Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2009

TRỞ LẠI CÔN ĐẢO

Noel 1972, từ nhà lao Tân Hiệp ở Biên Hòa tôi bị đưa ra bến tàu Tân Cảng Sài Gòn rồi đưa xuống tàu, chiếc HQ 404 hay 405 gì đó, bị cùm chân dưới hầm tàu cùng hàng trăm tù nhân chính trị khác, ra Côn Đảo. Tàu khởi hành buổi chiếu, sáng hôm sau thì đến cầu tàu 914 Côn Đảo. Từ đó đi qua các trại 2 (Phú Hải), trại 7 (chuồng cọp mới), trại 8, cuối cùng là Lò Vôi, trước khi được đưa trở về đất liền vào tháng 6-1973, mấy tháng sau hiệp định Paris, nhưng không phải để trả tự do mà bị đưa trở lại nhà tù Chí Hòa, nơi tôi đã ở trước khi bị đưa qua Tân Hiệp rồi sau đó là Côn Đảo. Từ Chí Hòa tôi bị đưa vào Trung tâm 3 nhập ngũ bắt đi lính. Không chịu mặc áo lính, lại bị đưa ra tòa quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật, kêu án tù 5 năm rồi bị đưa xuống nhà lao Gò Công (cùng với Bửu Chỉ, họa sĩ phong trào SVHS Huế, và Thọ, một học sinh Đà Nẵng), ở đó cho đến 30-4-1975 thì cùng với những tù nhân khác tự phá nhà lao ra vì lính gác khi ấy đã bỏ chạy hết. Từ Gò Công, tự bắt xe đò trở về Sài Gòn.
Vậy là ở tù đúng 3 năm, từ 30-4-1972, giữa “mùa hè đỏ lửa”, đến 30-4-1975, trong đó có 6 tháng ở Côn Đảo. Chỉ 6 tháng nhưng bị đưa qua đến 4 trại giam khác nhau. Mặc dù vậy, tất nhiên tôi chẳng biết gì về Côn Đảo ngoài bốn bức tường các phòng giam đã đi qua.
Tôi trở lại Côn Đảo năm 1994 hay 1995 gì đấy, cùng với một đoàn cựu tù Côn Đảo của TPHCM. Lần này cũng đi bằng tàu hải quân từ Tân Cảng, chiều lên tàu, sáng tới, nhưng lẽ tất nhiên không bị cùm chân dưới hầm tàu mà tự do đi lại trên boong tàu. Lần này mới biết thêm một chút về Côn Đảo: thăm miếu bà Phi Yến, thứ phi của Nguyễn Ánh tức Gia Long tương lai đang bôn ba chạy trốn Tây Sơn ra tận đây, thăm Bến Đầm, nghĩa trang Hàng Dương, cầu Ma Thiên Lãnh, leo núi qua bãi Ông Đụng, tắm biển ở bãi tắm cát trắng mịn tuyệt vời trước sở Lò Vôi nằm bên kia đường. Nhưng cảnh vật Côn Đảo lúc này vẫn còn u ám lắm, không khí vẫn còn nặng mùi lao tù, tử khí, chưa thành ra một địa điểm du lịch hấp dẫn.
Lần thứ hai trở lại Côn Đảo từ ngày 9 đến 12-4-2009. Giờ, bay máy bay ATR72 chỉ mất 40 phút, giá vé 1.650.000 đồng khứ hồi. So với một chiều một đêm đi tàu, sóng gió, có người ói ra mật xanh mật vàng, thì 40 phút bay quả là thần tiên. Trở lại Côn Đảo lần này, tôi có điều kiện ngắm Côn Đảo kỹ hơn, dù buổi sáng đón mặt trời lên để chụp ảnh cảnh bình minh từ mũi Cá Mập không thành, do hôm ấy trời mây vần vũ quá.
Phải nói Côn Đảo là một báu vật trời cho, xét về mặt cảnh vật, với biển, núi, rừng còn giữ được nét nguyên sơ, với màu trời mùa này xanh biếc như ngọc bích phản chiếu xuống mặt nước biển và xuống hồ chứa nước ngọt cung cấp cho Côn Đảo (ảnh 1). Cảnh vật Côn Đảo giờ khác hẳn năm xưa. Sân bay Cỏ Ống hơi giống sân bay Phú Quốc, nhỏ nhắn nhưng khá xinh xắn, sạch sẽ. Thị trấn Côn Sơn cũng nhỏ nhắn, trung tâm thị trấn quy hoạch vuông vức như bàn cờ, đường sá trải nhựa sạch sẽ, kể cả mấy con đường từ trung tâm thị trấn đi Bến Đầm qua mũi Cá Mập, khoảng 12 cây số; hoặc từ thị trấn đi sân