Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

HỞ VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHƯA ĐƯỢC NHẮC TỚI


Việc một số ca sĩ, người mẫu ăn mặc hở hang quá lố, phản cảm, vô tình hay cố ý “khoe hàng” đã gây bức xúc trong công chúng gần đây. Các nhà quản lý văn hóa đã tổ chức những cuộc họp để bàn cách giải quyết vấn đề này. Một số người trong giới cũng đã bị phạt. Nhưng xem ra những biện pháp đưa ra chỉ mới tập trung vào những người gây scandal là chính mà chưa đề cập đến những kẻ kích động cuộc chạy đua hở hang này.
Có những bức tranh, bức ảnh khỏa thân nghệ thuật mà người xem chỉ thấy ở đó sự gợi cảm và cái đẹp. Ngược lại, có những bức ảnh hở hang không gợi nên cái gì khác ngoài sự phản cảm. Không biết một số ca sĩ, người mẫu như Thu Minh, Thái Hà, Hà Anh, Bebe Phạm… có bao giờ xem lại những hình ảnh ăn mặc hở hang, phản cảm, nói thẳng ra là xấu, của mình đầy dẫy trên các trang mạng? Nếu có xem lại, không biết họ nghĩ gì? Nếu họ vẫn một mực cho rằng đó là những hình ảnh đẹp, thì thôi, chẳng còn gì để bàn, bởi cái gu của họ là vậy, và giữa họ với đa số công chúng sự cảm nhận về cái đẹp, về ranh giới giữa sự gợi cảm và phản cảm là quá cách biệt, là không cùng tần số, do vậy không thể cùng luận bàn. Và nếu họ vẫn tiếp tục dấn theo con đường đó thì có thể đến một lúc nào đó công chúng sẽ chia tay với họ.
Ngược lại, nếu họ đồng ý với đa số công chúng rằng quả thực những hình ảnh đó là phản cảm, là xấu, thì câu hỏi đặt ra là: Vậy thì ai, cái gì xui khiến họ trình diễn những hình ảnh hở hang, phản cảm đó? Đó là một câu hỏi mà chưa chắc họ đã trả lời được một cách chính xác. Chưa chắc họ đã chỉ ra được một cách cụ thể điều gì xui khiến họ làm như vậy. Giả thuyết đúng nhất có lẽ là: không biết từ lúc nào họ bị đặt trong một cuộc đua kiểu con gà tức nhau tiếng gáy: Cô ta tưởng khoe được vậy, hở vậy là ngon? Vậy mà thấm tháp gì, cô ta có gì mà bày đặt khoe? Mình phải làm ngon hơn, khoe nhiều hơn. Cuộc đua hở hang, “khoe hàng” cứ thế đẩy tới.
Ai, cái gì đã kích động cuộc đua ấy, cuộc đua mà nói theo ngôn ngữ kinh tế học là “cuộc đua xuống đáy” khi các đối thủ cạnh tranh thay vì đua nhau nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ để thu hút khách hàng thì lại đua nhau giảm giá, để chất lượng sụt giảm dẫn đến kết cục là tất cả đều chết, còn trong biểu diễn thì lấy sự hở hang làm đầu để câu khách?
Trên bình diện xã hội, có thể thấy sau thời kỳ “kín cổng cao tường”, khắc khổ, kiêng khem theo kiểu đạo đức “xã hội chủ nghĩa” cũ, thì nay cùng với sự mở cửa về kinh tế, văn hóa và lối sống, một luồng gió khác đang thổi, xã hội trở nên tự do hơn, phóng túng hơn trong quan niệm cũng như hành vi sex. Cái sự hở vì thế được chấp nhận dễ dàng hơn. Mặt khác, chính sự bùng nổ của internet và thông tin trên mạng vốn không bị hạn chế về diện tích như báo in và cũng dễ dàng vượt qua các hàng rào kiểm soát hơn, đã góp phần không nhỏ vào sự bùng nổ của sex và sự hở hang, kể cả sự hở hang quá lố, phản cảm, trên các phương tiện truyền thông. Chỉ cần rảo qua một số trang web và báo mạng, sẽ thấy rất rõ điều này. Lấy ngẫu nhiên một tờ báo mạng chính thức có nhiều người truy cập vào một ngày bất kỳ, thấy trong 12 đầu tin trên trang chủ ngày 18.5.2012 đã có đến 5 tin loại câu khách rẻ tiền, chẳng khác sự hở của một số ca sĩ, người mẫu là mấy: Mánh săn đại gia trên mạng của kiều nữ ; Nữ sinh vào phòng 'là thầy đóng cửa'; Kết luận bất ngờ vụ nữ sinh tố thầy hiếp dâm; Chân dài-Đại gia và sự phũ phàng của xã hội; 9x rủ nhau vào siêu thị làm chuyện… người lớn. Cũng tờ báo mạng ấy, ngày 20.5, trong 12 đầu tin ở mục tin đọc nhiều nhất thì có đến ít nhất 4 tin thuộc loại khêu gợi sự tò mò nhằm câu khách như: Vào khách sạn, lên giường và …; Khiếp sợ những thầy giáo gạ tình nữ sinh; Giai trẻ bị tình già cắn phăng ‘chỗ ấy’; Kỳ lạ thiếu nữ si mê kẻ ‘hại đời’ mình.

