Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2009

BÁO CHÍ VÀ DOANH NGHIỆP: AI ĐI BƯỚC TRƯỚC?

Vấn đề quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp, nhà báo và doanh nhân cũng được đặt ra ở các nước khác, với những nền báo chí khác, nhưng đặt ra một cách bình thường trong phạm trù đạo đức nghề nghiệp và nghiệp vụ đưa tin về kinh doanh; còn ở ta, do bối cảnh lịch sử, vấn đề còn có thêm ý nghĩa khác, hệ luỵ khác. Đây là chuyện đặt ra không riêng cho một toà soạn nào.

Những năm gần đây, cùng với đà phát triển kinh tế, sự lớn lên cả về số lượng lẫn chất lượng và tính chất đa sở hữu của doanh nghiệp trong nước; đồng thời là sự gia tăng về số lượng báo, tạp chí thuộc đủ loại hình và sự bùng phát ngày càng thường xuyên hơn những “vấn đề” của bản thân báo chí, trong dư luận cả hai phía - doanh nghiệp và báo chí, nhà báo và doanh nhân - đã xuất hiện ý muốn đặt lại khuôn khổ cho mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa báo chí và doanh nghiệp trên cơ sở hiểu biết, tôn trọng và tin cậy nhau hơn. Một bên là những người làm cái nghiệp kinh doanh, một thành phần quan trọng làm ra của cải cho xã hội, góp phần làm nên sự giàu mạnh của đất nước; một bên là những người làm cái nghiệp đưa tin, qua đó góp phần tạo nên sự minh bạch trong xã hội, góp phần vào sự dân chủ hoá và lớn mạnh của đất nước thông qua việc đưa thứ của cải tinh thần là thông tin đến mọi thành phần trong xã hội. Về mặt lợi ích, hai bên hoàn toàn có thể là đối tác của nhau: doanh nghiệp cần báo chí để thông tin cho công chúng, cho người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu của mình; ngược lại báo chí cần doanh nghiệp vừa như là đối tượng, đề tài thông tin, phản ánh, vừa là nguồn thu nhập qua quảng cáo (nếu báo không được bao cấp), nhờ đó báo chí có thể tồn tại và làm chức năng người đưa tin của mình.

Ấy vậy mà giữa hai bên đang tồn tại một sự thiếu hiểu biết, thiếu tin tưởng, đôi khi thiếu tôn trọng lẫn nhau. Một số ít mang danh nghĩa nhà báo coi doanh nghiệp như đối tượng để moi tiền, làm tiền bằng nhiều cách; một số nhà báo do thiếu khách quan, thiếu cẩn trọng trong khi viết hoặc đơn giản là do thiếu kiến thức đã gây khó khăn, thậm chí thiệt hại cho doanh nghiệp làm ăn chân chính hoặc có khó khăn tạm thời nhưng làm ăn ngay thẳng. Ngược lại, một số doanh nhân vừa coi báo chí là đối tượng để lợi dụng hòng đánh bóng trái sự thật hoặc quá sự thật cá nhân mình, doanh nghiệp mình, lại vừa sợ nhà báo, không muốn tiếp xúc, không muốn thông tin cho nhà báo. Tất cả đều bắt nguồn từ những thực tế khó bề phủ nhận từ cả hai phía. Trên báo chí, nhiều người cũng đã bàn nhiều về những nguyên nhân này, ở đây xin không lặp lại, không đi sâu thêm. Tuy nhiên có một nguyên nhân lịch sử khách quan còn chưa được bàn tới, đó là xuất phát điểm, và từ đó là đặc điểm của doanh nghiệp cũng như của báo chí nước ta.

