ném tiền qua cửa sổ.
Vinalines đã bỏ tiền mua 73 tàu biển từ nước ngoài đa số đã qua sử dụng với tổng trị giá gần 23.000 tỉ đồng, trong đó có 17 tàu qua sử dụng trên 15 - 30 năm, chưa kể một số tàu quá tuổi quy định nên không được phép đăng ký tại Việt Nam, phải đăng ký và treo cờ nước ngoài. Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa đội tàu cũ kỹ do đó tăng cao trong khi vốn đầu tư, kinh doanh phải đi vay khiến càng khai thác càng lỗ, có tàu chỉ mới khai thác vài ba năm đã lỗ hàng trăm tỉ đồng; 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác trong giai đoạn 2005-2010 đều bị lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán. Vinalines còn mua ụ nổi đã qua sử dụng 43 năm, vượt 28 năm so với quy định. Giá mua ụ nổi và chi phí sửa chữa hai lần là 489,6 tỉ đồng (khoảng 26,3 triệu USD), bằng khoảng 70% giá đóng ụ nổi mới. Bên cạnh đó còn là những khoản chi mờ ám như chi cho tổ chức lễ khởi công dự án xây dựng cảng trung chuyển vịnh Vân Phong đến 4,1 tỉ đồng, vượt quy định hơn 4 tỉ đồng; chi hơn 2,4 tỉ đồng cho một đơn vị tư vấn lập hồ sơ dự án nhà máy sửa chữa tàu biển trong một cuộc đấu thầu có dấu hiệu thông thầu…Không ai hiểu nổi tại sao, với bao nhiêu ưu đãi về vốn, về mặt bằng dành cho tập đoàn, tổng công ty nhà nước, những người lãnh đạo, quản lý Vinashin và Vinalines vốn không phải là những người mới vào nghề lại thích mua đồ cũ để rồi kinh doanh lỗ lã, tiêu tan cả vốn chẳng khác nào những đứa con “phá gia chi tử” như vậy!
Ấy vậy mà, trong đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành mà Bộ GTVT đưa ra mới đây, trong tổng số gần 224.000 tỷ đồng đầu tư cho nhiều mục tiêu như hiện đại hóa trụ sở làm việc, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin,… bộ này vẫn đề ra mục tiêu đầu tư 30.000 tỷ đồng để có đội tàu 67 chiếc cho Vinalines để đạt tổng tải trọng xấp xỉ 15 triệu tấn vào năm 2015, và đến năm 2030, cần thêm 70.000 tỷ đồng để có 95 tàu các loại. Liệu với “thành tích” làm ăn như vậy, Vinalines có thể “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” hay hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ đồng rót cho tổng công ty này (và những tập đoàn, tổng công ty tương tự) rồi cũng sẽ như rót vào cái thùng không đáy? Nói rộng hơn, với kiểu đầu tư, làm ăn như Vinalines, Vinashin, nếu không có cơ chế hiệu quả để kiểm soát đồng vốn nhà nước và nếu không đoạn tuyệt với tư duy dùng tập đoàn, tổng công ty nhà nước để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mọi nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế sẽ chẳng đi tới đâu, đồng vốn chắt mót của cả nền kinh tế sẽ tiếp tục tiêu tán và ước mơ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế sẽ vẫn là ước mơ xa vời, nếu không nói là vô vọng.
   (*) Trong vụ án Vinashin, các bị cáo chỉ bị cáo buộc về năm vụ việc gây thiệt hại trực tiếp trên 900 tỉ đồng gồm mua tàu Hoa Sen, dự án nhà máy nhiệt điện Sông Hồng, dự án nhà máy nhiệt điện Cái Lân, dự án đầu tư tàu Bình Định Star và việc xẻ thịt bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang, nhưng không xét đến khoản nợ trên 80.000 tỉ đồng mà Vinashin gây ra.

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Nghĩ từ những đám cưới “khủng”

Họ có tiền thì họ xài, xài ra sao là quyền của họ. Những người khác, ngược lại,  nhiều lúc thấy chối mắt khi nhìn xung quanh thấy còn biết bao cảnh đời chật vật, cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ ấm, chạy ăn từng bữa. Đó cũng là quyền của số đông chưa được chia sẻ miếng bánh mà tự do hóa kinh tế mang lại. Nhưng biết sao được, muốn người mới giàu có xài tiền mà không vô tình làm đau những người còn thiếu thốn trăm bề, có khi phải đợi họ đi qua cơn say xài cho thật thỏa thích đồng tiền mà họ phải vất vả (hoặc không vất vả) mới kiếm được, cũng không loại trừ cơn say khoe của mới làm ra mà trước đây chưa lâu hẳn không ai dám khoe. Đợi một đời, có khi vài ba đời – cho đến khi họ giật mình nhìn lại, suy nghĩ về nguồn gốc đồng tiền của họ, và nếu không có gì phải áy náy lương tâm, lúc ấy họ sẽ nghĩ về cách xài sao cho hữu ích hơn, nếu không muốn nói là sao cho có “văn hóa” hơn, trước hết là cho chính bản thân họ, con cái họ, sau nữa là cho xã hội. Văn hóa không thể đến trong ngày một ngày hai, nó là chuyện tích lũy một đời, vài đời. Tích lũy tài sản đã khó, tích lũy văn hóa còn đòi hỏi thời gian nhiều hơn. Vậy nên người viết ở đây không muốn nhìn những đám cưới “khủng” được nói đến nhiều trong thời gian qua dưới góc nhìn “văn hóa”. Thế nhưng, nhìn dưới góc độ quản lý xã hội, quản trị quốc gia, rõ ràng ở đây đang có vấn đề. Vấn đề không phải ở bản thân các đám cưới “khủng” chi phí hàng chục tỉ đồng, mà vấn đề đằng sau các đám cưới ấy. Chúng tôi muốn nói đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội đang ngày một gia tăng, ngày một lồ lộ, và vai trò của những nhà hoạch định chính sách trước sự phân hóa ấy.
Nguyên đại biểu Quốc hội, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân trong bài viết “Bàn thêm về khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam” (Vietnamnet 24.5.2010) cho biết: “Theo số liệu thống kê, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người của nhóm 20% cao nhất so với nhóm 20% thấp nhất trong cả nước năm 1990 là 4,1 lần, năm 1991 là 4,2 lần, năm 1993 là 6,2 lần, năm 1994 là 6,5 lần, năm 1995 là 7,0 lần, năm 1996 là 7,3 lần, năm 1999 là 7,6 lần, năm 2002 là 8,1 lần và năm 2004 là 8,4 lần. Trong 14 năm, hệ số chênh lệch tăng lên 2,05 lần. Một chỉ số khác về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội là tỷ trọng tổng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1 và nhóm 2) trong tổng thu nhập (của cả 5 nhóm). Theo quy ước mà Bộ Tài chính sử dụng, nếu tỷ trọng này nhỏ hơn hay bằng 12% thì bất bình đẳng  cao; nằm trong khoảng 12 - 17%,  bất bình đẳng vừa; nếu lớn hơn hay bằng 17% là tương đối bình đẳng. Số liệu thống kê cho kết quả: tỷ trọng này của Việt Nam năm 1995 là 21,1%; năm 1996 là 21%; năm 1999 là 18,7%; năm 2002 là 18%, năm 2004 là 17,4%. Trong 9 năm, sự chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ từ tương đối bình đẳng đang tiến dần về bất bình đẳng vừa”.
Còn chuyên gia về đói nghèo của Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) tại Việt Nam, ông Nguyễn Tiên Phong nhận định: “Bất bình đẳng ở Việt Nam đang tăng nhanh, đặc biệt giữa các nhóm giàu nhất và nghèo nhất. Chính sự gia tăng khoảng cách về thu nhập trung bình của hộ gia đình giữa nhóm 20% người giàu nhất và 20% người nghèo nhất (từ 8,34 lần năm 2006 lên 9,24 lần năm 2010) là nguyên nhân gia tăng của hệ số Gini (chỉ số đo sự bất bình đẳng về thu nhập của xã hội) từ 0,42 năm 2004 lên 0,43 năm 2010”. Ông nói tiếp: “So với các nước khác, trong giai đoạn 2005-2008, Việt Nam là nước có khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% người giàu nhất và 20% người nghèo nhất cao thứ nhì châu Á (8,9 lần), chỉ sau Philippines, cao hơn cả Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc và Campuchia. Đáng lưu ý là hệ số Gini của Việt Nam ngang bằng hoặc cao hơn so với hệ số Gini của nhiều nước có GDP/đầu người cao hơn nhiều so với của Việt Nam. Và trong khi hệ số Gini của một số nước trong khu vực (như Thái Lan và Malaysia) giảm thì của Việt Nam lại tiếp tục tăng (hệ số Gini bằng 1 là mức bất bình đẳng cao nhất)” - (Giàu nghèo do số hay chính sách chưa đủ? - TBKTSG 6.10.2011).
Đó là thực trạng. Thế còn phản ứng chính sách ở những cơ quan quyền lực cao nhất? GSTS Nguyễn Ngọc Trân khi còn là đại biểu Quốc hội từng nhận xét: “Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 của Chính phủ, cũng như báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung của Ủy ban Kinh tế tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội đề cập đến vấn đề giảm nghèo nhưng không có một thông tin nào về khoảng cách giàu nghèo trong xã hội”. Tình hình đến nay chắc cũng không có gì thay đổi. Vì sao như vậy? Ông Nguyễn Tiên Phong đưa ra một lý giải: Có thể nhận thấy rằng Nhà nước luôn có hai dòng chính sách: chính và phụ. Dòng chính nhằm phục vụ tăng trưởng theo kinh tế thị trường và dòng thứ hai (các chính sách, chương trình hỗ trợ người nghèo, yếu thế, thu nhập thấp) được áp dụng với mong muốn bù đắp lại sự bất công, thiếu hụt nảy sinh trong quá trình phát triển. Câu hỏi là liệu những chính sách dòng chính có thể làm tốt hơn việc giảm sự bất bình đẳng hay không? Dòng chính sách phụ có đủ để “trám, vá” những “lỗ hổng” mà dòng chính chưa xử lý được (hoặc trong vài trường hợp là gây ra) hay không? Tôi phải nói, nếu cứ làm như hiện nay thì không đủ (…) Cái đáng nói ở đây là Nhà nước/Chính phủ, thông qua luật lệ và chính sách, có tạo ra được cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người trong việc tiếp cận công ăn việc làm và các dịch vụ xã hội hay không?... Tên đúng của những “lý do” bất bình đẳng đó là thất bại chính sách.”
Vấn đề là người dân, xuất phát từ tình cảm đạo đức, có thể mong mỏi, trông đợi lòng hảo tâm, hành động từ thiện của người giàu; nhưng Nhà nước, với tư cách là Nhà nước, người đảm bảo phúc lợi cho tất cả công dân, không thể trông đợi lòng tốt của người giàu mà phải thiết kế được những chính sách hữu hiệu để điều tiết thu nhập của người giàu nhằm san sẻ cho người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội; những chính sách khuyến khích đồng tiền của người giàu chảy vào những công trình có ích cho cộng đồng (như tài trợ cho giáo dục, phát triển cộng đồng, làm từ thiện) thay vì đổ vào những chi tiêu phô trương, hợm hĩnh. Nhưng, với nền kinh tế chủ yếu là tiền mặt, với bộ phận kinh tế ngầm không nhỏ, liệu Nhà nước có nắm được thu nhập thật của người giàu để điều tiết? Với sự thực thi pháp luật yếu kém, liệu Nhà nước có ngăn được nhà giàu trốn lậu thuế, chưa nói đánh thuế vào tài sản của họ? Với chính sách thuế không khuyến khích người có thu nhập cao bỏ tiền làm từ thiện, đóng góp cho cộng đồng, bằng cách không tính các khoản đóng góp đó vào thu nhập chịu thuế, liệu Nhà nước có đang khuyến khích người giàu chi xài xả láng?
Nếu tất cả những chính sách, biện pháp trên được thực hiện, có lý do để tin rằng những đám cưới “khủng”, những chi xài phô trương của người giàu, của những đại gia sẽ giảm đi rất nhiều. 