bay Cỏ Ống, dài 14 cây số bây giờ cũng đã trải nhựa ngon lành. Dọc hai bên các con đường mới trong thị trấn người ta trồng cây bằng lăng hoa nở tím ngắt; còn dọc các con đường cũ ở khu trung tâm, những cây bàng cổ thụ từng chứng kiến những đoàn tù nhân đi qua xưa kia giờ vẫn đứng đó trầm ngâm. Con đường Tôn Đức Thắng nằm ở mặt tiền thị trấn, nhìn ra vịnh Côn Sơn, đối diện với cầu tàu lịch sử 914 (cái tên bắt nguồn từ câu chuyện có tới 914 tù nhân đã bỏ mạng trong khi xây dựng chiếc cầu tàu này) và cầu tàu du lịch ở bên cạnh mới xây dựng sau này, là một con đường đẹp. Dọc con đường này đã mọc lên hai khách sạn lớn: khách sạn Sài Gòn-Côn Đảo của Saigontourist và Côn Đảo Resort của Liên đoàn Lao đông tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nằm sát biển, với bãi tắm cực đẹp và sạch. Trên con đường từ thị trấn đi sân bay Cỏ Ông, khu du lịch hạng sang Six Senses Hideaway do Indochina Land đầu tư (ảnh mô hình) đang được xây dựng, dự kiến khai trương cuối năm nay. Con đường từ thị trấn đi sân bay nhiều đoạn men theo biển, đứng ven đường nhìn xuống biển, nhiều chỗ thấy nước biển đập vào bờ đá, vỡ ra thành những mảng nước xanh một màu ngọc bích tuyệt đẹp.
Từ thị trấn đi về hướng ngược lại với hướng đi sân bay, ta đến mũi Cá Mập rồi từ đó đi cảng Bến Đầm. Cảng bây giờ khá tấp nập với cơ sở dịch vụ hậu cần cho ghe tàu đánh cá, với một câu lạc bộ thủy thủ…
Trở lại Côn Đảo lần này, ngoài mấy điểm tham quan cũ, tôi còn đi thăm miếu Cậu, tức miếu thờ (và cả mộ) hoàng tử Cải, con Nguyễn Ánh, nằm bên một con đường đất nhỏ đi bãi Đầm Trầu, gần sân bay Cỏ Ống. Người dân nơi đây kể rằng hoàng tử Cải đã bị cha mình ném xuống biển vì khóc lóc, van xin cho mẹ là thứ phi Phi Yến đi cùng khi quân Tây Sơn tấn công lên đảo, buộc Nguyễn Ánh phải chạy trốn. Thứ phi Phi Yến lúc ấy đang bị giam trong một hang đá vì đã dám khuyên can Nguyễn Ánh không nên dựa vào người Pháp khi Nguyễn Ánh gửi hoàng tử Cảnh sang Pháp với giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine).
Côn Đảo giớ có khoảng 6.000 dân, trong đó hết 4.000 là bộ đội và công chức. Còn lại khoảng 2.000 dân thường, là thân nhân của 4.000 người nói trên, dân từ nơi khác trôi giạt đến đây làm ăn như mấy cô gái miền tây Nam bộ mà tôi đã gặp ở gần Câu lạc bộ thủy thủ cảng Bến Đầm, và cư dân tại chỗ không biết đã đến sinh sống ở hòn đảo này từ bao giờ. Có một ngôi làng nhỏ gọi là làng Cỏ Ống, dân cư trồng lúa, hoa màu trên một thung lũng hẹp; một ngôi làng nhỏ khác nằm sát sân bay, cư dân sống bằng nghề đi biển và trồng rau. Tuy vậy phần lớn hàng tiêu dùng, kể cả nhiều loại rau, vẫn phải đưa từ đất liền ra, nên giá cả nhiều thứ cao hơn trong đất liền. Hàng quán còn ít, nhưng người dân cũng đã bắt đầu biết làm dịch vụ, như mở khách sạn mini, giá rẻ hơn ở hai khách sạn lớn kia nhiều mà cũng sạch sẽ. Có một nhà ăn dành cho công nhân viên các cơ quan của thị trấn, nằm ngay trong trụ sở ủy ban nhân dân thị trấn, nấu ăn khá ngon mà giá cũng rẻ, cả du khách nước ngoài cũng vào ăn. Nhà hàng đặc sản thì có Tri Kỷ nổi tiếng nấu ăn ngon ở đây.