Thời bao cấp, doanh nghiệp quốc doanh và báo chí có thể nói như ở chung một nhà, một bên làm nhiệm vụ sản xuất, một bên làm nhiệm vụ đưa tin, tuyên truyền (chủ yếu là biểu dương, tô hồng) về doanh nghiệp (quốc doanh), quan hệ hai bên phần lớn là tốt đẹp dưới cùng một bàn tay chỉ đạo và bảo trợ bằng ngân sách của nhà nước. Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã trở thành nền kinh tế đa sở hữu, nhiều doanh nghiệp tư nhân ra đời. Đó là một sự ra đời sau cơn quặn đau của cải tổ cơ chế và thực sự phải đến năm 2000, khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, doanh nghiệp tư nhân như một thành phần kinh tế chính thức mới có chỗ đứng đường đường chính chính dưới ánh mặt trời. Tuy vậy, với họ, bất trắc rủi ro chưa phải đã hết và môi trường kinh doanh vẫn còn lắm nhiêu khê. Điều đó khiến họ luôn phải ở trong tư thế phòng thủ, dẫn đến xu hướng càng ít công khai thông tin càng tốt vì công khai có thể chuốc lấy rắc rối, và nếu kiếm tìm được chỗ dựa trong giới công quyền và giới báo chí (để làm chỗ che chắn) càng hay. Cho tới nay, chuyện thông tin, chuyện minh bạch vẫn là điểm yếu trong văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.

Còn với hàng trăm tờ báo, tạp chí mới ra đời mà nhà nước không còn có thể bao cấp và buộc phải sống với thị trường, không ít tờ phải bươn chải, phóng viên có khi kiêm luôn cả việc đi lấy quảng cáo, nhiều lạm dụng nảy ra từ đó. Mặt khác, chính giai đoạn đầu chuyển đổi kinh tế lại trùng hợp với giai đoạn mà chủ trương “chống tiêu cực” được phát động mạnh mẽ, dựa vào đó một số ít nhà báo tiêu cực, biến chất, dưới cái cớ “chống tiêu cực” đã bươi móc, o ép doanh nghiệp (dù một số trong đó quả có tì vết) hòng moi tiền. Chưa kể một số nhà báo khác, hoặc do ấu trĩ hoặc do cả tin vào một nguồn thông tin có ý đồ riêng mà vô tình gây hại cho doanh nghiệp. Đó là giai đoạn mà giám đốc doanh nghiệp thường được mô tả như những kẻ bụng phệ ăn chơi, hám tiền, hám gái, qua những nguồn thông tin, tư liệu từ cơ quan điều tra nhưng được nguỵ trang như là điều tra riêng của phóng viên, nghị án, kết án những người bị tình nghi mà chính toà án chưa xét xử, kết án. Bên cạnh đó, trong khi nền kinh tế đã bắt đầu chuyển đổi theo cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã ra đời thì nhà báo lại chưa nâng được trình độ hiểu biết về sự vận hành của nền kinh tế thị trường, về thực tế và tập quán kinh doanh, nói gì đến những kiến thức sâu hơn về tài chính, thị trường chứng khoán… Sâu xa trong nếp nghĩ, nhà báo nhiều khi vẫn còn bị trói buộc bởi ảnh hưởng của tư duy bao cấp và phong kiến, coi rẻ doanh nhân, xem doanh nhân như tầng lớp thấp kém, chỉ biết đồng tiền, chỉ biết chạy theo lợi nhuận. Trong không ít bài báo, ta thường gặp những từ ngữ như “đầu nậu”, “tư thương trục lợi”… và kết thúc bằng những câu hỏi đại loại như “vai trò nhà nước ở đâu?”, v.v…Ngược lại, cũng có nhà báo tự biến mình thành công cụ, thành cái loa của doanh nghiệp này hoặc doanh nghiệp khác, và thường là những doanh nghiệp có thế lực, để trục lợi. Mãi đến thời gian gần đây một số phóng viên chuyên về kinh tế mới được cho đi học các lớp đào tạo ngắn hạn về viết báo kinh tế, tài chính, chủ yếu với sự giúp đỡ của các trường, viện báo chí nước ngoài.

