Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2008

Những website buồn

May. Cuối cùng thì cũng đã có một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao, cụ thể là Thứ trưởng Vũ Dũng nói cho dân biết một cách cụ thể, thăng thắn về những chuyện thuộc vấn đề chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải mà lâu nay, trước những thông tin hư hư thực thực, người dân cứ thấy ấm ức trong lòng mà không được quaqn chức có trách nhiệm nào giải đáp. Đó là chuyện đường biên giới ở ải Nam Quan, là chuyện thác Bản Giốc còn hay mất, là chuyện chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Trả lời phỏng vấn báo chí tuần qua tại cột mốc biên giới Lào Cai-Vân Nam, Thứ trưởng Vũ Dũng đã làm sáng tỏ nhiều điều, xua tan nhiều mối nghi ngờ về thái độ của Nhà nước trong vấn đề rất nhạy cảm với tình tự dân tộc và lòng yêu nước của người dân, từ bậc trí thức cho tới người dân thường. Điều quan trọng nữa là giọng điệu của người trả lời phỏng vấn mà ta có thể hiểu là thay mặt Nhà nước: rõ ràng, cụ thể, đĩnh đạc. Và không vô cảm như cuộn băng cassette của người phát ngôn mà người dân đã nhiều lần phải nghe trong bực tức trước đó.
Đĩnh đạc, không vô cảm khi đề cập đến những vấn đề có đụng chạm đến tình tự dân tộc, người đại diện cho Nhà nước đã làm cho người dân cảm thấy… bớt buồn. Bớt, nhưng vẫn còn… buồn. Vì sao? Tôi muốn nói đến những website của các bộ có liên quan chủ yếu đến vấn đề đang nói ở đây: website của bộ Ngoại giao và bộ Tài nguyên-Môi trường. Trong những ngày nóng bỏng đầu tháng 12-2007 sau khi có tin Trung Quốc quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để “quản lý” cả một vùng Biển Đông rộng lớn bằng 1/3 lãnh thổ Trung Quốc, trong đó có cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, có người đã thử vào hai website nói trên mong tìm kiếm thông tin khẳng định thêm niềm tin vào chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, khẳng định thêm tính đúng đắn và chính đáng của tuyên bố chủ quyền của nước ta, nhưng họ đã phải thất vọng. Họ chỉ thấy những website buồn, lạnh tanh, vô cảm.
Cả hai website không hề có một mục riêng về Hoàng Sa-Trường Sa hoặc về biển đảo Việt Nam nói chung, dù báo chí vẫn được yêu cầu phải “tuyên truyền” về biển đảo. Website bộ Ngoại giao có một mục gọi là “Những vấn đề quan tâm” trong đó có một mục nhỏ gọi là “Biên giới – lãnh thổ” với một số tin tức vè phân giới cắm mốc trên đất liền, tuyên bố của người phát ngôn bộ Ngoại giao về Hoàng Sa – Trường Sa mà người dân đã nghe từ lâu… Muốn biết thêm tí gì khác, như Hoàng Sa, Trường Sa có bao nhiêu đảo; nước ta đang nắm giữ bao nhiêu đảo, nước ngoài đang chiếm giữ bao nhiêu; lập luận về chủ quyền của nước ta ra sao, của nước ngoài thế nào; chúng ta phải làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo…đành chịu. Hay các nhà lãnh đạo coi đó là chuyện riêng của lãnh đạo, người dân không cần và không được quyền biết tới? Qua website bộ Tài nguyên – Môi trường là bộ trực tiếp quản lý tài nguyên biển đảo nước ta, hy vọng thông tin sẽ khá hơn, nhưng người xem phải tiếp tục thất vọng. Trong số các mục chính của website có mục “Tài nguyên biển” nhưng vào đó cũng chỉ có thể đọc một số tin tức chẳng mấy liên quan đến vấn đề nóng mà mọi người dân đang quan tâm. Tự hỏi, bộ Tài nguyên – Môi trường đang quản lý tài nguyên biển đảo Việt Nam ra sao mà đến một tấm bản đồ với đầy đủ các đảo của Việt Nam cũng không có trên mạng ? Huống chi là những nội dung liên quan đến việc nước ngoài tranh chấp chủ quyền biển đảo của ta.
Vậy mà hàng năm không biết ngân sách quốc gia phải đổ bao nhiêu tiền để nuôi những website như vậy, những website lạnh tanh, vô hồn, vô cảm – không thể nói gì hơn. Bỗng nghĩ đến hàng trăm tỉ đồng mà đề án 112 (tin học hóa quản lý Nhà nước) đã ném qua cửa sổ. Ở một mức độ nào đó và về một khía cạnh nào đó, những website vừa nêu (và không ít website chính thức khác) cũng đang ném tiền ngân sách, ném lòng tin và sự kỳ vọng của người dân qua cửa sổ.