***
Ngoài ngắm cảnh, tôi cũng thăm nghĩa trang Hàng Dương và trở lại thăm những nơi mình đã bị giam trước đây. Đến Hàng Dương, đập vào mắt tôi lần này là ngoài mộ chị Võ Thị Sáu, tuy không lớn nhưng có tạc hình, có ghi tên tuổi, có nhiều hoa và lúc nào cũng đầy nhang khói, trong những dãy dài các mộ xung quanh có nhiều mộ không tên không tuổi, không có hoa và lác đác mới thấy cắm một cây nhang (ảnh). Đứng trước mộ họ, tôi bỗng suy nghĩ vẩn vơ: nếu không hy sinh, nếu còn sống đến ngày hôm nay họ sẽ nghĩ gì, có hài lòng với sự phát triển ngày hôm nay của đất nước mà vì nó họ đã hy sinh không? Không thể nào biết được, nhưng câu hỏi đó vẫn cứ bám lấy đầu óc tôi, không chịu rời xa.
Muốn đi thăm các trại giam cũ, không thể tự đi mà phải liên hệ với bộ phận bảo tàng, mua vé 20.000 đồng/người, có nhân viên bảo tàng dẫn đi. Vì các trại nằm cách xa nhau, phải đi xe gắn máy, tôi và ba người bạn mượn được hai chiếc xe, nhân viên hướng dẫn của bảo tàng đòi khách tham quan phải trả tiền đổ xăng cho xe họ. Tôi ngạc nhiên trước cách tổ chức du lịch truyền thống kiểu này nhưng rồi cũng đồng ý vì không có cách nào khác. Trại Phú Hải vẫn như xưa, nhưng phòng giam lớn số 1 nơi tôi bị giam trước đây giờ thành như nhà kho, còn phía đối diện, cách một khoảng sân, trong phòng giam những người tù tên tuổi trước đây mà sau này đã trở thành những nhà lãnh đạo cao cấp, bây giờ người ta làm mô hình những tù nhân bị cùm chân thành dãy dài. Có một điều trước đây tôi không biết là ở phía cuối trại giam này có một cái cổng dẫn ra nơi trước đây là nơi đập đá của tù khổ sai. Phan Chu Trinh đã từng đập đá ở đó. Giờ, hai bên cổng người ta gắn hai tấm biển, tấm bên phải cho biết đây là khu đập đá và Phan Chu trinh đã từng phải lao động khổ sai tại đây, tấm bên trái ghi bài thơ “Đâp đá Côn Lôn” của cụ Phan (ảnh).
Sau trại 2 (Phú Hải), tôi trở lại trại 7, nơi tôi đã bị biệt giam ở phòng số 8 khu G (trại có hai khu là G và H). Vẫn như xưa, chỉ khác là xung quanh cái giếng nước ở giữa sân khu G, sau này người ta đã láng xi măng, lúc tôi ở thì chưa. Chính ở phòng số 8 khu G này, một bữa có ai đó đã ném cho tôi qua mấy song sắt phía trên phòng biệt giam một cái lọ thuốc bằng nhôm mà khi mở nắp ra tôi mới thấy là đựng cà phê. Cà phê đen còn nóng. Đó là ngụm cà phê ngon nhất trong đời đối với tôi. Tôi không biết người ném lọ thuốc cà phê là ai, một bạn tù được ra ngoài lao động, mua rồi lén ném cho tôi hay là một nhân viên trật tự (thường là tù thường phạm). Dù là ai thì người đó hẳn cũng biết tôi ghiền cà phê nặng từ lúc còn là sinh viên.
Sau trại 7 đến trại 8. Trại này nằm xa trung tâm nhất và tương đối tách biệt với các trại còn lại. Trại bây giờ bỏ hoang, phòng số 6 nơi tôi bị nhốt cùng nhiều người khác đầy phân bò. Chính ở trại giam này hồi đó tôi bị mắc bệnh kiết lỵ, không có thuốc uống, tưởng đã “đi đời”. May mà đúng lúc đó lại có lệnh chuyển tôi qua Lò Vôi, chuẩn bị đưa về đất liền. Ở đó, ban ngày tù nhân được đi ra ngoài lao động chứ không bị giam suốt ngày như ở các trại khác và tôi đã được anh em ra ngoài lao động tìm cho thứ lá cây có tác dụng cầm kiết lỵ để uống, nhờ đó mà qua khỏi.
Cuối buổi thăm các trại tù cũ, tôi đưa tiền xăng và tiền bồi dưỡng cho cô hướng dẫn viên nhưng không hiểu sao, trái với đòi hỏi trước lúc đi, bây giờ cô lại nhất định không chịu nhận tiền và quày quả bỏ đi dù tôi cố giúi tiền vào tay cô.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Nếu không có sự phản biện xã hội…