Như vậy, mối quan hệ chưa được suôn sẻ, tốt đẹp giữa doanh nghiệp và báo chí bắt nguồn từ cả hai phía và từ những nguyên nhân có tính lịch sử, từ sự non yếu trong bước đầu phát triển của cả hai lĩnh vực, doanh nghiệp và báo chí. Vậy để xây dựng mối quan hệ đối tác tốt đẹp giữa hai bên, cần phải làm gì? Ở nhiều hội thảo, bàn tròn về chủ đề này, nhiều đề nghị đã được đưa ra. Tuy nhiên, theo chúng tôi, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, trong đó có chuyện minh bạch thông tin về doanh nghiệp, chuyện doanh nghiệp nhìn nhận đúng về báo chí và chức năng của báo chí (báo chí viết về doanh nghiệp, doanh nhân như một đối tượng phản ánh nhưng không phải là công cụ làm PR, đánh bóng, tô hồng doanh nghiệp hay doanh nhân mà trước hết phải phục vụ nhu cầu người đọc và không phải thông điệp nào của doanh nghiệp cũng đáp ứng yêu cầu ấy) là một vấn đề lâu dài và chỉ có thể phát triển từng bước theo sự hoàn thiện từng bước của nền kinh tế thị trường và văn hoá doanh nghiệp ở nước ta. Trong khi đó, với tư cách là người đưa tin, người mang lại món ăn tinh thần cho xã hội, góp phần nâng cao dân trí, báo chí phải là người trước tiên nắm rõ về đối tượng mà mình phản ánh - ở đây là doanh nghiệp và đời sống kinh doanh, là sự vận hành và những quy luật của nền kinh tế thị trường - nên theo chúng tôi, báo chí cần đi trước một bước, tự sửa mình, nâng mình lên, tự trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức cơ bản về kinh tế và kinh tế thị trường, về đời sống kinh doanh, về doanh nhân và vai trò của họ trong xã hội, về đặc điểm lịch sử của doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam. Cần đặt mình vào vị trí doanh nhân để thấu hiểu nỗi khó khăn và những trở lực họ phải vượt qua để đạt được những thành quả xứng đáng chứ đừng chỉ nhìn vào thành quả họ đang hưởng. Mặt khác cần giữ được tính độc lập và sự tỉnh táo khi đưa tin về doanh nghiệp và doanh nhân, không để mình bị chi phối bởi tư lợi đã đành, mà cả bởi chính nguồn tin có ý đồ riêng hoặc những “chỉ đạo” từ đâu đó không phù hợp với chức năng người đưa tin trung thực, vô tư, khách quan của báo chí.

Tôi tin thiện chí và sự tin cậy sẽ được đền đáp lại bằng sự tin cậy và thiện chí.

Nhà báo và tiếng mẹ đẻ

“Tỷ giá Việt Nam đồng/đô la Mỹ hôm qua là…”. Không ít bản tin tài chính trên các báo viết như vậy. Quái lạ! Tại sao đồng tiền Việt Nam lại viết đảo thứ tự (Việt Nam đồng) như trong ngữ pháp tiếng Anh hoặc tiếng Hoa, còn đô la Mỹ thì lại viết đúng theo ngữ pháp tiếng Việt mà không phải là “Mỹ đô la”? Và hai cụm từ đó đi liền nhau mà người ta chẳng buồn thắc mắc, chẳng thấy chướng tai. Cả trên truyền hình cũng thường xuyên nói theo cách đó. Tại sao không thể nói “đồng Việt Nam” một cách bình thường (và đúng ngữ pháp) ? Hay nói đảo ngược như thế mới sang, mới chứng tỏ mình biết tiếng Anh hoặc biết đọc thống kê, bảng biểu tài chính? Bởi kiểu viết “VND” (từ đó, viết hoặc đọc là “Việt Nam đồng”) để chỉ đồng tiền Việt Nam thường chỉ dùng trong thống kê, bảng biểu, trong các bản thông tin tài chính - tiền tệ vì mục đích ngắn gọn và để thống nhất với cách viết tên các loại đồng tiền khác theo tiếng Anh (USD, CAD, AUD, SGD…). Nhưng viết trong bài báo và đọc trên truyền hình, phát thanh như thế liệu có ổn ? Thật tội nghiệp cho tiếng Việt, người ta muốn nói, muốn viết thế nào thì nói, viết, bất chấp quy tắc ngữ pháp.

Một ví dụ khác về việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt, không sai nhưng không được chuẩn xác: “đổ trộm” (vụ Hyundai Vinashin lén đổ chất thải nix và bị phát hiện) ? Lẽ ra phải viết là “lén đổ” hoặc “lén lút đổ”. Bởi “trộm” khác với “lén”. “Trộm” là lấy đi của ai vật gì đó mà không để chủ nhân của nó biết. Còn “lén” hoặc “lén lút” là làm điều gì đó mà không để cho ai biết. Ở đây Hyundai Vinashin không lấy đi của ai vật gì cả, nên không thể nói là “trộm”, mà lén lút đổ thứ chất thải nguy hại cho môi trường, không để cho ai hay biết. Từ chỗ một tờ báo đầu tiên dùng từ “đổ trộm” (có lẽ tòa soạn quá vội vì đến giờ đưa đi in nên không kịp nghĩ ra từ chính xác chăng ?), tất cả các báo lẫn một số quan chức phát biểu sau đó cũng đều dùng chữ “đổ trộm”.