          Đó là chưa kể vô số những trang web đưa vô số những hình ảnh hở hang, nhiều lúc dưới chính cái cớ phê phán sự hở hang. Đưa tin về một ca sĩ gây scandal do ăn mặc quá hở hang hoặc một người mẫu bị bắt quả tang bán dâm, nhiều tờ báo, trang web không bằng lòng với việc đưa một tấm hình đủ để nói về sự kiện liên quan đến người mẫu hay ca sĩ đó mà nhân đó không ngần ngại tung hàng loạt ảnh của người mẫu, ca sĩ chụp ở những tư thế khoe thân, hở hang khác nhau. Có cảm giác như những tờ báo, trang web kia cảm thấy hỉ hả, khoái trá khi đưa những hình ảnh đó. Và đó chẳng khác nào sự kích thích người đọc và cả xã hội đi xa hơn theo chiều hướng ấy. Trong bối cảnh đó, bảo sao một số người trong giới biểu diễn không đua nhau hở và ngày càng hở hơn? Thế nhưng, trong cuộc truy tìm nguyên nhân và tìm biện pháp hạn chế tình trạng hở hang, những phương tiện truyền thông góp phần kích thích xu hướng đó lại không hề được nhắc tới, và tất nhiên cũng chẳng có biện pháp nào được đưa ra nhằm hạn chế họ.
Dù thế nào, dưới mắt công chúng và trong cảm nhận của đa số người Việt, cái gì cũng có giới hạn của nó. Và giữa sự gợi cảm với sự phản cảm bao giờ cũng có một ranh giới, dù là mong manh đi nữa. Những người trong giới biểu diễn và những phương tiện truyền thông tìm cách nổi tiếng hoặc câu khách bằng cách tung ra những hình ảnh hở hang phản cảm có thể “thành công” trước mắt nhưng về lâu dài hẳn sẽ đánh mất hình ảnh đẹp, hạ thấp “thương hiệu” của mình trong mắt công chúng và người đọc. Tuy vậy, câu hỏi đặt ra là: vì sao chỉ những người trong giới biểu diễn bị phạt còn những tờ báo, trang web kích thích xu hướng ấy bằng cách tìm mọi cơ hội để “dội bom” công chúng, người đọc bằng những hình ảnh hở hang phản cảm thì lại không được đề cập tới và coi như vô can? Và nếu như vậy, làm sao có thể chặn đứng “cuộc đua xuống đáy” trong giới biểu diễn?