Nếu 62 tỉnh thành khác cũng làm như Đà Nẵng !?

Vậy là cuối cùng cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (KTVBQPPL) của bộ Tư pháp - sau khi tập hợp ý kiến của các cơ quan liên quan gồm ủy ban Pháp luật của Quốc hội, vụ pháp luật của Văn phòng Quốc hội, vụ pháp luật của Văn phòng Chính phủ, tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội – bộ Công an và nhiều cục, vụ liên quan - đã có văn bản báo cáo lên bộ trưởng bộ Tư pháp về kết quả kiểm tra tính hợp pháp của một số nội dung trong nghị quyết 23 của HĐND thành phố Đà Nẵng ngày 23.12.2011. Theo đó, có ít nhất 4 quy định trong nghị quyết nói trên là trái luật, trái thẩm quyền. Đó là: Tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án tiền sự; tạm dừng đăng ký mới đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ; cấm chuyển nhượng căn hộ chung cư, nếu vi phạm sẽ bị cưỡng chế thu hồi; phạt nặng và tạm giữ phương tiện 60 ngày đối với học sinh chưa đủ tuổi theo quy định đi xe gắn máy.
Được nhiều người quan tâm hơn cả vì động chạm tới một trong những quyền tự do căn bản của công dân là quyền tự do cư trú, quy định tạm dừng cho đăng ký thường trú trong khu vực nội thành của nghị quyết 23 được báo cáo của cục KTVBQPPL kết luận là “không có cơ sở pháp lý và trái với quy định của pháp luật về cư trú”. Đại diện vụ Pháp luật thuộc Văn phòng Chính phủ cho rằng, các quy định về thẩm quyền “phân bổ dân cư” và “quyết định biện pháp quản lý dân cư” của HĐND là quy định chung, khi HĐND đưa ra nghị quyết để quy định cụ thể một nội dung nào đó thì phải tuân theo luật ban hành sau và các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực. Ông Đặng Đình Luyến, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, còn cho rằng, có nhiều biện pháp để phân bổ dân cư nhưng bất cứ biện pháp nào cũng phải tuân thủ luật Cư trú. Như vậy, có thể nói, việc HĐND TP Đà Nẵng đặt ra quy định nói trên là một hình thức hạn chế quyền tự do cư trú của công dân. Quy định đó đã “treo”, đã “tạm dừng” một trong các quyền tự do căn bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật Cư trú và nghị định hướng dẫn thi hành luật. Hai quy định khác của nghị quyết 23 của HĐND TP Đà Nẵng liên quan tới dịch vụ cầm đồ và chuyển nhượng căn hộ chung cư cũng “tạm dừng” các quyền của công dân như vậy.
Lý giải việc đưa ra quy định “tạm dừng” cho đăng ký thường trú vào các quận nội thành, ông Nguyễn Bá Sơn, Giám đốc Sở Tư  pháp TP Đà Nẵng cho rằng, các đại biểu HĐND đã thảo luận và biểu quyết thông qua nội dung này xuất phát từ tình hình thực tế những năm qua một bộ phận lớn dân nhập cư là người không nghề nghiệp, không nhà cửa, không có chỗ ở ổn định hoặc có tiền án, tiền sự, làm cho sức chịu đựng của hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục bị quá tải. Thêm vào đó, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự trên địa bàn diễn biến phức tạp, trật tự an toàn bị đe dọa. Một số mục tiêu thành phố đã đạt được trong 15 năm qua hoặc mục tiêu đặt ra trong những năm tới có nguy cơ bị phá vỡ hoặc không thể thực hiện.
Tuy nhiên, những thực tế, khó khăn, vấn nạn nói trên không phải là vấn đề của riêng Đà Nẵng mà có thể bắt gặp ở bất kỳ thành phố lớn nào. Những mục tiêu mà Đà Nẵng đặt ra, các địa phương khác cũng có thể đặt ra, bởi ai cũng muốn địa phương mình lập được thành tích. Tuy nhiên, nếu tất cả các thành phố lớn hoặc 62 tỉnh thành khác cũng làm như Đà Nẵng với lý do đặc thù của địa phương thì hẳn luật lệ của nhà nước Việt Nam sẽ không còn là một thể thống nhất mà như một tấm mền, mạnh ai nấy cũng có thể căng kéo theo nhu cầu, ý thích riêng của địa phương. Vô hình chung, luật bị vô hiệu hóa. Đó là điều xa lạ với một nhà nước pháp quyền hiện đại, trong đó mọi tổ chức, đơn vị, cá nhân nhà chức trách khi muốn đưa ra một quyết định nào đều trước hết phải soát xét xem nó có phù hợp với Hiến pháp và pháp luật không, chứ không thể dựa trước hết trên cái gọi là đặc thù địa phương. Tư duy và biện pháp quản lý nhà nước, nếu dựa trước hết trên đặc thù địa phương, thì cũng giống như quản trị trong doanh nghiệp gia đình, dựa trên sự thuận tiện cho chủ doanh nghiệp nhưng không phù hợp với quản trị trong doanh nghiệp đại chúng, vốn phải được quản trị chính quy theo điều lệ, quy chế hẳn hoi. Đó cũng là thứ tư duy lệ làng chỉ hợp lý trong bối cảnh nhà nước phong kiến, khi làng xã tìm cách giành lấy chút quyền tự chủ khỏi nhà nước trung ương tập quyền hà khắc. Mặt khác, Việt Nam cũng không phải là một nhà nước liên bang với 63 tỉnh thành là 63 tiểu bang có quyền đề ra luật lệ nội trị riêng.
Tất cả điều đó không có nghĩa từng địa phương không có quyền năng động, chủ động trong quản lý điều hành. Nhưng mọi sự năng động, mọi nỗ lực chủ động trước hết phải soi vào Hiến pháp và pháp luật xem nó có phù hợp, bằng không nó sẽ bào mòn nền tảng của nhà nước pháp quyền. Nếu pháp luật tỏ ra bất cập, không còn phù hợp với thực tế, chẳng hạn như quyền hạn dành cho chính quyền đô thị vốn khác xa chính quyền ở nông thôn nhưng chưa được pháp luật quy định, thì quyền và nhiệm vụ của chính quyền địa phương là đấu tranh trong vòng pháp luật để sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn chứ không phải là bỏ qua Hiến pháp và pháp luật. 

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

ĐỌC MÀ BUỒN

Đọc được bài này trên internet. Đọc mà buồn. Mấy chục năm trước mình cũng như thế. Bây giờ, mấy chục năm sau mình cũng cảm nhận như tác giả bài viết. Buồn.


