Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2008
Những website buồn
Trả lời phỏng vấn báo chí tuần qua tại cột mốc biên giới Lào Cai-Vân Nam, Thứ trưởng Vũ Dũng đã làm sáng tỏ nhiều điều, xua tan nhiều mối nghi ngờ về thái độ của Nhà nước trong vấn đề rất nhạy cảm với tình tự dân tộc và lòng yêu nước của người dân, từ bậc trí thức cho tới người dân thường. Điều quan trọng nữa là giọng điệu của người trả lời phỏng vấn mà ta có thể hiểu là thay mặt Nhà nước: rõ ràng, cụ thể, đĩnh đạc. Và không vô cảm như cuộn băng cassette của người phát ngôn mà người dân đã nhiều lần phải nghe trong bực tức trước đó.
Đĩnh đạc, không vô cảm khi đề cập đến những vấn đề có đụng chạm đến tình tự dân tộc, người đại diện cho Nhà nước đã làm cho người dân cảm thấy… bớt buồn. Bớt, nhưng vẫn còn… buồn. Vì sao? Tôi muốn nói đến những website của các bộ có liên quan chủ yếu đến vấn đề đang nói ở đây: website của bộ Ngoại giao và bộ Tài nguyên-Môi trường. Trong những ngày nóng bỏng đầu tháng 12-2007 sau khi có tin Trung Quốc quyết định thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để “quản lý” cả một vùng Biển Đông rộng lớn bằng 1/3 lãnh thổ Trung Quốc, trong đó có cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, có người đã thử vào hai website nói trên mong tìm kiếm thông tin khẳng định thêm niềm tin vào chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, khẳng định thêm tính đúng đắn và chính đáng của tuyên bố chủ quyền của nước ta, nhưng họ đã phải thất vọng. Họ chỉ thấy những website buồn, lạnh tanh, vô cảm.
Cả hai website không hề có một mục riêng về Hoàng Sa-Trường Sa hoặc về biển đảo Việt Nam nói chung, dù báo chí vẫn được yêu cầu phải “tuyên truyền” về biển đảo. Website bộ Ngoại giao có một mục gọi là “Những vấn đề quan tâm” trong đó có một mục nhỏ gọi là “Biên giới – lãnh thổ” với một số tin tức vè phân giới cắm mốc trên đất liền, tuyên bố của người phát ngôn bộ Ngoại giao về Hoàng Sa – Trường Sa mà người dân đã nghe từ lâu… Muốn biết thêm tí gì khác, như Hoàng Sa, Trường Sa có bao nhiêu đảo; nước ta đang nắm giữ bao nhiêu đảo, nước ngoài đang chiếm giữ bao nhiêu; lập luận về chủ quyền của nước ta ra sao, của nước ngoài thế nào; chúng ta phải làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo…đành chịu. Hay các nhà lãnh đạo coi đó là chuyện riêng của lãnh đạo, người dân không cần và không được quyền biết tới? Qua website bộ Tài nguyên – Môi trường là bộ trực tiếp quản lý tài nguyên biển đảo nước ta, hy vọng thông tin sẽ khá hơn, nhưng người xem phải tiếp tục thất vọng. Trong số các mục chính của website có mục “Tài nguyên biển” nhưng vào đó cũng chỉ có thể đọc một số tin tức chẳng mấy liên quan đến vấn đề nóng mà mọi người dân đang quan tâm. Tự hỏi, bộ Tài nguyên – Môi trường đang quản lý tài nguyên biển đảo Việt Nam ra sao mà đến một tấm bản đồ với đầy đủ các đảo của Việt Nam cũng không có trên mạng ? Huống chi là những nội dung liên quan đến việc nước ngoài tranh chấp chủ quyền biển đảo của ta.