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Bỏ quên con người

Bốn trăm mười tỉ đồng. Lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, còn lớn nhất Đông Nam Á. Sự tôn vinh Mẹ Việt Nam Anh hùng đã được đo như thế, bằng con số kinh phí và kích cỡ tượng đài mà UBND tỉnh Quảng Nam đã cho xây dựng. Chạy theo sự hoành tráng, theo kỷ lục, theo thành tích, có bao giờ người ta tự hỏi, với số tiền 410 tỉ đồng (từ ngân sách trung ương và địa phương), người ta có thể làm gì để 40.000 bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trong cả nước được sống cuộc sống xứng đáng hơn, được chăm sóc chu đáo hơn, nhà cửa tươm tất hơn, và con cháu, người thân còn lại của các mẹ được học hành đàng hoàng, có công ăn việc làm tử tế, có tương lai vững chắc. Có sự đền ơn nào hơn sự đền ơn ấy? Có sự an ủi nào hơn sự an ủi ấy? Có sự tôn vinh nào hơn sự tôn vinh ấy? Nhưng, mải chạy theo sự hoành tráng, người ta đã quên mất con người. Mải chạy theo xây dựng tượng đài bằng đá để đua tranh về chiều cao và chiều dài với tượng đài ở đâu đó, người ta đã quên những “tượng đài sống” bằng xương bằng thịt, những “tượng đài sống” nhỏ thó, hom hem, nhiều người bệnh tật, cô đơn, có lẽ chẳng còn sống được bao lâu.
          Có lẽ không ở đâu như đất nước ta, một đất nước triền miên kháng chiến, có những bà mẹ tình nguyện dâng hiến hết đứa con này đến đứa con khác cho Tổ quốc, cho kháng chiến. Một hiện tượng có lẽ là độc nhất vô nhị. Nhiều nhà kiến trúc, nhà mỹ thuật - bằng con mắt chuyên môn - đã phát biểu ý kiến của họ về tượng đài, nhấn mạnh đến tâm thức của người Việt, đến tinh thần lẽ ra cần toát ra từ tượng đài một người mẹ: gần gũi, thân thuộc thay vì hoành tráng mà nặng nề, khô cứng. Có lẽ điều đó cũng phù hợp với tính cách những người mẹ Việt Nam, ngay cả những người mẹ anh hùng: vĩ đại và cao cả, nhưng cũng rất thầm lặng, không chút phô trương. Thế thì tiêu chí lớn nhất Việt Nam hay lớn nhất Đông Nam Á, được nêu lên như một giá trị của tượng đài, phỏng có ý nghĩa gì?
          Nhưng đâu phải chỉ có tượng đài này, đâu phải chỉ có những công trình mỹ thuật chạy theo quy mô và sự hoành tráng mà bỏ quên con người. Nhiều đại quy hoạch, đại dự án, đại công trình khác cũng đã được xúc tiến nhân danh sự phát triển, nhân danh tăng trưởng kinh tế, nhân danh sự đi tắt đón đầu và cả đời sống người dân mà bỏ qua hoặc xem nhẹ việc xem xét thấu đáo đến chất lượng của công trình, dự án, quy hoạch và tác động nhiều mặt của chúng đến cuộc sống người dân, những người dân đang sống sờ sờ với những gương mặt, những số phận, những mơ ước nhỏ nhoi cụ thể chứ không phải người dân như một khái niệm chung chung, trừu tượng, mơ hồ. Thay vì là người thụ hưởng đích thực của những quy hoạch, dự án, công trình ấy, họ lại trở thành những kẻ chịu đựng khốn khổ của những ước mơ hoành tráng trong đó họ chẳng có vai trò gì, chẳng có tiếng nói gì.
          Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng không phải là công trình duy nhất muốn đạt cho được tiêu chí hoành tráng (và tất nhiên, đi kèm là kinh phí xây dựng lớn từ ngân sách). Ngoài những nghi ngờ (không phải tất cả mọi trường hợp đều được chứng minh) về những tính toán chia chác lợi ích, những món lại quả từ kinh phí thi công những dự án, công trình lớn, liệu còn có nguyên nhân nào khác đằng sau tâm lý thích hoành tráng này? Phải chăng đó là tâm lý tự ti, thấy người khác có cái gì đó to hơn mình, cao hơn mình thì cũng muốn mình phải có cái gì đó to hơn, cao hơn mà không xét đến khả năng của mình? Phải chăng đó là tâm lý bắt chước máy móc mà không xét đến điều kiện cụ thể của mình? Và biết đâu cũng có thể do bệnh thành tích của không ít quan chức các cấp, bởi thành tích gắn liền với chiếc ghế hiện tại và tương lai của họ?