Rồi “tối ưu nhất”, “”giảm... tối đa”. Lại thêm những lỗi sơ đẳng thuộc về logic, rất thường gặp trong bản thảo phóng viên. “Tối” đương nhiên là nhất, vậy tại sao còn phải thêm “nhất” ? Chẳng lẽ có nhiều cái tối ưu nên có cái “tối ưu nhất” ? Nếu có nhiều cái tối ưu thì làm gì còn cái tối ưu theo nghĩa có ưu điểm nhất ? Và nói “giảm tối đa” là nói điều mâu thuẫn, bởi “giảm” làm sao có thể đi với “tối đa” ? Tất nhiên người đọc hiểu được ý người viết nhưng viết như vậy là hoàn toàn mâu thuẫn, bởi hai khái niệm “giảm” và “tối đa” là đối nghịch. Nói đúng phải là “giảm đến mức tối thiểu”, “giảm đến mức thấp nhất” - dù có phải dài dòng một tí.

Một lỗi khác rất thường bắt gặp trên báo chí là một mặt ưa viết tắt vô tội vạ, có khi viết tắt từ đầu đến cuối bài một từ mà không một lần mở ngoặc viết đấy đủ từ đó để người đọc không phải mất thì giờ bóp đầu bóp trán phỏng đoán từ đó là gì; mặt khác lại viết rất thừa những cụm từ lẽ ra có thể viết, nói rất gọn mà người đọc, người nghe còn dễ hiểu hơn, kiểu như: “thực hiện cắt giảm”, “thực hiện chống lãng phí”, “điều chỉnh tăng”, “điều chỉnh giảm”, “phối hợp tác” (ví dụ trong phát biểu của thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn về nghi án PCI hối lộ một quan chức Việt Nam),v.v…Những từ “thực hiện”, “điều chỉnh”, “phối” trong các cụm từ trên là thừa và chỉ khiến người đọc phải tốn thêm thời gian để đi đến thông tin chính. Hoặc đã nói “công bố”, liệu có cần phải thêm “công khai” ? Bởi “công bố” đã bao hàm nghĩa “công khai”, là thông báo cho công chúng, cho mọi người được biết. Có “công bố” nào lại bí mật, để phải thêm từ “công khai” vào sau từ “công bố” ? Vậy mà nhiều phóng viên cứ viết “công bố công khai”. Thậm chí cả trong một số văn bản của cơ quan công quyền cũng phạm lỗi này.

Nếu “bắt lỗi” ngữ pháp tiếng Việt trên báo chí thì có thể nói, đếm không hết, như câu sau trên một tờ báo ra ngày 21- 6 - 2008: “Câu chuyện của cậu học trò bỏ quê vào Sài Gòn kiếm tiền học phí đã được Bí thư Thành ủy (…) cảm động, ông dừng lại khá lâu bên Duy...” Thật buồn. Trường học, kể cả đại học, của chúng ta đào tạo ra những người cầm bút viết tiếng mẹ đẻ như thế sao ?

Một dạng “phá phách” tiếng Việt thô bạo khác là mang những từ lóng của một giới nào đó hoặc mang ngôn ngữ nói sống sượng từ đường phố vào sử dụng thoải mái trong báo chí. Những “khủng”, những “đỉnh”, những “cháy”… cứ thế “vô tư” đi vào trong văn báo chí ngày càng nhiều, thậm chí đôi khi với vẻ khoái trá của người viết, như một thứ mốt thời thượng, như để chứng tỏ mình “sành điệu”.