Bài này viết, dự định đăng trên TBKTSG số ra ngày 30-4-2009 nhưng cuối cùng phải “tự kiểm duyệt”, gác lại, nên post lên đây chơi. Có sửa chữa chút ít ở đoạn cuối, nói thẳng ra điều cần nói.Và chỉ muốn thêm một câu ở cuối bài: Phản biện hay tự do trao đổi, bàn luận vì lợi ích chung của đất nước - chuyện bình thường, tự nhiên đối với người dân hầu hết các nước, sao khó khăn đến thế, “nhạy cảm” đến thế ở đất nước này? Bao nhiêu người hy sinh cho độc lập, tự do, phải chăng là tự do kiểu này?
Đang viết bài ghi chép “Trở lại Côn Đảo”, viết mãi vẫn chưa xong vì thế.

Nếu không có sự phản biện từ nhiều giới khác nhau trong xã hội, từ các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hóa đến các chuyên gia quốc phòng, các bậc lão thành cách mạng; nếu dự án và kế hoạch khai thác bauxite của Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn được tiến hành như ban đầu, hẳn chưa ai đánh giá hết được hậu quả mà nền kinh tế, môi trường sinh thái của cả một vùng rộng lớn của đất nước và bản sắc văn hóa cũng như an sinh xã hội của cư dân Tây nguyên sẽ phải gánh chịu về lâu về dài. Sự phản biện của nhiều giới, đặc biệt là các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, hẳn đã góp phần vào sự điều chỉnh chủ trương từ cấp lãnh đạo cao nhất như mọi người đã biết: đó là thu hẹp quy mô, làm từng bước, bảo đảm chặt chẽ các điều kiện về hiệu quả kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường, sử dụng lao động, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng. Phản biện xã hội đã chứng minh sự cần thiết và hữu ích của nó.
Tác dụng của phản biện xã hội trong vấn đề khai thác bauxite khiến ta nhớ lại nó cũng đã phát huy tác dụng như thế nào trước những chủ trương thiếu thực tế, thiếu thuyết phục của cấp này hay cấp khác, chẳng hạn dự định cấm xe máy các tỉnh đi vào Hà Nội; cấm người ngực lép, thấp bé, nhẹ cân lái xe gắn máy hay đề ra tiêu chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, cho xây khách sạn trong công viên, v.v…Điều đó cho thấy mỗi quyết sách, chủ trương, muốn được xã hội đồng tình và nhờ đó mà dễ dàng đi vào cuộc sống, cần được công khai, minh bạch, được nhìn nhận dưới nhiều góc cạnh, được phân tích, mổ xẻ đến nơi đến chốn. Có nhu vậy mới tạo được sự đồng thuận, sự thống nhất ý chí giữa lãnh đạo và người dân. Điều đó cũng sẽ giúp cho xã hội, cho nền kinh tế giảm thiểu được cái giá phải trả cho những chủ trương đôi khi chủ quan, duy ý chí, thiếu cơ sở khoa học.
Sự cần thiết và tác dụng của phản biện xã hội như vậy là đã rõ. Vấn đề là làm sao để nó phải trở thành một thiết chế bắt buộc và thực sự phát huy tác dụng chứ không phải là chuyện có cũng được không có cũng được, làm hình thức, lấy lệ hoặc chỉ làm khi công luận đòi hỏi. Việc Bộ Chính trị yêu cầu đưa vấn đề khai thác bauxite ra bàn tại Quốc hội khi dự án trong thực tế đã bắt đầu được triển khai cho thấy có một sự thiếu sót, bất cập về mặt luật pháp và thiết chế phản biện xã hội liên quan đến dự án này (và những dự án khác nữa).
Lợi ích của sự phản biện xã hội liên quan đến vấn đề khai thác bauxite cũng như một số chủ trương thiếu thuyết phục của cấp này cấp khác nói ở trên phải chăng đã quá đủ để những những người lãnh đạo coi trọng ý kiến phản biện đa chiều của các giới khác nhau trong xã hội trước những chủ trương lớn ảnh hưởng đến số đông người dân và đến vận mệnh đất nước. Điều đó chỉ có thể có lợi cho sự nghiệp chung dù có thể nghịch tai, không làm vừa lòng một số người.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2009