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2008

HOÀNH TRÁNG !


Không biết tự bao giờ hai từ “hoành tráng” từ lĩnh vực nghệ thuật, lĩnh vực của cái đẹp (cảnh tượng hoành tráng, sân khấu hoành tráng, bộ phim hay bộ sử thi hoành tráng, …) đã đi vào ngôn ngữ đời thường, kể cả ngôn ngữ nhậu nhẹt hôm nay. Nói nhậu “hoành tráng” tất nhiên là nói vui, nhưng không hẳn chỉ là vui. Nhậu hoành tráng cũng có nghĩa là thịt thà tôm cá phải ê hề, rượu bia phải chảy như suối, ăn không hết bỏ phí đầy bàn cũng chẳng sao. Thế mới hoành tráng! Thế mới là biết chơi. Thế mới không thua kém ai, không mất mặt. Đằng sau ước muốn hoành tráng có khi là sự hiếu khách nhưng cũng lắm khi là bệnh sĩ. Vì sĩ, người ta không ngại hoang phí dù sau đó có phải lấy chỗ này đắp chỗ kia.
Nhưng hoang phí trong mấy bữa nhậu dù sao cũng là chuyện nhỏ so với những thứ hoành tráng và hoang phí khác. Hoành tráng dường như đã trở thành một xu hướng không thể cưỡng nổi ở ta, trong mọi thứ, đặc biệt là trong xây dựng, trong kiến trúc. Phải chăng cũng vì bệnh sĩ, vì con gà tức nhau tiếng gáy? Nếu đúng vậy thì đây chính là vấn đề tâm lý dân tộc mà những nhà cổ xúy “bản sắc dân tộc” cần quan tâm. Ta thích cái gì cũng phải hoành tráng, phải to, phô trương về hình thức, nhưng đi vào nội dung, chi tiết, công năng, chất lượng, hiệu quả sử dụng thì cẩu thả, kém cỏi. Như một nghịch lý buồn cười: có nhiều trường học, nhiều trung tâm y tế mới xây hoành tráng ở địa phương này, địa phương khác trên đất nước này không có cả nhà vệ sinh cho học sinh, cho bệnh nhân. Như những khu đô thị tưởng như bê nguyên xi đâu đó từ bên trời Tây về đặt “hoành tráng” và hợm hĩnh giữa những thửa ruộng, những ao rau muống... Nhiều kiến trúc sư từng thấy xốn mắt trước “bầy ngựa đen trên bầu trời Thăng Long” ở một khu đô thị mới nằm ở cửa ngõ Hà Nội. Tôi cũng từng đi qua trung tâm Yên Bái, một thị xã vùng cao, và thấy ở đó những công thự như được bê nguyên xi từ một nước châu Âu mấy thế kỷ trước về cắm ở đây, chẳng ăn nhập gì với khung cảnh xung quanh. Hẳn những cơ quan, những vị lãnh đạo địa phương đã vô cùng mãn nguyện trước vẻ hoành tráng của những trụ sở cơ quan đó.