Một cách khác chứng tỏ ta đây “sành điệu” là sử dụng từ tiếng nước ngoài một cách không cần thiết, thậm chí còn sử dụng sai. Tôi từng đọc trên báo mạng một bản tin về một mặt hàng áo ngực mới vừa được tung ra ở nước ngoài. Sau khi kể tên mặt hàng mới, hãng sản xuất, đặc điểm, giá cả…, tác giả thản nhiên viết áo ngực có “size” thế này thế khác, làm như từ “cỡ” trong tiếng Việt không đủ để diễn tả kích cỡ của mặt hàng “sang trọng” đó. Hoặc nhan nhản trên các báo mỗi khi xuất hiện một đợt dịch bệnh, là từ “tuýp”, chẳng hạn “virus tuýp A/ H5N1”. Tôi dám chắc nhiều phóng viên sử dụng từ “tuýp” này chỉ chép lại nguyên xi từ trong văn bản hoặc phát biểu của các quan chức và chỉ hiểu mang máng nghĩa của nó mà không biết trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp từ đó được viết và đọc như thế nào, bằng không đã không viết như vậy. Nếu là tiếng Anh, từ đó là “type” (kiểu, loại, chủng loại) và phải đọc là “tai-pơ”; nếu là tiếng Pháp, viết cũng như thế và nghĩa chính cũng vậy, nhưng phải đọc là “tip”. Còn đọc là “tuýp” thì trong tiếng Anh không có từ nào, trong tiếng Pháp thì chỉ có thể là từ “tube”, nhưng nghĩa chính là “ống” (như ống sắt hoặc ống đèn (néon), ống kem (đáng răng), ống thuốc (mỡ, kem) mà người ta bóp để nặn thuốc ra).

Điều đáng nói là những người thích khoe mẽ, làm dáng, thích tỏ ra biết tiếng nước ngoài nhiều khi lại chỉ biết bập bõm, trong khi những chuyên gia, những nhà khoa học người Việt sống ở nước ngoài lâu năm hoặc hiểu biết thâm sâu cả tiếng nước ngoài lẫn tiếng Việt lại rất hạn chế chêm tiếng nước ngoài vào trong bài viết tiếng Việt của họ. Họ thường chỉ sử dụng tiếng nước ngoài trong trường hợp bị buộc phải chua thêm cho thật rõ nghĩa một từ nào đó mà tiếng Việt không có từ tương đương hoặc có nhưng không thể lột tả hết ý nghĩa. Tôi nghĩ đó là vì họ yêu tiếng Việt, họ tôn trọng tiếng mẹ đẻ, cũng là tôn trọng dân tộc mình. Và đó cũng là sự tự trọng. Người tự trọng thì không “phá phách” tiếng mẹ đẻ của mình mà phải sử dụng nó với tất cả sự tôn trọng và yêu mến. Không tôn trọng tiếng mẹ đẻ cũng có nghĩa là không tôn trọng chính mình, là đánh mất sự tự trọng.

Ngôn ngữ, cũng như chính cuộc sống, luôn luôn phát triển, luôn luôn tự bổ sung, nhưng không phải một cách vô tội vạ, vô nguyên tắc.

Tiếng Việt, cũng như các ngôn ngữ khác vẫn luôn phát triển, luôn được bổ sung những từ mới để chỉ những thực thể mới, những khái niệm mới vốn trước đó chưa có trong ngôn ngữ dân tộc. Như những từ “xà phòng” (xà bông), “phanh” (thắng), “cà phê”, hoặc “luận lý” (logique), “kinh tế”…đã được bổ sung vào tiếng Việt khi nước ta tiếp xúc với văn minh, văn hoá Pháp và phương Tây nói chung, vì trước đó ta chưa có những thực thể hoặc khái niệm đó. Một số nhà xuất bản từ điển tiếng nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Pháp cũng thường định kỳ tuyển chọn, san định và đưa vào từ điển những từ mới xuất hiện trong cuộc sống và đã được sử dụng tương đối phổ biến, nhưng họ phải cân nhắc rất kỹ. Với tiếng Việt, cần nhất là nghiên cứu, san định, bổ sung những từ ngữ khoa học như nhà bác học Hoàng Xuân Hãn trước đây từng làm và tiếc là từ đó tới nay không ai làm được như vậy. Ngược lại, với cái cớ cuộc sống phát triển nên ngôn ngữ cũng phải phát triển theo, phải “sáng tạo”, người ta đang “ phá phách”, làm méo mó tiếng Việt, biến tiếng Việt từ chỗ như một cô gái đẹp trở thành như một cô gái làng chơi diêm dúa, lai căng.