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007

Dân trí… không từ trên trời rơi xuống !

Ngã tư, đèn đỏ, giờ tan tầm, xe cộ bốn bề đều kẹt cứng. Mấy thanh niên đi xe gắn máy, tướng tá có vẻ là dân văn phòng, có học, vẫn tỉnh bơ lấn trái lên cho sát ngã tư, làm xe ở đường bên kia không cách nào quẹo qua được. Thế là kẹt càng thêm kẹt. Nếu tuân thủ luật đi đường, nếu chịu nhường nhau một chút, hẳn mọi người đã có thể đi nhanh hơn. Biết vậy, nhưng… Hẳn không ít lần bạn đã chứng kiến cảnh đó và buột miệng: dân trí gì mà thấp kém! Hoặc đi trên đường, không ít lần bạn chứng kiến người ta vứt xác chuột chết ra đường hoặc quét tấp rác, đổ đồ ăn dư thừa xuống miệng hố ga, làm cống bị nghẹt. Bạn lầm bầm: dân trí ở đâu nhỉ? Đi mua vé tàu xe, bạn đang xếp hàng chờ tới lượt mình, bỗng mấy cô ả từ đâu sấn tới, chen lên đầu, giành quyền mua vé của mấy người sắp đến lượt ở hàng đầu, và điều đáng nói là mấy nhân viên bán vé vẫn tỉnh bơ bán cho những người mới đến giành chỗ này. Có người đứng trong hàng phản đối; có người, nhìn vẻ bặm trợn của mấy cô ả, không dám hé môi. Còn bạn lại lầm bầm, bực tức: đúng là dân trí thấp kém!
Có thể kể ra vô số trường hợp như vậy. Và bạn nghĩ không sai: dân trí của không ít người Việt mình kém thật. Người Việt mình bây giờ đi ra nước ngoài du lịch hay làm ăn cũng nhiều, hẳn đều có thể thấy ở nhiều nơi người ta tự động xếp hàng, không ai đến sau mà tự tiện chen lên trước nếu không muốn bị nhìn như con quái vật; đến ngã tư đường gặp đèn đỏ, dù đường giao cắt chẳng có chiếc xe nào chạy và tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng một anh cảnh sát, người lái xe cũng tự động dừng xe chờ đèn xanh; thậm chí vào nhà hàng, người ta cũng phải chờ người phục vụ chỉ định bàn tùy theo số khách mới vào nhiều hay ít chứ không phải thích sà vào bàn nào là sà vào, một mình chiếm cả cái bàn dành cho 5-6 người. Và trong môi trường đó dường như đa số người Việt mình đi nước ngoài cũng tỏ ra lịch sự hơn, biết tuân thủ các quy ước xã hội hơn. Thế nhưng ở trong nước lại khác. Vì sao như vậy? Sống trong một môi trường mà chẳng ai thèm đếm xỉa gì đến cái chung, chẳng ai thèm nhường nhịn ai, chẳng ai buồn tuân thủ các quy ước xã hội, lỡ phạm luật có bị bắt thì đã có cách “chạy”, người ta như bị cuốn phăng đi. Và giả như bạn muốn tuân thủ pháp luật và những quy ước xã hội tốt đẹp, muốn sống đúng theo điều bạn nghĩ, hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận cái nhìn của không ít người coi bạn như một kẻ dở hơi. Đó là một thực tế chúng ta đụng chạm hàng ngày khi đi ra đường, khi vào tiệm ăn, khi xếp hàng mua vé hoặc làm giấy tờ…
Từ thực tế đó, trong không ít phát biểu của các quan chức, trong nhiều bài báo của phóng viên, khi đế cập đến những hiện tượng kém văn minh của người dân mình, thường kết luận bằng một cụm từ gỏn lọn: kém dân trí. Ít ai chịu khó đặt tiếp vấn đề: Dân trí từ đâu ra ? Dân trí kém do đâu ?
Qủa vậy, dân trí không từ trên trời rơi xuống. Dân trí một nước là kết qủa của một quá trình hun đúc, bồi đắp lâu dài thông qua ít nhất ba con đường: giáo dục; sự thi hành luật pháp nghiêm minh, nhất quán; và sự tự kiểm soát, tự điều chỉnh của xã hội dân sự. Ở ta, cả ba con đường này đều có vấn đề, đều khiếm khuyết không nhiều thì ít.
Nền giáo dục ở ta từ mấy chục năm qua, ngoài việc cung cấp kiến thức chuyên môn cho học sinh, chỉ tập trung giáo dục lý tưởng chính trị và đạo đức cách mạng vốn cần thiết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập, mà ít chú ý giáo dục đạo làm người và tinh thần công dân cần thiết cho việc xây dựng xã hội trong thời bình, nhất là một xã hội đang muốn vươn đến chỗ là một xã hội văn minh, hiện đại. Những đức tính như lòng trung thực, lương tâm chức nghiệp, ý thức tôn trọng của công, tôn trọng những quy ước của một xã hội văn minh không được coi trọng. Từ một xã hội bao cấp thiếu thốn đủ bề chuyển qua nền kinh tế thị trường còn đậm nét sơ khai, nhiều chuẩn mực và giá trị cũ đổ vỡ trong khi những chuẩn mực và giá trị mới phù hợp với giai đoạn mới, yêu cầu mới lại không được kịp thời xây dựng, con người như sống trong thời hoang sơ, chỉ biết làm sao thỏa mãn nhu cầu của riêng mình, bất chấp nó có ảnh hưởng gì đến xã hội, đến cái chung hay không. Việc giành đường, cướp đường nói lên rất rõ điều này, trong khi việc thi công cầu đường kém chất lượng do rút ruột công trình, làm dối, làm ẩu nói lên rất rõ sự thiếu vắng lương tâm chức nghiệp và tính trung thực của công dân trong một xã hội văn minh.