CÓ PHẢI CHỈ LÀ BỆNH NGOÀI DA ?


Lại một lần nữa người ta nêu ra cái gọi là “văn hoá ứng xử” để giải thích cho chuyện chen lấn tại lễ hội hoa anh đào ở Hà Nội. Nhờ lực lượng 500 cảnh sát và nhân viên bảo vệ để bảo vệ cho 6 cây hoa anh đào mang từ Nhật sang trưng bày tại lễ hội, lần này may mà chỉ xảy ra chuyện chen lấn chứ không phải là một thảm họa văn hoá như ở lễ hội hoa anh đào năm ngoái hay lễ hội phố hoa bên hồ Hoàn kiếm Tết vừa rồi. Dù thế nào, những sự kiện trên đều bộc lộ một điều: sự xuống cấp ghê gớm về văn hóa và đạo đức của xã hội, một sự khủng hoảng về giá trị.
Người ta không còn biết ngượng với người khác và với chính mình. Người ta không còn sợ lương tâm cắn rứt mà chỉ sợ bị phạt (tiền hoặc tù) và nếu có thể tránh được phạt thì người ta tự do phá hoại cái mà người khác đã mất bao công sức để hoàn thành cho cộng đồng, trong đò có họ, hưởng. Một người có chút lương tâm, lương tri, một người biết xấu hổ trước một việc làm xấu, không ai cho phép mình làm thế. Nhưng vẫn có nhiều người thản nhiên làm được, và làm ngay ở mảnh đất gọi là “thủ đô xã hội chủ nghĩa” ( nhân tiện, thật ra cũng chẳng ai biết cái nội hàm của từ “xã hội chủ nghĩa” gắn với thành phố này, thành phố nọ là gì!).
Một khoảng trống khủng khiếp. Không chỉ là khoảng trống về văn hoá, về ý thức tôn trọng của công, về ý thức cộng đồng, mà hơn thế, một khoảng trống về giá trị.
Phải chăng “Thượng đế đã chết, tất cả đều được phép”?
Dostoievski, trong “Anh em nhà Karamazov” nói: Nếu Thượng đế không tồn tại, tất cả đều được phép. Còn Nietzsche, trong “Le Gai Savoir”, loan báo: Thượng đế đã chết và câu hỏi đặt ra là làm sao để con người không rơi vào chủ nghĩa hư vô. Cái khoảng trống về lương tâm và giá trị trong xã hội mà một số người, trẻ có già có, làm lộ ra qua việc phá phách phố hoa bên bờ hồ Hoàn kiếm ở Hà Nội khiến ta không khỏi liên tưởng đến câu của Dos (nhưng không có chữ nếu). Với những “nam thanh nữ tú” của “thủ đô xã hội chủ nghĩa” , có vẻ như “Thượng đế” - ở đây hiểu là những giá trị, những điều thiêng liêng, không nhất thiết có liên quan đến tôn giáo - không còn tồn tại. Những lý tưởng, những từ ngữ đẹp đẽ mà họ được nhồi cho từ trong nhà trường đến tổ chức đoàn hội, đến gia đình không còn tồn tại. Với họ, “Thượng đế” đã chết, “lý tưởng” đã chết, những điều cao siêu mỹ miều đã chết, và tất cả đều được phép. Được phép làm bất cứ điều gì mình thích, mình muốn, bất chấp tất cả. Đó phải chăng là chủ nghĩa hư vô khi mọi thứ được coi là giá trị đã sụp đổ?
Vì sao lại đến nông nỗi này?
Nói “văn hoá ứng xử” chỉ là nói chuyện bệnh ngoài da. Chuyện “tàn sát văn hoá” như đã xảy ra tại lễ hội hoa anh đào năm ngoái hay lễ hội phố hoa Hà Nội tết vừa rồi không chỉ là chuyện “văn hoá ứng xử”, bởi thiếu sót trong văn hoá ứng xử thường được hiểu là những thiếu sót nhỏ nhặt do thiếu hiểu biết, do vụng về hoặc do thô lỗ. Chuyện “tàn sát văn hoá” như đã xảy ra tại hai lễ hội trên bởi những “trai thanh gái lịch đất Tràng An” và cả một vài gương mặt xem ra rất đáng kính nói lên một điều gì đó sâu xa hơn: đó là sự thất bại thảm hại của nền giáo dục, là tính hai mặt trong đời sống xã hội.
Nền giáo dục thất bại vì nó không tạo ra được những con người có nhân cách trước khi nói đến chuyện trang bị kỹ năng. Giáo dục trước hết là dạy làm người, là giáo dục cách sống cho ra con người trước khi giáo dục kỹ năng, nhưng với nền giáo dục hiện nay, ngoài việc nhồi nhét những kiến thức chính trị và những giáo điều mà ngay cả những người rao giảng cũng không mấy người tin và làm theo, ngoài việc trang bị một số kỹ năng chuyên môn, việc dạy học sinh làm người với những phẩm chất phổ biến của một con người xem ra chẳng có là bao. Mặt khác, những gì được xem như là đạo đức, là tốt đẹp mà nhà trường rao dạy lại thường xuyên bị thực tế ngoài đời phủ nhận, người ta nói một đàng làm một nẻo, người ta rao giảng những điều cao đẹp mà trong thực tế người ta xổ toẹt. Thực tế đó khiến cho người trẻ không còn biết tin vào đâu trước tính hai mặt trong xã hội. Khủng hoảng giá trị, khủng hoảng niềm tin bắt đầu từ đó.
Và thế là, cướp hoa được cứ cướp, vặt hoa được cứ vặt, như ta đã thấy. Và đó không chỉ là chuyện “văn hóa ứng xử”. Nói “văn hóa ứng xử” chỉ là nói chuyện bệnh ngoài da.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2009