Cú lừa thượng đỉnh

Trang web hợp tác kinh tế vietnamchina.gov.vn mà lại đưa toàn tin tức về Trung Quốc, quan điểm của Trung Quốc đã rõ là một cú lừa thượng đỉnh, một cú lừa ở tầm quốc gia. Xem lại hình ảnh buổi nhấn nút khai trương trang web này hồi năm 2006 với Hồ cẩm Đào đứng giữa, hai bên là hai nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam mới thấy chua xót đến mức nào, mới thấy chính quyền Trung Quốc thâm đến mức nào và ta thì ngây thơ đến mức nào.
Không biết vụ này có đủ làm sáng mắt cho những ai còn nhẹ dạ cả tin vào thiện chí hợp tác thật lòng của anh láng giềng phương Bắc, vào những "chữ vàng" đường mật ?
Giữ hòa khí, tránh xung đột, tránh chiến tranh đương nhiên là cần thiết để xây dựng đất nước, nhưng có lẽ nào cứ nhẹ dạ cả tin để anh láng giềng phương Bắc xỏ mũi dắt đi, đến khi giật mình nhìn lại thì sự mất mát có khi vô phương cứu chữa.
Từ trang web này, nghĩ lại vụ hợp tác khai thác bauxite càng thêm lo.
Và thật lạ lùng là phản ứng lúng túng như gà mắc tóc của các cơ quan liên quan của Việt Nam. Bình thường, một trang web của các tờ báo trong nước đăng bài gì người ta không vừa ý, tổng biên tập báo đó ngay lập tức nhận được điện thoại, ra lệnh phải gỡ ngay bài xuống. Còn vụ việc này xảy ra đã mấy ngày nay, các quan chức liên quan vẫn cứ ú ớ. Xem bài trên BBC (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090515_vnwebsite_china_update.shtml) và một số blog trong nước thì rõ.