06/12/2011
Hồ Cương Quyết - André Menras
Thành phố Hồ Chí Minh, chiều thứ Bảy. Trong căn hộ bỏ trống mà vợ chồng người em gái có nhã ý cho tôi trú tạm, tôi nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Không muốn đọc mà cũng chẳng buồn viết lách gì cả. Những bộ mặt và cảnh tượng cứ xuất hiện liên tục, trộn lẫn vào nhau, chồng lấp lên nhau như hình ảnh trong một bộ phim không có đạo diễn. Một điệu nhạc buồn gọi cơn mưa đến như bám vào từng mẩu da thịt tôi và thực tại đang sống lại mỗi ngày một mạnh mẽ hơn.
Sáng hôm nay tôi tình cờ được mời đến một quán “café-philo”. Chủ đề cuộc tọa đàm: Marx, Engels, Hegel(*). Căn phòng nhỏ lèn chặt người, như chực vỡ tung. Có người tôi đã biết, có người chưa quen. Một không khí tìm tòi và chia sẻ. Người có tuổi lẫn với sinh viên trẻ: tâm hồn, đầu óc trẻ trung của mọi lứa tuổi hòa lẫn vào nhau. Lòng khát khao được học hỏi, trao đổi và cả các ý kiến đối chọi nhau. Sức mạnh và vẻ đẹp của niềm ham thích, của thị hiếu lành mạnh và tích cực, không ngại cản trở, không sợ điều cấm kỵ, và loại bỏ tất cả những ai nhát sợ.
Cơn mưa buồn trong nhạc Trịnh, những ý kiến tranh luận sôi nổi cùng không khí năng động của quán café-philo như muốn thoát ra khỏi những cản ngại thường ngày đã làm dậy lên trong tôi một góc ký ức mà tôi ngỡ đã chôn vùi từ lâu trong quá khứ. Những mẩu ký ức đau buồn về một Sài Gòn cũ mà tôi từng trải qua, giờ đây lại tái hiện ở TP.HCM, như đang giáng cái tát nảy lửa vào niềm tin của tôi.
Cấm chiếu phim, đóng cửa quán cà phê, cắt điện, đe dọa cá nhân. “Mật vụ” với bộ mặt lầm lầm lì lì, điện thoại di động lúc nào cũng dán chặt vào lỗ tai, máy ghi âm và caméra sẵn sàng hoạt động. Cảm giác ngột ngạt nặng trĩu vì không lúc nào được ở một mình. Hơn 40 năm trước, tôi đã từng trông thấy những cặp mắt rình rập hệt như thế, mà khi tôi hướng về họ thì chỉ được lẳng lặng đáp lại bằng cái nhìn đầy hăm dọa. Tôi hiểu rõ những bàn tay ấy có khả năng làm chuyện gì khi nhận được lệnh cấp trên.
Các đồng chí can trường của tôi, các bạn hiện đang ở đâu? Làm sao các bạn có thể quên chúng ta từ đâu đến và chúng ta đang đi về đâu? Tôi nghe bài hát “Một ngày dài trên quê hương” mà nước mắt cứ lăn dài, thật buồn cười, nhưng tôi cũng chẳng muốn kiềm lòng làm chi. Nỗi đau các thành quả của những cuộc đấu tranh bị tịch thu, của niềm hy vọng bị đánh cắp. Lòng phẫn nộ khi phải khóc thương cho một thời tuổi trẻ vẫn chưa lụi tàn trong tôi, cái thời thanh niên giờ đây bừng sống lại trong hoàn cảnh đầy cản ngại, và khiến cho tôi quên bẵng đi nỗi mệt nhọc hiển nhiên do tuổi tác.
Các đồng chí ơi, làm ơn đi, làm ơn nói cho tôi biết rằng điều tôi đang cảm nhận lúc này đây là hoàn toàn ngộ nhận và sai lầm, rằng các thế lực thù địch với chế độ ta không hề có lý, rằng tôi không buộc phải một lần nữa lên đường đấu tranh, ra tiền tuyến...
H. C. Q. – A. M.
Trần Hữu dịch từ tiếng Pháp.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
Chú thích:
(*) Buổi giới thiệu cuốn sách Karl Marx của Peter Singer (nxb Tri thức 2011) sáng ngày 3/12/2011 tại quán Cà phê Thứ Bảy 37 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, TP. HCM với diễn giả là nhà nghiên cứu Lữ Phương và người chủ trì là nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn – BVN.
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 03:35

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

SỰ HÀO PHÓNG KHÓ HIỂU

“Trụ cột công nghiệp của tỉnh Lạng Sơn”. “Giấc mơ miền biên ải”. “Gió mới trên đất anh hùng”. Đó là những ngôn từ lấp lánh được tờ báo địa phương và một số lãnh đạo gán cho dự án nhà máy xi măng Đồng Bành, một dự án được triển khai thi công từ tháng 10-2006, với công suất thiết kế 2.500 tấn clinker/ngày, tương đương 910.000 tấn xi măng/năm, tổng mức đầu tư từ 1.298 tỉ đồng tăng lên 1.505 tỷ đồng, tương đương mức tăng khoảng 16% do thi công chậm đến hai năm. Trong số cổ đông sáng lập dự án có Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA), Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE)  mà có tờ báo xem là những “doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về vốn và có kinh nghiệm trong quản lý và đầu tư, do đó Công ty Cổ phần Xi Măng Đồng Bành có nhiều thuận lợi trong việc điều hành và huy động nguồn vốn.” (Vietnam Business Forum – Kênh thông tin đối ngoại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 19-5-2010).
 Mang danh nghĩa là đầu tư tại “địa bàn vùng núi” (trong khi thực tế nhà máy nằm chỉ cách thành phố Lạng Sơn khoảng 52 km, cách Hà Nội khoảng 103 km, lại gần quốc lộ 1A, gần các mỏ đá vôi nguyên liệu), vì thế mà dự án được hưởng đủ các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ đối với vùng đặc biệt khó khăn, được tỉnh Lạng Sơn tạo mọi điều kiện về mặt bằng, hỗ trợ đào tạo lao động, ưu đãi về xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài nhà máy và khu công nghiệp, v.v… Dự án còn nhận được nhiều ưu ái từ các ngân hàng thương mại nhà nước và nước ngoài, dù vốn tự có của chủ đầu tư chỉ vỏn vẹn 301,542 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng mức đầu tư, còn lại là các khoản vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam:  272,142 tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: 183,467 tỷ đồng, và Ngân hàng ANZ là 747,850 tỷ đồng với sự bảo lãnh của Chính phủ.
          Ấy thế mà vừa rồi Bộ Xây dựng cho biết, riêng năm 2011, Đồng Bành thiếu 141 tỷ đồng để trả nợ gốc và lãi, trong đó phải trả nợ gốc và lãi đến hạn cho ANZ vào ngày 25-8-2011 là 3.493.633,33 USD (tương đương trên 72 tỷ đồng). Nhà nước bảo lãnh thì Nhà nước phải trả nợ thay. Bộ Tài chính mới đây đã phải đứng ra hỗ trợ doanh nghiệp này thanh toán khoản vay ngân hàng ANZ. “Nợ Chính phủ bảo lãnh, chúng tôi coi nó là nghĩa vụ nợ dự phòng. Khi mà các doanh nghiệp không trả được nợ, Chính phủ phải trả thay, thì lúc đó nghĩa vụ nợ dự phòng trở thành nghĩa vụ nợ thực tế của nhà nước”, tân Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói.
Quả là một sự hào phóng khó hiểu từ phía Nhà nước khi xi măng chẳng phải là một ngành mũi nhọn hay công nghệ cao mà Nhà nước cần hỗ trợ; và dự án, dù mang danh nghĩa đẹp đẽ gì, cũng chỉ là một dự án kinh doanh mà nhà đầu tư phải tự vay tự trả, tự chịu trách nhiệm về lãi lỗ. Có thể sự hào phóng ấy một phần đến từ ý muốn chủ quan về một giấc mơ  công nghiệp của địa phương, một phần từ những lời lẽ thuyết minh có cánh của chủ đầu tư. Dù thế nào thì kỳ vọng đã đặt không đúng chỗ, và giấc mơ công nghiệp của địa phương đã sớm trở thành gánh nặng cho Nhà nước.
Và đây lại là một thí dụ nữa về việc phân bổ nguồn lực, về đầu tư vốn Nhà nước kém hiệu quả. Chuyện thua lỗ của Xi măng Đồng Bành có thể chưa dừng lại ở đó vì theo Bộ Xây dựng, từ năm 2011 đến năm 2015, doanh nghiệp này dự kiến sẽ thiếu 607 tỷ đồng để trả nợ các tổ chức tín dụng và bù đắp nguồn tiền mất cân đối. Không biết đến lúc đó Chính phủ có còn đứng ra trả nợ thay, và nếu cứ tiếp tục như vậy, đến bao giờ nền kinh tế mới có sức cạnh tranh?