Trong khi đó, việc thi hành nghiêm minh luật pháp, một yếu tố mang tính cưỡng chế (đối với thiểu số công dân kém ý thức) nhưng có tác dụng góp phần hình thành dân trí, lại cũng có vấn đề. Luật pháp ở ta chưa đảm bảo cho người chấp hành luật nghiêm túc được bảo vệ, được an toàn, nói chi đến được tưởng thưởng; trong khi đó những người vi phạm luật, lách luật nhiều khi chẳng những không bị trừng phạt mà còn thu được lợi ích từ việc vi phạm hoặc lách luật đó. Tình trạng ấy, cọng với tình trạng ăn hối lộ để cho một số người qua mặt luật pháp đã vô hiệu hóa mọi ý đồ hoặc nỗ lực sử dụng luật pháp như một công cụ nâng cao dân trí. Từ đó dẫn đến tình trạng xem thường pháp luật tràn lan, rõ nhất là trong lĩnh vực giao thông.
Cuối cùng, bổ sung cho hai con đường nâng cao dân trí kể trên, nhưng không kém phần quan trọng, là hoạt động của xã hội dân sự. Đứng trước những thách thức mới hay những nhu cầu mới đặt ra cho xã hội, thường bao giờ từ trong cộng đồng cũng xuất hiện những tập hợp tự nguyện của những công dân vì lợi ích chung của cộng đồng mà đứng ra phản ứng trước những thách thức đó hoặc đáp ứng những nhu cầu chung đó rồi bằng chính hoạt động của họ, thuyết phục, vận động mọi công dân khác cùng làm theo. Nhà nước dù mạnh đến đâu, luật pháp dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết được mọi vấn đề đặt ra cho xã hội. Xã hội dân sự, với các tổ chức, hội đoàn đủ loại, hoạt động độc lập với nhà nước nhưng lại đóng vai trò bổ trợ cực kỳ hữu ích cho sự khiếm khuyết của nhà nước và luật pháp trong việc đảm bảo sự vận hành tốt đẹp của xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với chế độ bao cấp (trong đó nhà nước được xem và được trông đợi là người cung cấp tất cả) kéo dài và với sự nghi kỵ chưa phải đã hết đối với tất cả những gì không được “đóng dấu” nhà nước, xã hội dân sự đã bị teo tóp đi, sáng kiến công dân không còn chỗ đứng.
Trong bối cảnh như vậy, trước những vấn nạn như vấn nạn trật tự giao thông, khi nhà nước tỏ ra bất lực, còn các hội đoàn chính thống thì thụ động vì bị hành chính hóa, giáo dục thì không thực sự sản sinh ra được những công dân trưởng thành, có đầy đủ ý thức công dân… xã hội dân sự cũng chẳng đóng góp được gì trong việc “nâng cao dân trí” vì từ lâu đã bị nghi kỵ, không được khuyến khích. Lấy vụ việc nóng hổi vừa mới xảy ra là vụ em Nguyễn Thị Bình bị vợ chồng chủ một quán phở ở phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội hành hạ như một nô lệ trong suốt 13 năm làm thí dụ, ta thấy cả luật pháp, cả hệ thống chính trị từ tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Đội Thiếu niên Tiền phong đến công an phường, cảnh sát khu vực, tổ dân phố… đều đã chẳng làm gì để bảo vệ và giải cứu em Bình. Họ còn không biết có vụ việc như vậy thì em và những người như em còn biết kêu vào đâu, trông đợi vào đâu. Em Bình đã được giải cứu chỉ nhờ vào lòng trắc ẩn và can đảm của một người phụ nữ đã 70 tuổi. Nếu xã hội dân sự phát triển , nếu có nhiều những con người tốt bụng như bà Hà Thị Bình trong những tập hợp công dân tự nguyện vì xã hội thì không ít trường hợp tương tự trường hợp em Bình có thể được ngăn chặn từ sớm. Nhiều quy ước, tập quán xã hội tốt cũng có thể nhờ những tập hợp tự nguyện đó mà hình thành.
Do vậy, muốn dân trí được nâng cao, ngoài vai trò của giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu mới của xã hội, ngoài sự nghiêm minh và không thiên vị của pháp luật, phải có chỗ cho sáng kiến công dân, có chỗ cho trí tuệ và năng lực của dân được tự do hoạt động. Mỗi khi than phiền về dân trí, xin hãy chịu khó suy nghĩ thêm một chút.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2007

ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KHÔNG CHỈ DỰA VÀO GIA TĂNG ĐẦU VÀO

Những cuộc đình công diễn ra trên diện khá rộng và hầu như định kỳ, do sự phân phối thiếu công bằng thành quả của tăng trưởng kinh tế mà đồng lương không đủ sống của công nhân tại các khu công nghiệp là biểu hiện rõ ràng nhất, cho thấy sự tăng trưởng đạt được là chưa bền vững. Một nền kinh tế mà khả năng cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ là một nền kinh tế tiềm ẩn nhiều bất ổn về mặt xã hội và cả về khả năng tăng trưởng lâu dài.

Nhưng mặt khác, đồng lương công nhân thấp một phần bắt nguồn từ năng suất thấp của lực lượng nhân công nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tại kỳ họp Quốc hội hôm 22-10 trong báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2007 và kế hoạch năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả năm 2007 ước đạt khoảng 8,5% (kế hoạch 8,2 - 8,5%), mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên, như thường lệ từ nhiều năm nay, báo cáo đánh giá rằng năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng ngành, từng doanh nghiệp vẫn còn thấp.

Quả thật, nền kinh tế những năm qua tuy có tăng trưởng cao nhưng chủ yếu là do tăng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là các luồng vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế (ODA, FDI và gần đây là vốn đầu tư gián tiếp, chủ yếu vào thị trường chứng khoán), còn phần do năng suất lao động mang lại không đáng kể. Nếu lấy hệ số ICOR (hiểu nôm na là phải bỏ vào bao nhiêu đồng vốn để làm ra một đồng giá trị tăng thêm; hệ số càng cao thì hiệu quả nền kinh tế càng thấp) làm thước đo hiệu quả của nền kinh tế, thì tình hình không có gì đáng lạc quan. Bởi nếu như cách nay hơn 10 năm, hệ số ICOR của Việt Nam là 3,39 (năm 1995) thì năm 2006 hệ số này đã lên tới gần 6, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 3,6 lên 7,28.