Và, không biết có nước nào như nước ta, lấy làm tự hào về thủ đô mình lớn …thứ 17 thế giới. Còn trong cái thủ đô lớn thứ 17 thế giới ấy người dân sống như thế nào, chất lượng sống ra sao, hạ tầng đô thị có tốt không, đi lại có thuận tiện không, cảnh quan môi trường có tốt cho cuộc sống cư dân hay không… dường như chẳng mấy ai quan tâm. Ở các nước, hình như người dân và lãnh đạo người ta chỉ tự hào về thành phố này thành phố nọ của họ đẹp, chưa từng thấy ai tự hào thành phố của họ to.
Bởi to chưa chắc đã đẹp. Trong xây dựng đô thị, thế giới đang đặt trọng tâm vào chất lượng sống hơn là vào diện tích, đô thị có thể nhỏ nhưng chất lượng sống phải cao. Chất lượng từ khâu quy hoạch không gian đến hạ tầng cơ sở, từ sự hợp lý, thuận tiện trong giao thông đi lại đến sự thoải mái trong cuộc sống của người dân; chất lượng từ cảnh quan môi trường đến tổ chức đời sống văn hóa… "Small is beautiful" – nhỏ là đẹp, chẳng phải ngẫu nhiên mà trên thế giới đã xuất hiện một trào lưu như vậy, cả trong xây dựng kiến trúc, cả trong thiết kế chế tạo các thiết bị, vật dụng, như ôtô con phải compact, vừa nhỏ gọn, ít choán chỗ đậu xe trong những đô thị ngày càng chật chội, vừa tiết kiệm nhiên liệu.
Phải mất nhiều năm thế giới mới nhận ra những vấn nạn của những siêu đô thị, những megacity. Thế giới đang từ bỏ bệnh đô thị to đầu, còn ta thì đang hăm hở lao vào, ôm lấy, tự hào. Thật buồn cười cho cái logic mà một vị lãnh đạo chính phủ đưa ra để thuyết phục Quốc hội thông qua chủ trương mở rộng Hà Nội, rằng thì là dân số Việt Nam đến năm ấy, năm ấy sẽ là từng ấy, từng ấy triệu dân, vì vậy thủ đô phải rộng chừng ấy, chừng ấy. Cứ theo logic đó thì Bắc Kinh và New Dehli sẽ phải là hai thủ đô lớn nhất thế giới vì dân số hai nước Trung Quốc và Ấn Độ vượt xa các nước còn lại. Bắc Kinh và New Dehli phải vượt gấp nhiều lần Tokyo hay Mexico City theo tỷ lệ so sánh dân số, mặc dù Tokyo và Mexico City đã là hai đại đô thị với bao nhiêu vấn nạn. “Xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không có nghĩa là xây dựng những đại đô thị; thành phố to đẹp hơn cũng không nhất thiết hàm ý phải lớn về diện tích mà vô hồn, mà không thân thiện với cư dân của nó.
Tất nhiên, có những cái cần to, như hệ thống xa lộ hoặc các trường đại học, những thứ thể hiện trình độ phát triển của một quốc gia. Nhưng đây lại là những thứ mà ở ta ít được quan tâm, hoặc có vẻ quan tâm nhưng biện pháp thực hiện lại chẳng tới đâu.