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

NHU CẦU “BỘ MẶT”

Bảo tàng Hà Nội, bảo tàng lớn nhất nước, vốn đầu tư hơn 2.300 tỉ đồng, công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, mới đưa vào sử dụng chưa đầy một năm đã xuống cấp nghiêm trọng. Mấy ngày đầu sau khi khánh thành, bảo tàng còn có khách tham quan do người từ các địa phương khác đổ về nhân đại lễ 1000 năm Thăng Long nhưng nay thì vắng vẻ, đìu hiu, với chỉ vài ba người đến tham quan mỗi ngày, như phản ảnh của nhiều tờ báo.
Chính Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc đã đánh giá rằng đây là một sự đầu tư lãng phí. PGS Nguyễn Văn Huy, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội, trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo điện tử Vietnamnet cho biết, sau khi tham quan Bảo tàng Hà Nội, hầu hết những người Hà Nội mà ông biết và cả khách quốc tế đều thất vọng vì cái tòa nhà thì hiện đại, nhưng nội dung và chất lượng trưng bày quá kém, không đạt tiêu chuẩn. Ông nói thẳng, đó là do làm tạm bợ, không tính đến chất lượng, bất chấp tiêu chuẩn tối thiểu của bảo tàng thế kỷ 21, miễn sao bày kín được mấy tầng bằng những thứ đồ cổ. Có trưng bày đấy mà không đạt mục tiêu nội dung và không đạt chất lượng mỹ thuật, làm thấp giá trị của bảo tàng. Chính vì vậy mà bảo tàng không thu hút được khách tham quan. Sự lãng phí chính ở chỗ đó. Vẫn theo GS Huy, nguyên nhân lãng phí là do ở nước ta có "mốt" khánh thành tòa nhà (bảo tàng) trước, rồi vài năm sau mới khánh thành trưng bày chính. Đó là một cách làm không phù hợp, không khoa học, chủ yếu chạy theo thành tích, gắn với các ngày kỷ niệm hay với các nhiệm kỳ của các vị lãnh đạo có liên quan.
Sai lầm rất lớn của quá trình xây công trình Bảo tàng Hà Nội cũng như nhiều bảo tàng khác ở nước ta, theo GS Huy, là có hai bộ phận hoàn toàn tách biệt: bộ phận xây dựng thì cứ lo xây dựng, còn Bảo tàng Hà Nội, kể cả Giám đốc Bảo tàng cũng không tham gia vào quá trình lập đề cương, tổ chức bộ máy trưng bày. Những người có chuyên môn lại không được làm công việc chuyên môn quan trọng nhất của bảo tàng. Họ chỉ chờ "chìa khóa trao tay" để quản lý và lo "giữ nhà".
Nói cách khác, nói đến làm bảo tàng (và nhiều thứ khác nữa), người ta nghĩ trước hết đến “phần cứng”, đến xây dựng tòa nhà cho hoành tráng, đáp ứng cái gọi là “bộ mặt”, còn nội dung hoạt động, trưng bày, sự vận hành bên trong, tức “phần mềm” thì người ta rất ít chú ý. Trước hết phải là to nhất, hoành tráng nhất, là bộ mặt, là thể diện, dù bên trong chẳng ra sao.
Một công trình ngàn năm Thăng Long khác, "Con đường gốm sứ" dài gần 4.000 mét, với tổng diện tích tranh gốm khoảng 7.000 m2 do 20 nghệ sĩ Việt Nam, 15 nghệ sĩ quốc tế, 50 sinh viên mỹ thuật, cùng 100 nghệ nhân và thợ thủ công từ nhiều địa danh và làng gốm truyền thống thực hiện, được long trọng khánh thành với sự có mặt của khá nhiều quan chức, được trao bằng kỷ lục thế giới Guiness. Chưa đầy năm sau, “Con đường gốm sứ” nay đang bong tróc, bục lở, với nhiều đường nứt dài và nhiều người Hà Nội cho rằng nó đang làm xấu thay vì làm đẹp cho bộ mặt thành phố. Tuy không phải là công trình đầu tư từ ngân sách mà là công trình xã hội hóa, một cách làm khá mới mẻ nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng phục vụ cho cộng đồng, nhưng đó cũng là một công trình chạy đua chào mừng đại lễ.

Trong số các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thanh tra Bộ Xây dựng đang thanh tra hai công trình, đó là Bảo tàng Hà Nội và Công viên Hòa Bình. Tại Bảo tàng Hà Nội, theo báo chí phản ảnh, ngay tầng 1, ở lối lên cầu thang, nền gạch bong tróc, dùng tay có thể bóp vụn miếng ximăng và trơ cát.  Trên trần tầng 1, nước đọng thành vệt loang lổ, có chỗ nước nhỏ giọt. Ở tầng hầm, nơi bảo quản hiện vật, cũng xảy ra hiện tượng nước rò rỉ. Đặc biệt tầng ngầm - phòng kỹ thuật của bảo tàng - còn bị ngập nước lênh láng khi mưa. Tại Công viên Hòa Bình, vốn đầu tư 282 tỷ đồng, hiện tượng xuống cấp cũng lộ rõ. Chỉ mấy cơn mưa đầu mùa, hàng loạt khu vực trong công viên ngập úng nặng. Tại một số khu vực, gạch vỡ đang được thay thế. Tại nhiều khu vực khác, nền gạch  bị phồng rộp kéo dài tới vài chục mét, phía dưới hoàn toàn không có ximăng. Chẳng biết có tiêu cực gì ở đây không, vì còn phải chờ kết luận thanh tra, nhưng nếu không có tiêu cực thì rõ ràng chính cái bệnh chạy theo thành tích, chạy theo ngày kỷ niệm, đáp ứng vấn đề “bộ mặt” đã làm hại cho chất lượng công trình. Ai gánh? Tất nhiên, cuối cùng vẫn là người đóng thuế, là người dân.
Như vậy, ngoài tham nhũng, tiêu cực, một nguyên nhân khác gây lãng phí, tiêu hao tiền của của dân, tuy ít được nói tới, ít được vạch mặt chỉ tên, chính là nhu cầu về “bộ mặt”, là “thể diện”. Điều đó đúng trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện nhà nước và xã hội.

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

RÙA HỒ GƯƠM VÀ NGƯỜI LÈN CỜ

Những tưởng câu chuyện về Cụ Rùa hồ Gươm đã  khép lại sau khi  Đội lai dắt đưa được cụ lên bờ để chữa trị vào ngày 3-4, thì nay, một Cụ Rùa khác lại xuất hiện. Vì thế, khắp các hang cùng ngõ hẻm ở Hà Nội, câu chuyện này lại thêm một lần được mở ra với nhiều luồng ý kiến, tranh luận dữ dội...” (Vietnamnet). Người ta tranh luận gì? Người thì vẫn tiếp tục khăng khăng chỉ có một “cụ” rùa, người thì nói là có hai “cụ” và đang chuẩn bị “lai dắt” “cụ” thứ hai vào “bể thông minh” để chữa bệnh tiếp, người thì khẳng định có ba “cụ”, người khác lại cho rằng có đến 5-6 “cụ”. Mà giả sử có đến 5-6 “cụ” rùa Hồ Gươm thì ai là “Cụ” (viết hoa nhé!), ai không phải là “Cụ” đây?
            Cứ thế, từ mấy tháng nay báo chí, cả báo in và báo mạng, đã tốn không biết bao nhiêu trang giấy và trang mạng, đổ ra không biết bao nhiêu ngôn từ cho mấy chú rùa Hồ Gươm bị bệnh. Thậm chí đưa cả ảnh rùa ăn thịt xác mèo lên mạng. Chính quyền thì “khẩn trương”, “quyết liệt”, nào lập ban chỉ đạo cứu rùa gồm tới bốn, năm sở ngành, nào mời chuyên gia, tiến sĩ trong và ngoài nước đoán bệnh, chẩn bệnh, nào diễn tập tới lui, dùng cả  “đặc công thủy” để đưa rùa lên bờ, vào “bệnh viện” dưới chân tháp chữa trị. Báo chí thì thông tin liên tục, dồn dập, không còn thiếu một góc cạnh nào, y như bị động đất, sóng thần. Không rõ bao nhiêu tiền đã được chi ra cho việc cứu rùa. Cứ như đất nước này chẳng còn chuyện gì khác để lo. Cứ như những con rùa đang sống và, như mọi sinh vật, đang ngày một già đi ấy thực sự là những con rùa của truyền thuyết, thực sự từ trong truyền thuyết bước ra sống giữa đời này. Cũng đã có những tiếng nói tỉnh táo cất lên nhưng xem chừng khá lẻ loi, thậm chí bị mắng nhiếc, bởi người ta đang đồng nhất truyền thuyết (dù rất đẹp) với những sinh vật cụ thể.
            Ấy là chuyện rùa Hồ Gươm. Còn đây là chuyện người chết ở Lèn Cờ.
Mỏ đá ở xã Nam Thành, huyện YênThành, Nghệ An bị sập vào ngày 1-4-2011 đã khiến 18 người chết, đa số là phụ nữ, và 6 người bị thương. Người ta đã nhanh chóng chỉ ra nguyên nhân sập mỏ là do khai thác không đúng quy trình kỹ thuật, vi phạm quy tắc an toàn lao động. Phó thủ tướng chỉ đạo khẩn trương cứu nạn. Bốn ngày sau, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, các tỉnh, thành tiến hành kiểm tra toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước; yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản, an toàn lao động tại các mỏ đá làm vật liệu xây dựng, kiên quyết đình chỉ hoạt động khai thác mỏ, nếu thấy có biểu hiện vi phạm về an toàn. Người ta khởi tố vụ án, bắt giam chủ khai thác mỏ. Báo chí thì tường thuật công cuộc cứu nạn, mô tả nỗi đau thương bao trùm ở địa phương, hoàn cảnh sống cơ cực, đói nghèo của các nạn nhân và gia đình họ.
Mọi việc dừng lại ở đó. Không có “ban chỉ đạo” nào được thành lập, không có đội “đặc công” hay đặc nhiệm nào được huy động, không có chi phí nào được bỏ ra hòng tìm cho ra nguyên nhân sâu xa, đích thực, gốc rễ của những tai nạn thương tâm liên tiếp xảy ra dù đã có bao nhiêu quy định về cấp phép, về quy trình khai thác, về an toàn lao động, và quan trọng hơn hết là làm thế nào để chấm dứt triệt để tình trạng ấy. Bởi riêng tại Nghệ An, ngày 15-12-2007, một vụ sập núi thảm khốc tại công trình thủy điện Bản Vẽ tại huyện Tương Dương khiến 18 công nhân tử nạn. Ngày 12-1-2008, tai nạn sập mỏ đá Lèn Nậy tại thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu khi đang có nhiều người làm việc, khiến 3 người chết, 7 người bị thương, tất cả đều là nữ. Ngày 28-8-2008, vụ sập hầm khai thác thiếc tại xã Châu Thành (huyện Quỳ Hợp) làm 3 người chết. Và theo báo Bưu điện Việt Nam, còn nhiều vụ tai nạn nhỏ lẻ xảy ra trên địa bàn tỉnh này. Thống kê mới của ngành chức năng cho biết, hơn 100 người dân đã bị chết vị sập mỏ đá, sập hầm từ năm 2007 đến nay.
Ông chủ khai thác mỏ có thể rồi sẽ bị tuyên án. Báo chí có thể cũng sẽ không tiến thêm được bước nào ngoài việc lấy nước mắt qua những bài mô tả thống thiết của mình. Mọi việc có thể rồi sẽ trôi qua. Nhưng nếu mọi việc dừng lại ở đó thì kinh nghiệm chỉ ra rằng, dù có những quy định chặt chẽ đến đâu (về cấp phép, về quy trình khai thác), dù có “quyết liệt” rà soát bao nhiêu lần, nếu không xác lập được cơ chế, bộ máy và con người làm công việc giám sát, hậu kiểm chặt chẽ, nghiêm ngặt, công minh và nhất là không thể mua chuộc thì vẫn sẽ còn đó nguy cơ xảy ra những Lèn Cờ khác. Vấn đề không chỉ là quy trình, vấn đề là phẩm chất của bộ máy và con người bảo đảm cho quy trình được thực hiện.
Mạng rùa và mạng người hẳn là không thể đặt lên cùng một bàn cân, dù rùa ấy có quý hiếm đến đâu. Rùa hiếm cần được cứu, hẳn rồi, nhưng bảo toàn tính mạng hàng chục, hàng trăm con người còn đáng quan tâm hơn. Song xem ra cán cân đang nghiêng về tính mạng rùa. Một so sánh đơn giản về lượng: thử gõ mấy từ “cứu rùa Hồ Gươm” vào ô tìm kiếm Google trên mạng ta có tới 3.870.000 kết quả, còn với mấy từ “sập mỏ đá Lèn Cờ” ta có được 1.320.000 kết quả. Không rõ chúng ta đang hướng về đâu?