TRỞ LẠI CÔN ĐẢO

Noel 1972, từ nhà lao Tân Hiệp ở Biên Hòa tôi bị đưa ra bến tàu Tân Cảng Sài Gòn rồi đưa xuống tàu, chiếc HQ 404 hay 405 gì đó, bị cùm chân dưới hầm tàu cùng hàng trăm tù nhân chính trị khác, ra Côn Đảo. Tàu khởi hành buổi chiếu, sáng hôm sau thì đến cầu tàu 914 Côn Đảo. Từ đó đi qua các trại 2 (Phú Hải), trại 7 (chuồng cọp mới), trại 8, cuối cùng là Lò Vôi, trước khi được đưa trở về đất liền vào tháng 6-1973, mấy tháng sau hiệp định Paris, nhưng không phải để trả tự do mà bị đưa trở lại nhà tù Chí Hòa, nơi tôi đã ở trước khi bị đưa qua Tân Hiệp rồi sau đó là Côn Đảo. Từ Chí Hòa tôi bị đưa vào Trung tâm 3 nhập ngũ bắt đi lính. Không chịu mặc áo lính, lại bị đưa ra tòa quân sự mặt trận vùng 3 chiến thuật, kêu án tù 5 năm rồi bị đưa xuống nhà lao Gò Công (cùng với Bửu Chỉ, họa sĩ phong trào SVHS Huế, và Thọ, một học sinh Đà Nẵng), ở đó cho đến 30-4-1975 thì cùng với những tù nhân khác tự phá nhà lao ra vì lính gác khi ấy đã bỏ chạy hết. Từ Gò Công, tự bắt xe đò trở về Sài Gòn.
Vậy là ở tù đúng 3 năm, từ 30-4-1972, giữa “mùa hè đỏ lửa”, đến 30-4-1975, trong đó có 6 tháng ở Côn Đảo. Chỉ 6 tháng nhưng bị đưa qua đến 4 trại giam khác nhau. Mặc dù vậy, tất nhiên tôi chẳng biết gì về Côn Đảo ngoài bốn bức tường các phòng giam đã đi qua.
Tôi trở lại Côn Đảo năm 1994 hay 1995 gì đấy, cùng với một đoàn cựu tù Côn Đảo của TPHCM. Lần này cũng đi bằng tàu hải quân từ Tân Cảng, chiều lên tàu, sáng tới, nhưng lẽ tất nhiên không bị cùm chân dưới hầm tàu mà tự do đi lại trên boong tàu. Lần này mới biết thêm một chút về Côn Đảo: thăm miếu bà Phi Yến, thứ phi của Nguyễn Ánh tức Gia Long tương lai đang bôn ba chạy trốn Tây Sơn ra tận đây, thăm Bến Đầm, nghĩa trang Hàng Dương, cầu Ma Thiên Lãnh, leo núi qua bãi Ông Đụng, tắm biển ở bãi tắm cát trắng mịn tuyệt vời trước sở Lò Vôi nằm bên kia đường. Nhưng cảnh vật Côn Đảo lúc này vẫn còn u ám lắm, không khí vẫn còn nặng mùi lao tù, tử khí, chưa thành ra một địa điểm du lịch hấp dẫn.
Lần thứ hai trở lại Côn Đảo từ ngày 9 đến 12-4-2009. Giờ, bay máy bay ATR72 chỉ mất 40 phút, giá vé 1.650.000 đồng khứ hồi. So với một chiều một đêm đi tàu, sóng gió, có người ói ra mật xanh mật vàng, thì 40 phút bay quả là thần tiên. Trở lại Côn Đảo lần này, tôi có điều kiện ngắm Côn Đảo kỹ hơn, dù buổi sáng đón mặt trời lên để chụp ảnh cảnh bình minh từ mũi Cá Mập không thành, do hôm ấy trời mây vần vũ quá.
Phải nói Côn Đảo là một báu vật trời cho, xét về mặt cảnh vật, với biển, núi, rừng còn giữ được nét nguyên sơ, với màu trời mùa này xanh biếc như ngọc bích phản chiếu xuống mặt nước biển và xuống hồ chứa nước ngọt cung cấp cho Côn Đảo (ảnh 1). Cảnh vật Côn Đảo giờ khác hẳn năm xưa. Sân bay Cỏ Ống hơi giống sân bay Phú Quốc, nhỏ nhắn nhưng khá xinh xắn, sạch sẽ. Thị trấn Côn Sơn cũng nhỏ nhắn, trung tâm thị trấn quy hoạch vuông vức như bàn cờ, đường sá trải nhựa sạch sẽ, kể cả mấy con đường từ trung tâm thị trấn đi Bến Đầm qua mũi Cá Mập, khoảng 12 cây số; hoặc từ thị trấn đi sân bay Cỏ Ống, dài 14 cây số bây giờ cũng đã trải nhựa ngon lành. Dọc hai bên các con đường mới trong thị trấn người ta trồng cây bằng lăng hoa nở tím ngắt; còn dọc các con đường cũ ở khu trung tâm, những cây bàng cổ thụ từng chứng kiến những đoàn tù nhân đi qua xưa kia giờ vẫn đứng đó trầm ngâm. Con đường Tôn Đức Thắng nằm ở mặt tiền thị trấn, nhìn ra vịnh Côn Sơn, đối diện với cầu tàu lịch sử 914 (cái tên bắt nguồn từ câu chuyện có tới 914 tù nhân đã bỏ mạng trong khi xây dựng chiếc cầu tàu này) và cầu tàu du lịch ở bên cạnh mới xây dựng sau này, là một con đường đẹp. Dọc con đường này đã mọc lên hai khách sạn lớn: khách sạn Sài Gòn-Côn Đảo của Saigontourist và Côn Đảo Resort của Liên đoàn Lao đông tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nằm sát biển, với bãi tắm cực đẹp và sạch. Trên con đường từ thị trấn đi sân bay Cỏ Ông, khu du lịch hạng sang Six Senses Hideaway do Indochina Land đầu tư (ảnh mô hình) đang được xây dựng, dự kiến khai trương cuối năm nay. Con đường từ thị trấn đi sân bay nhiều đoạn men theo biển, đứng ven đường nhìn xuống biển, nhiều chỗ thấy nước biển đập vào bờ đá, vỡ ra thành những mảng nước xanh một màu ngọc bích tuyệt đẹp.
Từ thị trấn đi về hướng ngược lại với hướng đi sân bay, ta đến mũi Cá Mập rồi từ đó đi cảng Bến Đầm. Cảng bây giờ khá tấp nập với cơ sở dịch vụ hậu cần cho ghe tàu đánh cá, với một câu lạc bộ thủy thủ…
Trở lại Côn Đảo lần này, ngoài mấy điểm tham quan cũ, tôi còn đi thăm miếu Cậu, tức miếu thờ (và cả mộ) hoàng tử Cải, con Nguyễn Ánh, nằm bên một con đường đất nhỏ đi bãi Đầm Trầu, gần sân bay Cỏ Ống. Người dân nơi đây kể rằng hoàng tử Cải đã bị cha mình ném xuống biển vì khóc lóc, van xin cho mẹ là thứ phi Phi Yến đi cùng khi quân Tây Sơn tấn công lên đảo, buộc Nguyễn Ánh phải chạy trốn. Thứ phi Phi Yến lúc ấy đang bị giam trong một hang đá vì đã dám khuyên can Nguyễn Ánh không nên dựa vào người Pháp khi Nguyễn Ánh gửi hoàng tử Cảnh sang Pháp với giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine).
Côn Đảo giớ có khoảng 6.000 dân, trong đó hết 4.000 là bộ đội và công chức. Còn lại khoảng 2.000 dân thường, là thân nhân của 4.000 người nói trên, dân từ nơi khác trôi giạt đến đây làm ăn như mấy cô gái miền tây Nam bộ mà tôi đã gặp ở gần Câu lạc bộ thủy thủ cảng Bến Đầm, và cư dân tại chỗ không biết đã đến sinh sống ở hòn đảo này từ bao giờ. Có một ngôi làng nhỏ gọi là làng Cỏ Ống, dân cư trồng lúa, hoa màu trên một thung lũng hẹp; một ngôi làng nhỏ khác nằm sát sân bay, cư dân sống bằng nghề đi biển và trồng rau. Tuy vậy phần lớn hàng tiêu dùng, kể cả nhiều loại rau, vẫn phải đưa từ đất liền ra, nên giá cả nhiều thứ cao hơn trong đất liền. Hàng quán còn ít, nhưng người dân cũng đã bắt đầu biết làm dịch vụ, như mở khách sạn mini, giá rẻ hơn ở hai khách sạn lớn kia nhiều mà cũng sạch sẽ. Có một nhà ăn dành cho công nhân viên các cơ quan của thị trấn, nằm ngay trong trụ sở ủy ban nhân dân thị trấn, nấu ăn khá ngon mà giá cũng rẻ, cả du khách nước ngoài cũng vào ăn. Nhà hàng đặc sản thì có Tri Kỷ nổi tiếng nấu ăn ngon ở đây.