Làm cách nào để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn: năng suất thấp dẫn đến đồng lương thấp; đến lượt nó đồng lương thấp, không đủ sống, lại tác động trở lại làm năng suất sụt giảm ? Đã đến lúc, để có được sự thay đổi về chất trong tăng trưởng, để tăng trưởng không chỉ dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như bơm thêm vốn, giữ mức lương công nhân quá thấp, chưa nói đến việc phải loại bỏ lãng phí và tham nhũng, cần làm sao để tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm, dịch vụ làm ra. Muốn vậy, không có con đường nào khác ngoài việc thật sự tập trung cho phát triển khoa học công nghệ và giáo dục, nhất là giáo dục đại học để cho ra một lực lượng nhân công có tay nghề, một lực lượng trí thức có khả năng góp chất xám vào sự phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề là, để làm được điếu ấy, chúng ta có đủ dũng cảm và quyết tâm làm một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học và trong tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ hay không. Bởi nói gì thì nói, đó vẫn là hai vấn đề bức xúc lớn cả đối với giới chuyên môn lẫn dư luận xã hội rộng rãi hiện nay.

(Đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 22-10-2007)

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007

Thập diện mai phục

Thập diện mai phục.
Cơ quan tôi ở số 35, bên phải, đường Nam kỳ khởi nghĩa, giữa Hàm Nghi và Nguyễn Công Trứ. Mỗi trưa tranh thủ về nhà nghỉ một tí trước khi trở vào làm đầu giờ chiều, tôi chỉ có hai chọn lựa: hoặc là chạy một đoạn đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ rồi quẹo trái qua Nguyễn Công Trứ, đến ngã tư Nguyễn Công Trứ-Pasteur lại quẹo trái qua Pasteur từ đó băng thẳng về nhà; hoặc là đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ quẹo phải, đến ngã tư Nguyễn Công Trứ-Phó Đức Chính lại quẹo phải chạy đến Lê Lợi rồi quẹo phải qua Pasteur, từ đó về nhà.
Khổ nỗi, từ khi người ta cho xe tải nặng chạy từ Hàm Nghi qua Nam kỳ khởi nghĩa để qua quận Tư thì cứ đến trưa, giờ tôi ra về, từng đoàn xe tải nặng, xe container lại nối đuôi nhau san sát trên đường Nam kỳ khởi nghĩa, đường nhanh chóng xuống cấp đã đành, mà tôi cũng chẳng còn dám quẹo trái qua Nguyễn Công Trứ nữa. Cứ nhìn từng đoàn xe tải nặng tranh nhau không chừa một kẽ hở chạy qua quận Tư là tôi đã thấy ớn cả xương sống. Mà giả thử có đánh liều băng qua được Nguyễn Công Trứ để ra Pasteur thì đến ngã tư Pasteur-Hàm Nghi lại phải một phen đụng những chiếc xe tải nặng. Nhiều khi đường Pasteur đèn xanh cũng không thể băng qua được ngã tư vì các xe tải tranh nhau đi san sát đã bít cả ngã tư, dù đèn xanh cho xe trên đường Pasteur đã bật lên.
Vậy chỉ còn cách đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ thì quẹo phải. Khốn nỗi, từ mấy tuần nay cái ngã tư Phó Đức Chính-Nguyễn Thái Bình mà tôi vẫn phải băng qua để ra đến Lê Lợi lại bị rào chắn gần hết ngã tư để đào hố đặt cống thoát nước gì đó, thành thử hai nẻo về nhà nẻo nào cũng kẹt. Chen chúc mãi mới về được đến nhà, đầu giờ chiều theo đường Nam kỳ khởi nghĩa trở lại cơ quan, đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Hàm Nghi lại một phen kinh hoàng. Từng đoàn xe tải, xe container dài ngoằng quẹo từ Hàm Nghi qua Nam kỳ khởi nghĩa để qua quận Tư tranh nhau từng centimet đường ở ngay cái ngã tư ấy với từng đoàn xe buýt nối đuôi nhau san sát như một bức tường dài từ phía quảng trường Quách Thị Trang theo đường Hàm Nghi qua, khiến cho cả ngã tư kẹt cứng dưới nắng nóng. Xe gắn máy giỏi luồn lách là thế mà đến đây nhiều chiếc cũng chịu. Không ít lần tôi chứng kiến những cảnh ú tim khi một vài chiếc gắn máy cố luồn lách suýt bị xe container hay xe buýt cán.