18 MẠNG NGƯỜI MÀ NHẸ NHƯ KHÔNG !

Trả lời phỏng vấn VietNamNet (9/4/2011) về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong vụ sập mỏ đá Lèn Cờ ở Yên Thành, Nghệ An hôm 1-4 khiến 18 người chết thảm và 6 người bị thương, ông Huỳnh Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nói: “Hiện nay, UBND tỉnh đang giao cho cơ quan điều tra xác định nguyên nhân, khi đó mới tìm ra trách nhiệm cụ thể. Để xảy ra một điều như thế là không hay. Đây cũng là một bài học kinh nghiệm để tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo quản lý công tác này tốt hơn, cần chấn chỉnh lại để tránh xảy ra sự việc đáng tiếc như vừa rồi. Đó là sự việc cần rút ra những kinh nghiệm sâu sắc trong công tác quản lý.”
“Để xảy ra một điều như thế là không hay” (sic). Nếu tường thuật của phóng viên VietnamNet là đúng thì ông Phó Chủ tịch quả thực có tài hóa phép: 18 mạng người mất đi mà nghe nhẹ tựa lông hồng, không hay.
Ông Phó chủ tịch tỉnh lại nói: “Đối với tỉnh thì lâu nay cũng đã tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Giao nhiệm vụ cho các ngành, các cấp để mà kiểm tra các hoạt động khai thác khoảng sản, đặc biệt là đối với đá xây dựng. Trong tháng 3/2011, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đã làm việc tại huyện Yên Thành cũng nêu lên vấn đề kiểm tra khai thác khoáng sản tại đây. Sau đó thì đồng chí Chi phó chủ tịch (ông Nguyễn Đình Chi, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An) cũng có công văn chỉ đạo giao cho huyện Yên Thành về vấn đề khai thác khoáng sản. Việc xảy ra sự việc tại mỏ đá là một điều đáng tiếc.” Lại cũng chỉ là đáng tiếc! Nhưng người ta còn có thể đặt câu hỏi, nếu có “tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc”, vì sao không phát hiện chủ mỏ đá tổ chức khai thác không đúng quy trình, vi phạm quy tắc an toàn lao động, như kết luận sau khi tai nạn đã xảy ra? Hẳn là tất cả những chỉ đạo, giao nhiệm vụ, kiểm tra, đôn đốc – nếu có – chỉ là hình thức. Đó là chưa nói đến những khả năng khác khiến mọi sự kiểm tra, đôn đốc… có cũng như không. Chỉ đến khi tai nạn thảm khốc xảy ra, những mạng người đã bị cướp đi một cách oan uổng, người ta mới nói đến việc rà soát lại quy trình, đến siết chặt kiểm soát, đóng cửa mỏ, và bắt giam chủ mỏ.
Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở quy trình, ở kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp là chủ mỏ. Bởi tai nạn này không phải là đơn lẻ. Trước vụ sập mỏ đá Lèn Cờ, từ  cuối năm 2007 đến 2011, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã liên tiếp xảy ra những vụ sập hầm mỏ thương tâm: 15/12/2007, sập núi đá tại công trình thủy điện Bản Vẽ (huyện Tương Dương) làm 18 công nhân bị đá đè chết khi đang làm việc; 12/1/2008, sập mỏ đá Lèn Nậy, tại thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, làm chết 3 người và 7 người bị thương; 28/8/2008, sập hầm khai thác quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, làm 3 người chết tại chỗ. Cho nên, vấn đề chính nằm ở bộ máy và con người bảo đảm cho những quy trình ấy, từ cấp phép đến giám sát việc khai thác, luôn luôn được tuân thủ. Nếu không nhìn thẳng vào đây thì e sẽ còn những vụ Lèn Cờ khác.
Nếu còn một vấn đề, cũng có thể nói là một nguyên nhân nữa của những vụ tai nạn thương tâm như ở Lèn Cờ thì đó là nhận thức nhẹ như không về mạng người của những vị mà trách nhiệm được giao không hề nhỏ. Trong khi cách đấy mấy trăm cây số người ta đang bấn lên về bệnh tật của mấy chú rùa thì ở đây mạng người sao mà nhẹ!

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

QUYỀN LỰC VÀ PHÁP LUẬT

     
            Cựu Tổng thống Israel Moshe Katsav vừa bị tòa án nước này kết án bảy năm tù giam về tội hiếp dâm, quấy nhiễu tình dục nữ nhân viên. Chính quyền Israel, dù biết scandal này làm tổn hại uy tín tầng lớp lãnh đạo, phải thừa nhận rằng bản án chứng tỏ nguyên tắc bình đẳng  trước pháp luật của mọi công dân. Và đó chính là điều mang lại uy tín cho đất nước.
Viện công tố Ukraina mới đây cũng đã khởi tố, mở cuộc điều tra về nghi án cựu Tổng thống Leonid Kouchma, khi còn nắm quyền, dính líu tới vụ sát hại nhà báo Georgy Gongadze, người sáng lập báo mạng Ukrainska Pravda - sự kiện từng gây chấn động đất nước này. Ông Leonid Kouchma còn bị cấm xuất ngoại để phục vụ công việc điều tra.
Trước đó, cựu Tổng thống Jacques Chirac, chính trị gia kỳ cựu trên chính trường Pháp đã trở thành cựu nguyên thủ quốc gia đầu tiên từ sau Thế chiến II đến nay của nước này bị đưa ra xét xử vì bị cáo buộc đã sử dụng lạm dụng công quĩ khi còn là thị trưởng Paris từ năm 1977 đến năm 1995. Vị cựu tổng thống 78 tuổi cũng bị cáo buộc đã sử dụng ngân sách thành phố để trả tiền cho các phụ tá chính trị của ông. Trước đó, khi còn là tổng thống từ năm 1995-2007, ông đã được miễn tố. Nếu bị kết tội, ông Chirac sẽ phải đối mặt với án tù 10 năm và một khoản tiền phạt tương đương 210.000 đôla.
Những điều đó cho thấy, trong một nhà nước pháp quyền, luật pháp là tối thượng và không ai có thể đứng trên pháp luật.
Đó là chuyện ở xứ người. Tất nhiên, mỗi đất nước có một thể chế riêng, hệ thống pháp luật riêng. Nhưng dù thế nào, trong một nhà nước tự nhận là pháp quyền thì thượng tôn pháp luật phải là nguyên tắc đầu tiên, phổ biến, chung nhất. Và ai vi phạm pháp luật thì phải bị trừng phạt theo đúng quy định của pháp luật.