"Hà lội" hoành tráng

Bài tường thuật này của Ngọc Lan làm tôi nhớ đến một entry trước đây của tôi về chuyện mở rộng Hà Nội. Trong khi đó thì ông Bí thư Hà Nội hai ngày sau khi lụt xảy ra mới đi thị sát bằng xe hơi, lại chê dân "ỷ lại". (Bài cũ post lại)

Quốc hội phê bình chuyện ứng phó chậm với lũ

Thứ Hai, 3/11/2008, 22:11 (GMT+7)

(TBKTSG Online) - Phản ứng của hầu hết các đại biểu Quốc hội hôm 3-11 là chuyện chính quyền thủ đô Hà Nội phản ứng quá chậm trước diễn biến mưa lũ đang diễn ra trên địa bàn Hà Nội những ngày qua.

Nội dung của ngày làm việc hôm 3-11 tại Quốc hội là thảo luận về Luật bồi thường nhà nước và một vài luật khác, nhưng vấn đề được các đại biểu đề cập sôi nổi nhất là chuyện dự báo và ứng phó với ngập lụt đang diễn ra trên địa bàn thủ đô mà chính họ bị tác động mạnh. Tuy nhiên, đây cũng là một dịp tốt để đại biểu đồng thời có thể thực hiện một phần nào việc giám sát như trách nhiệm mà cử tri đã giao phó.

Đại biểu Lê Đình Xuân (Tây Ninh) kể lại câu chuyện đoàn của ông và nhiều đoàn khác không thể đến đúng giờ họp suốt từ hôm 31-10 đến nay vì nước ngập đường, khách sạn La Thành nơi ông ở cũng ngập luôn. Ông Xuân đã ở trong tâm trạng như mọi người là sáng hôm sau thức dậy và ra đường mà không biết đoạn đường nào có thể đi được, đường nào không, nước ngập đến đâu.