Đúng là thập diện mai phục. Cả một thành phố bị thập diện mai phục. Nói thế không ngoa, bởi không chỉ loanh quanh gần cơ quan tôi mà hầu như đi đường nào, lối nào xa hơn khu vực này cũng có thể gặp những chỗ kẹt xe như vậy.
Rồi lại còn cảnh này nữa: nhiều bữa mới sáng ra mọi người đổ xô ra đường đi làm hoặc đúng giờ trưa nhiều người về nhà hoặc đi đâu đó ngoài văn phòng, lại thấy mấy anh công viên cây xanh chặn đường chặn xá để tỉa cành cây. Tỉa cành để nhánh cây khỏi rớt trúng người đi đường trong mùa mưa gió thì tốt rồi, nhưng sao lại phải làm đúng vào những giờ ấy? Rồi còn cảnh những chiếc xe rác chen chúc giữa hàng đoàn xe gắn máy, cũng đúng vào giờ tan tầm. Sao không thể bố trí xe rác đi vào những giờ khác, khi đường ít xe cộ hơn? Còn những công trình che chắn, choán gần hết mặt đường khắp nơi, có cách gì đẩy nhanh hơn không? Sao chúng cứ kéo dài tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác? Những ngã tư thường xuyên bị kẹt xe nặng như Hàm Nghi-Nam kỳ khởi nghĩa, liệu có cách nào điều tiết giao thông tốt hơn không?
Những câu hỏi đại loại như vậy cứ quay quắt trong đầu, bởi vì đó chẳng phải là những ý tưởng to tát hay mới mẻ gì, chúng không quá khó thực hiện và cũng góp phần không nhỏ làm giảm đi nạn kẹt xe, nhưng không hiểu sao những người có nhiệm vụ quản lý giao thông ở thành phố này lại không thể làm? Những người quản lý đang ở đâu? Họ có trách nhiệm với cuộc sống người dân không? Sao không ai ra tay làm một cái gì cụ thể, thiết thực, mà chỉ thấy thỉnh thoảng “nhá” ra một tin, nào là sẽ “phạt nguội”, nào là sẽ lắp đặt camera tự động ghi hình các vi phạm để xử phạt? Súng bắn tốc độ ồn ào một dạo, camera ghi hình, những phương tiện hiện đại là cần, nhưng có vẻ như người ta đang sính những thứ “đồ chơi” đó hơn là việc nghiên cứu cặn kẽ, khoa học để tổ chức lại giao thông sao cho thật hợp lý (ngoài việc chuyển một số đường vốn nhỏ thành đường một chiều). Hay là việc sắm những thứ đồ chơi đó còn mang lại những thứ gì khác nữa?
Trong khi chờ đợi câu trả lời không biết có bao giờ đến chăng cho những câu hỏi mình tự đặt ra, mỗi trưa mỗi chiều, trên đường mệt mỏi vì khói bụi và kẹt xe để về nhà, tôi chỉ còn biết khẩn cầu: hỡi những nhà quản lý đang tìm cách “quản” đủ mọi thứ, kể cả nhật ký trên mạng (blog), xin hãy “quản” giùm người dân cái nạn thập diện mai phục này. Người ta đòi “quản” nhiều thứ, sao cái nạn này không ai nhảy ra đòi “quản” nhỉ?
P.S: Viết bài này xong mới tình cờ đọc được một chỉ đạo của Thường trực UBND TPHCM nghiêm cấm việc tổ chức đi cứu trợ riêng lẻ các nạn nhân vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ, do báo Tuổi Trẻ đăng từ ngày 8-10. Chỉ đạo cụ thể như sau: - “Thống nhất giao Ủy ban MTTQ TP.HCM làm đầu mối tiếp nhận các nguồn tiền - hàng do các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, cá nhân vận động và tổ chức đoàn đi thăm hỏi, động viên, hỗ trợ những gia đình bị nạn. Nghiêm cấm việc tổ chức đi thăm hỏi riêng lẻ”. Vì sao cái cần phải quản, mà quản cho tốt, người ta không chịu làm, lại cứ đi nhảy vào đòi quản những cái không thuộc chức năng Nhà nước thế nhỉ ?

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2007

“AN TOÀN LÀ BẠN…” VÀ LỐI TƯ DUY BIỀN NGẪU

Mỗi ngày đi ngang qua nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM đang xây trên đường Nam kỳ khởi nghĩa, khoảng giữa đưởng Tú Xương và Điện Biên Phủ, người đi đường thấy một băng-rôn treo ngay ở mặt tiền toà nhà, tuy nhỏ nhưng cũng đủ đập vào mắt: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”. Không rõ ở công trường xây dựng cầu cần Thơ người ta có treo khẩu hiệu này không, nhưng không chỉ ở công trường xây dựng nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM mà hầu như tại công trường xây dựng nào người ta cũng có thể bắt gặp khẩu hiệu trên. Phải chăng vì nó có vần có điệu, khiến người ta dễ nhớ nên người ta ưa ?