                                      ***
Ông Bùi Minh Thắng là cảnh sát. Nhưng ông không phải là cảnh sát thường. Ông là thiếu tá, phó phòng cảnh sát giao thông của một tỉnh, tức cũng thuộc hàng lãnh đạo. Cha ông lại là giám đốc công an tỉnh. Nhưng ông không những không chấp hành luật giao thông mà lẽ ra, hơn ai hết, ông phải chấp hành và ra sức bảo vệ; ngược lại ông còn buộc người khác phải phạm luật vượt đèn đỏ và khi người ta, ở đây là một tài xế taxi chở ông, không chịu phạm luật thì ông hành hung. Chẳng những thế, theo tường thuật của báo chi, khi những cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tại chỗ, trên địa bàn một tỉnh khác, can thiệp, ông còn chửi bới, làm nhục bằng cách bắt phải quỳ gối xin lỗi và dọa bắn khi người cảnh sát giao thông kém ông mấy cấp bậc kia không chịu xin lỗi.
          Có nhiều câu hỏi có thể đặt ra từ vụ việc này. Như, dựa vào đâu mà ông Thắng có thể tự cho phép mình đứng trên, xem thường pháp luật và hành xử hống hách như vậy? Hoặc, quy trình đào tạo, tuyển dụng, cất nhắc thế nào mà lại để cho một người có lối hành xử như vậy leo lên đến chức phó phòng một cơ quan bảo vệ pháp luật. v.v…? Nhưng câu hỏi cốt lõi là những người như ông Thắng quan niệm thế nào về quyền lực được trao vào tay họ, bởi chính quan niệm về quyền lực công này chi phối cách họ hành xử quyền lực ấy. Khi ông Thắng buộc tài xế phải vượt đèn đỏ và hành hung tài xế không người này không nghe theo và không chịu chở ông chạy tiếp, cũng như khi ông làm nhục và dọa bắn viên cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, ông Thắng đang say xỉn nhưng rõ ràng cách ông hành xử, cách ông chứng tỏ uy quyền cho thấy ông rất có ý thức về quyền lực của mình. Một người bình thường, đố ai dám làm thế, trừ khi là cướp. Cách hành xử của ông Thắng phải chăng cho thấy, trong suy nghĩ của ông, quyền lực mà ông nắm trong tay không phải là do nhân dân trao cho để phục vụ nhân dân, mà do anh Ba, chú Tư hay bác Năm … nào đó trao cho và ông muốn hành xử thế nào tùy ý, miễn không làm phật lòng cấp trên hoặc những người gửi gắm ông.
           Chính cái kiểu hành xử quyền lực tùy tiện như vậy, và không chỉ trong lĩnh vực luật giao thông, là cú đấm vào luật pháp, làm suy yếu hiệu lực của pháp luật. Người dân có quyền nghĩ và sẽ nghĩ: những người đại diện cho pháp luật, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật mà còn làm như vậy nữa là… Cho nên, đừng vội trách người dân không có “văn hóa” giao thông. Trước hết hãy xem lại “văn hóa” hành xử quyền lực kiểu như ông Thắng. Chính lối hành xử “thượng bất chính” ấy sẽ vô hiệu hóa mọi chiến dịch tuyên truyền “văn hóa” giao thông trong dân và lâu dần tạo nên hiệu ứng xem thường pháp luật nơi người dân.
          Cũng như vậy là hiện tượng “làm luật” ở nhiều trạm kiểm soát giao thông, là việc những chiếc xe tải chở vật liệu được gọi là “xe vua”, “xe hung thần” vì có ai đó đứng sau bảo kê, tự cho phép mình chạy bừa, bất chấp luật lệ giao thông, gây ra không ít tai nạn thương tâm.
Không ít nghị quyết, văn kiện của Đảng và nhà nước khẳng định việc xây dựng nhà nước pháp quyền (xã hội chủ nghĩa). Có thể nào xây dựng nhà nước pháp quyền nếu những hiện tượng tự cho phép mình dựa vào mối quan hệ với ai đó mà đứng trên, xem thường pháp luật tiếp tục kéo dài?
Rốt cuộc thì ông Thắng chỉ bị phạt hành chính với số tiền phạt 2,2 triệu đồng. Với cách hành xử quyền lực công như ông đã làm, lấy gì bảo đảm ông sẽ không lặp lại điều đó trong một hoàn cảnh khác, một khi ông vẫn tiếp tục ở trong ngành?
          

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

LÀM GÌ ĐỂ BẢO VỆ NHÂN PHẨM CỦA CÔNG DÂN?


Hai cô gái mại dâm bị bắt, chẳng những không được ném cho cái quần, cái áo mặc vào che thân trước khi lập biên bản, còn bị quát mắng và buộc phải đứng thẳng, ngẩng mặt, dang hai tay để 4-5 người hành xử quyền lực công chụp ảnh trong tình trạng lõa lồ. Cuối clip, như không chịu đựng nổi nữa sự tủi nhục tận cùng, một cô ngồi phịch xuống giường, ôm mặt bật khóc. “Mày khóc cái gì?” Lại quát.
Công an tỉnh Quảng Ninh đã xác định cái video clip ghi cảnh bắt hai cô gái mại dâm gây bức xúc dư luận mấy ngày qua là do một số cán bộ công an thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm trật tự xã hội thuộc công an thị xã Cẩm Phả thực hiện. Và cái clip đó, sau khi được chuyền tay trong một số cán bộ công an thị xã Cẩm Phả, đã được tung lên mạng internet. Xem clip, không thể tránh khỏi ý nghĩ: tàn nhẫn. Hay nói như thạc sĩ tâm lí học Nguyễn Minh Đức, viện Khoa học giáo dục Việt Nam, đó là sự vô nhân đạo. Những khái niệm nhân phẩm, nhân quyền hay nhân đạo dường như xa lạ với những người thực thi quyền lực công này, và dường như cách hành xử đó đối với họ là hết sức bình thường. Bởi nếu không, đã phải có ai đó trong số họ sau khi xem lại clip thấy không ổn và huỷ nó đi. Đàng này không…
Dù có phạm tội, hai cô gái ấy vẫn là những công dân, những con người có nhân phẩm. Vả chăng tội mại dâm, bán thân nuôi miệng đâu phải là tội hình sự ghê gớm gì như giết người cướp của hay xâm phạm an ninh quốc gia. Đại diện cho nhà nước hành xử quyền lực công sao có thể xưng hô, có thể quay phim xúc phạm nhân phẩm công dân, vi phạm quyền nhân thân một cách thô bạo như vậy? Phải chăng một khi được trao quyền lực vào tay, những người này tin rằng mình có thể hành xử với công dân ra sao cũng được? Với danh nghĩa bảo vệ luật pháp, bảo vệ đạo đức xã hội, họ đã vi phạm pháp luật, chà đạp đạo đức, luân thường xã hội .

Tác hại của vụ này là không nhỏ, trước hết là đối với hình ảnh của những người đại diện cho quyền lực công, cho luật pháp, cho trật tự và đạo đức xã hội. Mặt khác, với cách hành xử thô bạo, tàn nhẫn như vậy của những người đại diện cho quyền lực công với công dân, người ta có quyền đặt câu hỏi: liệu có phải ngạc nhiên khi bạo lực ngày càng có xu hướng lan tràn trong xã hội? Và liệu có mối liên hệ gì chăng giữa cách hành xử thô bạo với các cô gái mại dâm trong clip này với những trường hợp một số công dân vi phạm pháp luật, chẳng hạn luật giao thông, bị đánh tại chỗ hoặc bị bắt về đồn rồi đột tử một cách khó hiểu?
Ngành công an đã phản ứng nhanh chóng trước sự việc này, đã sớm tìm ra những người xem thường nhân phẩm, vi phạm quyền nhân thân của công dân qua việc quay và chuyền tay nhau cái clip kia. Nhưng chỉ trừng phạt người có hành vi xâm phạm nhân phẩm, quyền nhân thân của công dân và người phát tán “tài liệu mật” là chưa đủ. Để không xảy ra nữa những vụ tương tự, cần đảm bảo, trước khi trao quyền lực công vào tay ai đó, người ấy phải được dạy và nắm chắc cách hành xử đúng mực, đúng quy định của pháp luật với mọi công dân. Hơn thế, cần củng cố hoặc bổ sung những thiết chế luật pháp và xã hội hữu hiệu chứ không chỉ trên giấy để đảm bảo quyền nhân thân, nhân phẩm của công dân được bảo vệ trong mọi hoàn cảnh.
Người viết bài từng mong cái clip kia là giả, là dàn dựng để khỏi phải bàn về nó. Nhưng gây bức xúc dư luận xã hội trong trường hợp này lại không phải là những người đưa tin mà chính là một số người được trao nhiệm vụ thực thi quyền lực công. Cuộc sống không chỉ có một mặt. Và người đưa tin có thể nào làm như không biết?


*Theo báo Dân Trí, ông Lê Hồng Anh, bộ trưởng Công an cho rằng “việc bắt người, giữ người phải đảm bảo chứng cứ, cho nên việc quay phim, chụp ảnh là nằm trong nghiệp vụ. Tuy nhiên, việc đưa clip lên mạng là vi phạm”.

*Còn theo báo Người Lao động, Trung ương Hội LHPN Việt Nam cũng cho biết sẽ phối hợp với cơ quan chức năng để làm rõ và có văn bản nêu ý kiến chính thức để bảo vệ nhân phẩm phụ nữ. Nói với NLĐ, Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH) Nguyễn Văn Minh cho biết, quy trình bắt quả tang các đối tượng mại dâm không cho phép quay phim khỏa thân như vậy.