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2007

“AN TOÀN LÀ BẠN…” VÀ LỐI TƯ DUY BIỀN NGẪU

Mỗi ngày đi ngang qua nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM đang xây trên đường Nam kỳ khởi nghĩa, khoảng giữa đưởng Tú Xương và Điện Biên Phủ, người đi đường thấy một băng-rôn treo ngay ở mặt tiền toà nhà, tuy nhỏ nhưng cũng đủ đập vào mắt: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”. Không rõ ở công trường xây dựng cầu cần Thơ người ta có treo khẩu hiệu này không, nhưng không chỉ ở công trường xây dựng nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM mà hầu như tại công trường xây dựng nào người ta cũng có thể bắt gặp khẩu hiệu trên. Phải chăng vì nó có vần có điệu, khiến người ta dễ nhớ nên người ta ưa ?

Cái lối văn có vần có điệu, cái lối văn biền ngẫu cả trong khẩu hiệu chính trị, lẫn trong tuyên truyền kinh tế hay văn hoá, thậm chí trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ vốn đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực xây dựng, xem ra đã ăn sâu vào đầu chúng ta, vào “văn hoá” của chúng ta. Nhưng, thử ngẫm kỹ mà xem, những “câu văn” có vần có điệu ấy, những “câu văn” nghe bùi tai và dễ nhớ ấy, chẳng hạn như câu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, liệu có nói được chính xác điều cần phải nói trong những lĩnh vực đòi hỏi sự ngắn gọn và chính xác ?

Trước hết, nó quá nặng ảnh hưởng của ngôn ngữ chính trị. Ai cũng biết, một trong những bài học đầu tiên của những người hoạt động cách mạng bí mật trước đây là phải biết phân biệt: ta – bạn – thù. “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có lẽ bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ chính trị đó. Nhưng trong thi công xây dựng, an toàn không chỉ là bạn, bởi bạn thì có bạn thân bạn sơ, bạn có lúc chơi lúc nghỉ. Lỡ một hôm nào, một lúc nào, người công nhân xây dựng hoặc anh kỹ sư phụ trách thi công hoặc anh giám sát buồn tình không thèm chơi với “bạn” thì sao ? Đó chẳng phải là nguồn gốc của thảm hoạ hay sao, như ở công trường xây dựng cầu Cần Thơ mà ai cũng biết ? Không, an toàn không chỉ là “bạn” muốn chơi thì chơi, muốn nghỉ thì nghỉ; an toàn trong thi công là đòi hỏi đầu tiên, tuyệt đối, không thể nhân nhượng. Do đó, nói “an toàn là bạn” nghe thì hay đấy, kêu đấy, có vần có điệu đấy, nhưng hoàn toàn không nói lên được tính chất nghiêm ngặt, chính xác của đòi hỏi. Thay vì nói có vần có điệu như vậy, người ta chỉ cần nói ngắn gọn “an toàn trên hết” (safety first), có phải là chính xác, mạnh mẽ hơn không ?

Nhưng khổ nỗi, chúng ta đã quá quen với thứ tư duy biền ngẫu, đối xứng, có trên có dưới, có tả có hữu, có trong có ngoài, có chủ quan có khách quan… mất rồi. Vậy nên, sau “an toàn là bạn”, ắt phải có “tai nạn là thù”. “Nạn” vần với “bạn”, “bạn” đối với “thù”, còn gì hay hơn, xuôi tai hơn, dễ nhớ hơn ? Nhưng thử hỏi, nếu không coi an toàn là trên hết, là đòi hỏi tuyệt đối, không thể nhân nhượng, để rồi tai nạn xảy ra, liệu người công nhân, người kỹ sư phụ trách thi công có còn sống để mà nhận ra ai là bạn, ai là thù ? Chỉ cần tắc trách, lơi lỏng ở một khâu nào đó, một chi tiết nào đó, “thù” đã cướp đi sinh mạng của họ trước khi họ kịp nhận ra nó. Cho nên ở những lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực thi công xây dựng (tôi nghĩ tới việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai mà rùng mình), những câu khẩu hiệu có vần có điệu hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu làm cho người ta nhận thức rõ, chính xác vấn đề để có biện pháp phù hợp. Vần điệu nghe xuôi tai nhưng chưa chắc đã làm người ta chú ý. Cũng như một gương mặt tròn trịa, một gương mặt Thuý Vân chưa chắc đã làm người ta nhớ lâu.

Xa hơn, lối tư duy, lối văn biền ngẫu, đối xứng không chỉ có trong nhiều khẩu hiệu ở ta. Nó còn đi vào cả những văn kiện chính thức của không ít tổ chức và những bài diễn văn trang trọng của không ít quan chức với lối nói đối xứng, liệt kê đủ cả thành tích - tồn tại, khách quan - chủ quan, trực tiếp - gián tiếp, trên - dưới, trong - ngoài…có vần có điệu, nghe thì sướng, xuôi tai, nhưng cái chính yếu nhất, cái tư tưởng hay thông điệp cốt lõi thì lại chẳng thể, hay rất khó, tìm ra.