Cái lối văn có vần có điệu, cái lối văn biền ngẫu cả trong khẩu hiệu chính trị, lẫn trong tuyên truyền kinh tế hay văn hoá, thậm chí trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ vốn đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực xây dựng, xem ra đã ăn sâu vào đầu chúng ta, vào “văn hoá” của chúng ta. Nhưng, thử ngẫm kỹ mà xem, những “câu văn” có vần có điệu ấy, những “câu văn” nghe bùi tai và dễ nhớ ấy, chẳng hạn như câu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, liệu có nói được chính xác điều cần phải nói trong những lĩnh vực đòi hỏi sự ngắn gọn và chính xác ?

Trước hết, nó quá nặng ảnh hưởng của ngôn ngữ chính trị. Ai cũng biết, một trong những bài học đầu tiên của những người hoạt động cách mạng bí mật trước đây là phải biết phân biệt: ta – bạn – thù. “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có lẽ bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ chính trị đó. Nhưng trong thi công xây dựng, an toàn không chỉ là bạn, bởi bạn thì có bạn thân bạn sơ, bạn có lúc chơi lúc nghỉ. Lỡ một hôm nào, một lúc nào, người công nhân xây dựng hoặc anh kỹ sư phụ trách thi công hoặc anh giám sát buồn tình không thèm chơi với “bạn” thì sao ? Đó chẳng phải là nguồn gốc của thảm hoạ hay sao, như ở công trường xây dựng cầu Cần Thơ mà ai cũng biết ? Không, an toàn không chỉ là “bạn” muốn chơi thì chơi, muốn nghỉ thì nghỉ; an toàn trong thi công là đòi hỏi đầu tiên, tuyệt đối, không thể nhân nhượng. Do đó, nói “an toàn là bạn” nghe thì hay đấy, kêu đấy, có vần có điệu đấy, nhưng hoàn toàn không nói lên được tính chất nghiêm ngặt, chính xác của đòi hỏi. Thay vì nói có vần có điệu như vậy, người ta chỉ cần nói ngắn gọn “an toàn trên hết” (safety first), có phải là chính xác, mạnh mẽ hơn không ?

Nhưng khổ nỗi, chúng ta đã quá quen với thứ tư duy biền ngẫu, đối xứng, có trên có dưới, có tả có hữu, có trong có ngoài, có chủ quan có khách quan… mất rồi. Vậy nên, sau “an toàn là bạn”, ắt phải có “tai nạn là thù”. “Nạn” vần với “bạn”, “bạn” đối với “thù”, còn gì hay hơn, xuôi tai hơn, dễ nhớ hơn ? Nhưng thử hỏi, nếu không coi an toàn là trên hết, là đòi hỏi tuyệt đối, không thể nhân nhượng, để rồi tai nạn xảy ra, liệu người công nhân, người kỹ sư phụ trách thi công có còn sống để mà nhận ra ai là bạn, ai là thù ? Chỉ cần tắc trách, lơi lỏng ở một khâu nào đó, một chi tiết nào đó, “thù” đã cướp đi sinh mạng của họ trước khi họ kịp nhận ra nó. Cho nên ở những lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực thi công xây dựng (tôi nghĩ tới việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai mà rùng mình), những câu khẩu hiệu có vần có điệu hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu làm cho người ta nhận thức rõ, chính xác vấn đề để có biện pháp phù hợp. Vần điệu nghe xuôi tai nhưng chưa chắc đã làm người ta chú ý. Cũng như một gương mặt tròn trịa, một gương mặt Thuý Vân chưa chắc đã làm người ta nhớ lâu.

Xa hơn, lối tư duy, lối văn biền ngẫu, đối xứng không chỉ có trong nhiều khẩu hiệu ở ta. Nó còn đi vào cả những văn kiện chính thức của không ít tổ chức và những bài diễn văn trang trọng của không ít quan chức với lối nói đối xứng, liệt kê đủ cả thành tích - tồn tại, khách quan - chủ quan, trực tiếp - gián tiếp, trên - dưới, trong - ngoài…có vần có điệu, nghe thì sướng, xuôi tai, nhưng cái chính yếu nhất, cái tư tưởng hay thông điệp cốt lõi thì lại chẳng thể, hay rất khó, tìm ra.