Thật là rơi vào cảnh hỗn loạn, tiến thoái lưỡng nan”, ông Xuân nói và bày tỏ rằng không thể hiểu được giữa thời buổi công nghệ thông tin, với một bộ máy chính quyền giữa thủ đô, với đầy đủ các phương tiện ứng cứu, hỗ trợ nếu đem so sánh với các địa phương khác thì chắc chắn tốt hơn nhiều lần nhưng người dân thì đói thực phẩm, muốn nước rút phải chờ trời dứt mưa.

“Chúng ta có một chính quyền thủ đô đồ sộ, chẳng lẽ chỉ để chờ một câu đại loại: thiên tai thì phải chịu, chờ ít hôm nước sẽ rút đi”, ông Xuân búc xúc.

Ông kiến nghị cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, phân công rõ đâu là đầu mối lo nước sạch cho dân, có cách nào cung cấp thực phẩm giá rẻ đến vùng ngập sâu là thiết thực nhất.

Đại biểu Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng) thì nhận định rằng, thiệt hại về người ở Hà Nội trong mấy ngày mưa lũ vừa qua là quá lớn, ngang với thiệt hại của một số tỉnh miền núi là không chấp nhận được. Ông Kiên cho rằng nguyên nhân xuất phát từ việc cảnh báo cho người dân quá chậm và trách nhiệm này thuộc về chính quyền địa phương.

Ông nói: “Trước cái chết của một học sinh lớp 7 bị nước cuốn trôi, chúng ta cần đặt câu hỏi xem ứng phó của Sở Giáo dục- Đào tạo Hà Nội thế nào, chính quyền địa phương ở đâu. Việc tổ chưc lực lượng thanh niên tình nguyện ở đâu mà không cắm chốt ở những điểm nguy hiểm, cảnh báo cho dân”.

Còn đại biểu Dương Trung Quốc cũng nói thẳng vào vấn đề trách nhiệm: “Do bất ngờ và chủ quan nên các phương án ứng xử của chính quyền Hà Nội đã không đem lại hiệu quả cao. Hà Nội đã mở rộng, vậy thì việc chuẩn bị các phương án ứng phó với thiên tai cần phải được thay đổi”.

Ông Quốc cũng cho rằng, nhà nước đã đầu tư không ít tiền bạc cho các công trình thoát nước nhưng đã có ai đặt câu hỏi vì sao những khu vực xây dựng càng gần đây thì càng úng ngập hơn những khu vực phố cổ, xuống cấp về hạ tầng?

Một đại biểu khác là bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường đề cập đến vấn đề xa hơn: “Loại trừ tất cả những câu chuyện về dự báo thiên tai, ứng phó kịp thời hay chậm trễ còn thấy rằng hạ tầng thủ đô là một câu chuyện không có hồi kết”.

Bà Hường đặt câu hỏi Hà Nội đã đầu tư rất nhiều vào những công trình hạ tầng nhưng hiệu quả đến đâu? Và cảnh ngập lụt đang diễn ra là một hệ lụy rõ rệt của việc đầu tư thiếu hiệu quả ở các công trình hạ tầng đang phát triển với tốc độ rất nhanh ở thủ đô.

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết lại nói rằng ông cảm thấy đau đớn và xấu hổ vì “người lớn đã không đảm bảo được an toàn, tính mạng cho một học sinh cấp II chỉ vì mưa ngập”. Ông cho rằng nhân dân thông qua hệ thống bầu cử trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra những người lãnh đạo thành phố thì họ có quyền đòi hỏi lãnh đạo và các cơ quan chức năng chịu trách nhiệm về toàn bộ những gì diễn ra trong thành phố của mình.

Ông Thuyết yêu cầu lãnh đạo UBND thành phố phải nhận khuyết điểm trước nhân dân, thậm chí phải thi hành kỷ luật những người chịu trách nhiệm chính và công bố kế hoạch cải tạo hệ thống thoát nước để chấm dứt nỗi thống khổ của dân thủ đô những ngày qua. “Vì sự chủ quan, bị động và thiếu nhạy cảm của chính quyền là nguyên nhân khó chấp nhận nhất”, ông nói.

NGỌC LAN

Nghich ly U Minh Ha: Rung dan xac xo, rung “quan” xanh muot

Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh...

NLĐO - Nghich ly U Minh Ha: Rung dan xac xo, rung “quan” xanh muot