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Lỡ tàu


“Bây giờ chúng ta mong muốn anh (Ngô Bảo) Châu về nước làm việc. Tại sao những người như anh ấy phải quay về Việt Nam? Điều ấy được nói ra đã muộn mất 20 năm rồi. Nay Việt Nam không còn cơ hội dùng những người như vậy với tư cách các nhà khoa học nữa. Việt Nam đã lỡ con tàu đó rồi… Việt Nam đã mất ba thế hệ khoa học rồi”. Đó là những câu nói đượm buồn và đầy vẻ tiếc nuối cho chính đất nước chúng ta của Giáo sư Pierre Darriulat, một nhà vật lý hàng đầu quốc tế, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, người đã thành lập phòng thí nghiệm vật lý tia vũ trụ đầu tiên của Việt Nam đặt tại Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân, đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ về vật lý tia vũ trụ, người - như chính ông tự nói về mình- “đã sống ở Việt Nam hơn mười năm và đang cống hiến phần còn lại của cuộc đời tôi cho Việt Nam” (Trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ra ngày 12-9-2010).
Bernard Tan, giáo sư - tiến sĩ, trưởng khoa công nghệ thông tin Đại học Quốc gia Singapore (NUS) , chủ tịch Hội Quản trị hệ thống thông tin quốc tế, giảng dạy tại nhiều đại học danh tiếng thế giới, và là biên tập viên một số tạp chí có uy tín về khoa học thông tin và khoa học quản lý, khẳng định: “Hễ người giỏi là chúng tôi (NUS) tiếp nhận, mời gọi”. Ông cho hay: “Singapore không có tài nguyên, nên chính sách nhân lực là quan trọng nhất, là nguồn tài nguyên quý nhất. Ngay từ khi đất nước mới độc lập (1965), ưu tiên số một của chính phủ là làm cho mỗi người dân trở thành những công dân có khả năng cao hơn, giỏi hơn. Trong những thập kỷ vừa qua, chính phủ đã tập trung tối đa cho phát triển giáo dục, nghiên cứu, lập ra những trường đại học chất lượng cao để thu hút sinh viên giỏi, đồng thời đưa người giỏi ra nước ngoài học. Với một nước nhỏ, dân số ít, phải kiên trì với chính sách này trong nhiều năm, Singapore mới có đủ nhân tài để phát triển như hôm nay… Mới đây, nhân Quốc khánh Singapore, chính phủ đã ban hành quyết định Phủ thủ tướng sẽ là cơ quan điều phối hai vấn đề: quản trị dân số và quản trị tài năng” (Trả lời phỏng vấn báo Sài Gòn Tiếp Thị ra ngày 10-9-2010).
Tất cả những thông tin, ý kiến này thật ra không hoàn toàn mới. Nhiều người Việt Nam, nhà khoa học Việt Nam, cả các nhà lãnh đạo cũng biết và từng nói. Nhưng năm này qua năm khác, hết kế hoạch này đến kế hoạch khác, thế hệ này qua thế hệ khác, đất nước vẫn chưa thoát ra khỏi mớ bòng bong cải cách giáo dục, vẫn chưa có được một chiến lược đào tạo và sử dụng tài năng, hay nói như ông Bernard Tan, “quản trị tài năng”. Chúng ta nói rất hay khi mượn lại một câu của tiền nhân: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và nói xong rồi thì chẳng có một kế hoạch thực hiện nào cả. Nóng lòng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển trước ta, có người hô “phải đi tắt, đón đầu” mà không chú trọng đến tri thức. Đi tắt, đón đầu mà không có tri thức thì rất dễ sụp hố. Như - chỉ để lấy ví dụ mới nhất - Vinashin muốn nhanh chóng phình to, trở thành tập đoàn đóng tàu có tên tuổi trong khi quản trị công ty kém cỏi, đã lâm cảnh phá sản và trở thành gánh nặng cho quốc gia, phải được nhà nước giải cứu bằng tiền ngân sách.
Cho nên, từ muốn (ý chí chủ quan) đến biết (tri thức đúng, cần thiết) và hành động (có kế hoạch cụ thể, chặt chẽ chứ không phải là hô khẩu hiệu) để phát triển đất nước là những chặng đường không thể tuỳ tiện bỏ qua, làm liều, đặc biệt là khâu biết. Mà muốn biết thì phải học, phải mời người giỏi dạy cho và phải trọng dụng người giỏi. Chân lý thật đơn giản như ông bà ta nói “muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Vậy mà trong thực tế, trong các nấc thang của bộ máy quản trị quốc gia, không phải bao giờ người ta cũng hành động như vậy. Nạn chạy chức chạy quyền, tay chân bè phái, đố kỵ và trù dập người tài, người cương trực là một bí mật mà ai cũng biết. Trong môi trường đó, liệu người tài và cương trực có thể tồn tại mà không đánh mất mình? Và ở phạm vi quốc gia, ai “quản trị các tài năng”?
“Việt Nam đã lỡ con tàu đó rồi”, lời nhận xét của GS Darriulat nghe sao mà nhức nhối. Điều gì đã khiến chúng ta lỡ con tàu phát triển khoa học, tri thức và sử dụng nhân tài để thu hẹp khoảng cách tụt hậu với các nước dù đất nước đã có 35 năm hoà bình (nền độc lập của Singapore chỉ dài hơn 10 năm), nguồn lực tăng gấp đôi (từ hai miền chia cắt thành một đất nước thống nhất)? Đó là câu hỏi cần trả lời khi đất nước lại sắp sửa bước vào một chặng đường mới với bao kỳ vọng xen lẫn âu lo: làm thế nào để 20 năm sau chúng ta không còn phải nghe lại câu nói nhức nhối “các bạn đã lỡ con tàu đó rồi”.

Đất và lòng dân


Thảo luận báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2010 tại cuộc họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hôm 27.9, chủ nhiệm Ủy ban Tài chính -  Ngân sách Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu một băn khoăn có lẽ không chỉ của riêng ông trong bối cảnh hiện nay: những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước khá cao, năm 2010 khoảng 6,7% (theo giá cố định), thu nhập đầu người cũng tăng, vậy thì nguyên nhân nào khiến người dân “toan lo nghèo khó, côi cút làm ăn” lại phải kéo nhau lên huyện, lên tỉnh, thậm chí lên Trung ương để khiếu kiện?
Nói ngắn gọn, kinh tế tăng trưởng, sao lòng dân chưa yên?
Bởi, theo báo cáo của Chính phủ, tình hình khiếu nại, tố cáo năm 2010 vẫn tiếp tục tăng so với năm 2009. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương đã tiếp nhận và xử lý 157.797 đơn khiếu nại, tố cáo (tăng 29,8%) về 112.063 vụ việc (tăng 17%). Số lượt công dân đến các cơ quan Nhà nước khiếu nại, tố cáo gia tăng với 379.989 lượt người (tăng 23,7%), khiếu kiện đông người cũng tăng 43,11% - báo cáo nêu rõ.

Như nhiều năm trước đây, nội dung khiếu nại chủ yếu vẫn tập trung vào lĩnh vực đất đai (69,9%). Còn tố cáo chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, mà đứng hàng đầu vẫn là về quản lý đất đai.

Ông Hiển nêu tiếp câu hỏi: chi cho quản lý hành chính tăng, biên chế cũng có xu thế tăng lên, lương cũng tăng… tại sao không đi đôi với tăng hiệu quả giải quyết công việc và giải quyết khiếu nại, tố cáo? Nguyên nhân thuộc về cơ chế hay tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nóng, phát triển kinh tế chưa đi đôi với giải quyết vấn đề xã hội?
Cũng theo ông Hiển, nếu chỉ đổ tại cơ chế mà không quan tâm đến con người thì rất khó có thể cải thiện được tình hình. Nhiều cán bộ xã làm sai không biết là sai vì mới chỉ học hết trung học, cán bộ huyện cũng yếu nên đơn thư khiếu nại, tố cáo cứ tích tụ lại và dồn lên cấp cao hơn. Nhiều ý kiến thảo luận cho rằng, tình hình khiếu nại, tố cáo không giảm và vẫn diễn biến phức tạp phản ánh tình trạng kém hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; năng lực, trình độ cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức.
Đúng là cơ chế, con người, năng lực, trình độ, phẩm chất cán bộ công chức… tất cả đều có phần của nó trong nguyên nhân làm cho khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng. Nhưng mấu chốt có lẽ không phải ở đó, bởi những nguyên nhân kể trên ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực chứ không riêng lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo. Mấu chốt vấn đề là ở tỉ lệ gần 70% nội dung đơn thư khiếu nại là về đất đai: thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Đất, hay chính xác hơn, những quy định luật pháp về đất đai chính là cái nút cần phải gỡ, nếu muốn giải quyết tình trạng khiếu kiện kéo dài và ngày càng tăng.
Dù, theo Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng, “đừng nghĩ rằng sửa được chính sách trong luật Đất đai thì khiếu nại tố cáo giảm đi, bởi như nghị định 69 năm 2009, tăng mức đền bù gấp 1,5 đến 5 lần, người bị thu hồi sau được lợi hơn những người trước, khiếu nại, tố cáo về đất đai sẽ tiếp tục gia tăng”, thì có lẽ không ai không đồng tình rằng những quy định trong luật Đất đai năm 2003 và nghị định 69 như: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng” (giá do chính quyền áp đặt) chính là nguồn gốc của hầu hết khiếu kiện của nông dân.
Với quy định này, mặc dù là đồng sở hữu chủ đất đai trên danh nghĩa (đất đai thuộc sở hữu toàn dân) nhưng khi bị buộc phải giao đất cho người khác, đồng sở hữu chủ là nông dân lại không có quyền thương lượng về giá đối với mảnh đất mà mình “sở hữu”. Nếu được quyền thương lượng, hẳn nông dân sẽ không bán mảnh đất của mình “theo giá đất cùng mục đích sử dụng” (đất nông nghiệp) mà theo giá kỳ vọng có dự án tương lai, và chủ đầu tư dự án, nắm chắc là có lời mới xin đầu tư, cũng sẽ phải mua theo giá kỳ vọng đó. Nhưng điều đó đã không xảy ra khi Nhà nước, lấy tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân, buộc nông dân giao lại đất với giá do Nhà nước áp đặt để rồi, cùng mảnh đất đó, khi qua tay chủ dự án và được chuyển đổi mục đích sử dụng, có thể lập tức được bán lại với giá gấp hàng trăm lần. Lợi ích từ đất đai “sở hữu toàn dân” thay vì được chia đều lại chỉ chảy chủ yếu vào túi nhà đầu tư và những cán bộ được nhà đầu tư lại quả. Đó là một nghịch lý và là nguồn gốc của bất công, của khiếu kiện kéo dài khiến lòng dân chưa yên, dù kinh tế nhìn chung có tăng trưởng – một sự tăng trưởng mà lợi ích chưa được chia đều.  
Riêng trong vấn đề này, phải đồng ý với ông chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn khi ông nhấn mạnh: Phải sửa luật Đất đai càng nhanh càng tốt, chừng nào không sửa luật Đất đai thì không thể thay đổi thực trạng (khiếu kiện của dân). Ông Đàn cũng đề nghị xem lại nghị định 69 liên quan đến quy định về đền bù giải phóng mặt bằng. Xa hơn và căn bản hơn, để tránh sự lợi dụng khái niệm “sở hữu toàn dân” trong việc quy hoạch sử dụng, thu hồi, đền bù giải toả đất đai của các cấp chính quyền, cần xác lập lại một cách đúng đắn hơn, phù hợp với thực tế hơn các hình thức sở hữu đối với đất đai như nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất, bao gồm sở hữu công (sở hữu quốc gia, sở hữu của chính quyền trung ương và địa phương), sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể hay cộng đồng.