Vậy mà hàng năm không biết ngân sách quốc gia phải đổ bao nhiêu tiền để nuôi những website như vậy, những website lạnh tanh, vô hồn, vô cảm – không thể nói gì hơn. Bỗng nghĩ đến hàng trăm tỉ đồng mà đề án 112 (tin học hóa quản lý Nhà nước) đã ném qua cửa sổ. Ở một mức độ nào đó và về một khía cạnh nào đó, những website vừa nêu (và không ít website chính thức khác) cũng đang ném tiền ngân sách, ném lòng tin và sự kỳ vọng của người dân qua cửa sổ.
Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007
Dân trí… không từ trên trời rơi xuống !
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2007
ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KHÔNG CHỈ DỰA VÀO GIA TĂNG ĐẦU VÀO
Những cuộc đình công diễn ra trên diện khá rộng và hầu như định kỳ, do sự phân phối thiếu công bằng thành quả của tăng trưởng kinh tế mà đồng lương không đủ sống của công nhân tại các khu công nghiệp là biểu hiện rõ ràng nhất, cho thấy sự tăng trưởng đạt được là chưa bền vững. Một nền kinh tế mà khả năng cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ là một nền kinh tế tiềm ẩn nhiều bất ổn về mặt xã hội và cả về khả năng tăng trưởng lâu dài.
Nhưng mặt khác, đồng lương công nhân thấp một phần bắt nguồn từ năng suất thấp của lực lượng nhân công nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tại kỳ họp Quốc hội hôm 22-10 trong báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2007 và kế hoạch năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả năm 2007 ước đạt khoảng 8,5% (kế hoạch 8,2 - 8,5%), mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên, như thường lệ từ nhiều năm nay, báo cáo đánh giá rằng năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng ngành, từng doanh nghiệp vẫn còn thấp.
Quả thật, nền kinh tế những năm qua tuy có tăng trưởng cao nhưng chủ yếu là do tăng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là các luồng vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế (ODA, FDI và gần đây là vốn đầu tư gián tiếp, chủ yếu vào thị trường chứng khoán), còn phần do năng suất lao động mang lại không đáng kể. Nếu lấy hệ số ICOR (hiểu nôm na là phải bỏ vào bao nhiêu đồng vốn để làm ra một đồng giá trị tăng thêm; hệ số càng cao thì hiệu quả nền kinh tế càng thấp) làm thước đo hiệu quả của nền kinh tế, thì tình hình không có gì đáng lạc quan. Bởi nếu như cách nay hơn 10 năm, hệ số ICOR của Việt Nam là 3,39 (năm 1995) thì năm 2006 hệ số này đã lên tới gần 6, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 3,6 lên 7,28.
Làm cách nào để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn: năng suất thấp dẫn đến đồng lương thấp; đến lượt nó đồng lương thấp, không đủ sống, lại tác động trở lại làm năng suất sụt giảm ? Đã đến lúc, để có được sự thay đổi về chất trong tăng trưởng, để tăng trưởng không chỉ dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như bơm thêm vốn, giữ mức lương công nhân quá thấp, chưa nói đến việc phải loại bỏ lãng phí và tham nhũng, cần làm sao để tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm, dịch vụ làm ra. Muốn vậy, không có con đường nào khác ngoài việc thật sự tập trung cho phát triển khoa học công nghệ và giáo dục, nhất là giáo dục đại học để cho ra một lực lượng nhân công có tay nghề, một lực lượng trí thức có khả năng góp chất xám vào sự phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề là, để làm được điếu ấy, chúng ta có đủ dũng cảm và quyết tâm làm một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học và trong tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ hay không. Bởi nói gì thì nói, đó vẫn là hai vấn đề bức xúc lớn cả đối với giới chuyên môn lẫn dư luận xã hội rộng rãi hiện nay.
(Đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 22-10-2007)
Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007
Thập diện mai phục
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2007
“AN TOÀN LÀ BẠN…” VÀ LỐI TƯ DUY BIỀN NGẪU
Cái lối văn có vần có điệu, cái lối văn biền ngẫu cả trong khẩu hiệu chính trị, lẫn trong tuyên truyền kinh tế hay văn hoá, thậm chí trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ vốn đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực xây dựng, xem ra đã ăn sâu vào đầu chúng ta, vào “văn hoá” của chúng ta. Nhưng, thử ngẫm kỹ mà xem, những “câu văn” có vần có điệu ấy, những “câu văn” nghe bùi tai và dễ nhớ ấy, chẳng hạn như câu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, liệu có nói được chính xác điều cần phải nói trong những lĩnh vực đòi hỏi sự ngắn gọn và chính xác ?