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

CHẲNG CÒN GÌ THIÊNG ?


(Nhân Ủy ban Kiểm tra trung ương vừa kết luận có sai phạm trong vụ xây tượng đài Điện Biên Phủ, đăng lại một bài đã đăng ngày 10/4 năm nay).

Phiên tòa xử vụ “rút ruột” tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ (gọi một cách vắn tắt) đã phải tạm ngưng để điều tra, làm rõ thêm những số liệu chưa thống nhất về mức độ bị “rút ruột”, những cáo buộc đưa và nhận hối lộ,v.v… Bản án vẫn chưa được tuyên. Tuy nhiên, với những gì mà các bị cáo đã khai tại phiên tòa, và với hiện trạng tượng đài đang bị vây bọc giữa lô nhô giàn giáo để dậm vá, sửa chữa sau gần 6 năm khánh thành, một người bình thường không thể không đặt câu hỏi: Vì sao điều ấy (việc rút ruột) lại có thể xảy ra với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, một chiến thắng được xem là “chấn động địa cầu”, kết quả của cuộc kháng chiến cam go và đầy hy sinh của toàn dân tộc? Phải chăng, với những người trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới việc “rút ruột” này, lịch sử chẳng là cái gì, và chẳng có cái gì là thiêng liêng cả? Bởi, với một người bình thường, “ăn” vào lịch sử, “ăn” cả vào những cái được coi là thiêng liêng, chỉ nghĩ đến thôi đã phải rụt tay lại. Vậy nhưng vẫn có người “ăn” được. Phải chăng hiện tượng “ăn được chỗ nào là ăn” đã phổ biến đến mức, ngay cả với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, người ta cũng không chừa?
Mà họ, những người toa rập với nhau để “rút ruột” tượng đài, nào phải đâu là những công dân bình thường? Họ là những người có vai vế, có địa vị xã hội, có học thức, là phó giám đốc sở văn hóa thông tin, phó giáo sư, tiến sĩ, giám đốc công ty mỹ thuật… Tức những người thường rao giảng về cái đẹp và lẽ ra phải bảo vệ cái đẹp; hiểu biết lịch sử và lẽ ra phải góp phần tôn vinh lịch sử, chí ít cũng phải hiểu được đâu là cái thiêng liêng không thể tơ hào, không thể xâm phạm.
Nhân vụ án này, nhiều người đã nói đến chuyện niềm tin. Phải, nhớ lại 6 năm trước, khi tượng đúc xong và được vận chuyển về Điện Biên vào kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, báo chí đã tường thuật háo hức như thế nào, công chúng đã quan tâm theo dõi như thế nào để rồi sau đó ít lâu mới hay niềm tin của mình đã bị “rút ruột” như thế nào. Quả thật, đây là một đòn đánh vào niềm tin của người dân vào những giá trị thiêng liêng, cao đẹp. Ở đây, chuyện ăn gian chính xác bao nhiêu tấn đồng không quan trọng bằng chuyện niềm tin bị đánh cắp. Mà khi niềm tin bị đánh cắp, khi người ta -  nhất là người trẻ - cảm thấy không còn tin được nữa, kể cả vào những cái vốn được coi là thiêng liêng, thì hậu quả xã hội sẽ khôn lường. Những điều thiêng liêng khác, chẳng hạn như mạng sống con người, cũng sẽ bị coi rẻ. Việc người ta lấy mạng nhau chỉ vì một va quẹt nhỏ trên đường, việc học sinh đâm chết bạn trong lớp chỉ vì một xích mích nhỏ - những sự việc như thế xảy ra ngày càng nhiều - phải chăng phản ánh sự chới với, mất niềm tin đó?
Và điều nghịch lý là, trong khi có những cái cần giải thiêng để con người sống theo lý tính hơn là chỉ theo cảm tính và niềm tin mù quáng, thì không được giải thiêng; ngược lại, có những điều thiêng liêng cần gìn giữ, bảo vệ thì có người, lẽ ra phải góp phần gìn giữ, bảo vệ lại chẳng coi ra gì và tìm cách “ăn” cả vào đấy. Trách sao ta không tránh khỏi phải chứng kiến những đảo lộn đau lòng.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Từ vụ bản đồ của NGS và Google …

Vụ Hội Địa lý Quốc gia Hoa kỳ (NGS) và cả Google đưa lên mạng internet những bản đồ thông tin sai lạc về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam - giống như một số vụ tương tự trước đây, cũng do chính các công dân chứ không phải các cơ quan chức năng của nhà nước phát hiện ra - một lần nữa cho thấy sự yếu kém và sự trì trệ trong thông tin đối ngoại, đặc biệt liên quan tới chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Bởi đây không phải là vụ duy nhất, cũng không phải mới. Ngay từ năm 2006, Cục Bản đồ Quốc gia Trung Quốc đã đưa lên mạng internet và cho phép công chúng tải miễn phí các bản đồ được gọi là "đúng đắn về mặt chính trị", trong đó ghi các quần đảo Hoàng sa và Trường sa là thuộc Trung Quốc, và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khi ấy, ông Lê Dũng đã được phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước vấn đề này (VnMedia 13-7-2006). Ấy thế mà việc làm đó của phía Trung Quốc vẫn không đánh thức được các cơ quan liên quan của Việt Nam nhằm cung cấp những bản đồ trực tuyến về Việt Nam cho mọi người quan tâm trên thế giới.

Thực tế cho đến nay, rảo qua các bản đồ Việt Nam trên mạng, trong khi Googlemaps (tuy có sai lạc như đã nói) và một số trang web của công ty tư nhân như Vietbando khá phổ biến và thân thiện với người dùng thì bản đồ trên trang web của các cơ quan nhà nước trực tiếp liên quan, từ Cục Đo đạc – Bản đồ đến nhà xuất bản Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên – môi trường, phải nói là đáng thất vọng. Ngoài sự nghèo nàn về nội dung, khó truy cập và không thân thiện với người dùng, còn không có bản đồ ghi chú bằng tiếng Anh. Những thông tin khác bằng tiếng Anh thì khá nhiều lỗi. Trách sao không có những vụ như vụ bản đồ của NGS và Google!

Bộ Ngoại giao Viêt Nam và Hội Địa lý Việt Nam đã lên tiếng phản đối và yêu cầu NGS và Google đính chính. Đã có những kiến nghị thu thập chữ ký trên mạng để gửi tới NGS, yêu cầu sửa sai. Nhưng, nói như ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường và là chủ tịch Hội Trằc địa – Bản đồ - Viễn thám Việt Nam trong cuộc trả lời phỏng vấn trang mạng Bee.net.vn, đừng chỉ biết phản đối. Quan trọng hơn là xem xét lại ta đã làm gì để cung cấp thông tin đúng đắn cho thế giới, là hành động. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, cổ nhân đã dạy.

Ngoài phát ngôn chính thức của Bộ Ngoại giao, ngoài việc trao đổi thông tin, tư liệu giữa các tổ chức, hội đoàn của Việt Nam với các tổ chức, hội đoàn nước ngoài có liên quan đến vấn đề này như ý kiến của ông Đặng Hùng Võ, theo chúng tôi, để tác động tới nhận thức của công chúng rộng rãi trên toàn cầu, cần nhanh chóng, tích cực đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại về chủ quyền lãnh thổ qua mạng internet. Các cơ quan chức năng của nhà nước, trước khi nghĩ đến việc bán các bản đồ như trang web của nxb Bản đồ, cần phổ biến miễn phí các loại bản đồ thông dụng, dễ truy cập về Việt Nam trên mạng internet, vì internet vẫn là công cụ tìm kiếm nhanh nhất, tiện dụng nhất và phổ biến rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Cần xem đây là một nội dung cực kỳ quan trọng trong kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử, một công cụ lợi hại nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Và không chỉ có thế, những bản đồ thông dụng như về địa hình, hành chính, mạng lưới giao thông, các điểm du lịch, danh thắng … còn là một cách quảng bá thông tin về Việt Nam và thu hút du khách nước ngoài. Và tất nhiên, muốn đưa thông tin đúng đắn về Việt Nam đến với thế giới, bên cạnh các bản đồ bằng tiếng Việt, nhất thiết phải có những bản đồ ghi chú bằng tiếng Anh là thứ tiếng thông dụng nhất hiện nay trên thế giới.

Hội nhập với thế giới là hợp tác và đấu tranh hàng ngày hàng giờ để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Liệu lần này vụ bản đồ của NGS và Google có đủ sức lay tỉnh các cơ quan nhà nước có liên quan?