Trước hết, nó quá nặng ảnh hưởng của ngôn ngữ chính trị. Ai cũng biết, một trong những bài học đầu tiên của những người hoạt động cách mạng bí mật trước đây là phải biết phân biệt: ta – bạn – thù. “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có lẽ bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ chính trị đó. Nhưng trong thi công xây dựng, an toàn không chỉ là bạn, bởi bạn thì có bạn thân bạn sơ, bạn có lúc chơi lúc nghỉ. Lỡ một hôm nào, một lúc nào, người công nhân xây dựng hoặc anh kỹ sư phụ trách thi công hoặc anh giám sát buồn tình không thèm chơi với “bạn” thì sao ? Đó chẳng phải là nguồn gốc của thảm hoạ hay sao, như ở công trường xây dựng cầu Cần Thơ mà ai cũng biết ? Không, an toàn không chỉ là “bạn” muốn chơi thì chơi, muốn nghỉ thì nghỉ; an toàn trong thi công là đòi hỏi đầu tiên, tuyệt đối, không thể nhân nhượng. Do đó, nói “an toàn là bạn” nghe thì hay đấy, kêu đấy, có vần có điệu đấy, nhưng hoàn toàn không nói lên được tính chất nghiêm ngặt, chính xác của đòi hỏi. Thay vì nói có vần có điệu như vậy, người ta chỉ cần nói ngắn gọn “an toàn trên hết” (safety first), có phải là chính xác, mạnh mẽ hơn không ?
Nhưng khổ nỗi, chúng ta đã quá quen với thứ tư duy biền ngẫu, đối xứng, có trên có dưới, có tả có hữu, có trong có ngoài, có chủ quan có khách quan… mất rồi. Vậy nên, sau “an toàn là bạn”, ắt phải có “tai nạn là thù”. “Nạn” vần với “bạn”, “bạn” đối với “thù”, còn gì hay hơn, xuôi tai hơn, dễ nhớ hơn ? Nhưng thử hỏi, nếu không coi an toàn là trên hết, là đòi hỏi tuyệt đối, không thể nhân nhượng, để rồi tai nạn xảy ra, liệu người công nhân, người kỹ sư phụ trách thi công có còn sống để mà nhận ra ai là bạn, ai là thù ? Chỉ cần tắc trách, lơi lỏng ở một khâu nào đó, một chi tiết nào đó, “thù” đã cướp đi sinh mạng của họ trước khi họ kịp nhận ra nó. Cho nên ở những lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực thi công xây dựng (tôi nghĩ tới việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai mà rùng mình), những câu khẩu hiệu có vần có điệu hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu làm cho người ta nhận thức rõ, chính xác vấn đề để có biện pháp phù hợp. Vần điệu nghe xuôi tai nhưng chưa chắc đã làm người ta chú ý. Cũng như một gương mặt tròn trịa, một gương mặt Thuý Vân chưa chắc đã làm người ta nhớ lâu.
Xa hơn, lối tư duy, lối văn biền ngẫu, đối xứng không chỉ có trong nhiều khẩu hiệu ở ta. Nó còn đi vào cả những văn kiện chính thức của không ít tổ chức và những bài diễn văn trang trọng của không ít quan chức với lối nói đối xứng, liệt kê đủ cả thành tích - tồn tại, khách quan - chủ quan, trực tiếp - gián tiếp, trên - dưới, trong - ngoài…có vần có điệu, nghe thì sướng, xuôi tai, nhưng cái chính yếu nhất, cái tư tưởng hay thông điệp cốt lõi thì lại chẳng thể, hay rất khó, tìm ra.