***
Ngoài ngắm cảnh, tôi cũng thăm nghĩa trang Hàng Dương và trở lại thăm những nơi mình đã bị giam trước đây. Đến Hàng Dương, đập vào mắt tôi lần này là ngoài mộ chị Võ Thị Sáu, tuy không lớn nhưng có tạc hình, có ghi tên tuổi, có nhiều hoa và lúc nào cũng đầy nhang khói, trong những dãy dài các mộ xung quanh có nhiều mộ không tên không tuổi, không có hoa và lác đác mới thấy cắm một cây nhang (ảnh). Đứng trước mộ họ, tôi bỗng suy nghĩ vẩn vơ: nếu không hy sinh, nếu còn sống đến ngày hôm nay họ sẽ nghĩ gì, có hài lòng với sự phát triển ngày hôm nay của đất nước mà vì nó họ đã hy sinh không? Không thể nào biết được, nhưng câu hỏi đó vẫn cứ bám lấy đầu óc tôi, không chịu rời xa.
Muốn đi thăm các trại giam cũ, không thể tự đi mà phải liên hệ với bộ phận bảo tàng, mua vé 20.000 đồng/người, có nhân viên bảo tàng dẫn đi. Vì các trại nằm cách xa nhau, phải đi xe gắn máy, tôi và ba người bạn mượn được hai chiếc xe, nhân viên hướng dẫn của bảo tàng đòi khách tham quan phải trả tiền đổ xăng cho xe họ. Tôi ngạc nhiên trước cách tổ chức du lịch truyền thống kiểu này nhưng rồi cũng đồng ý vì không có cách nào khác. Trại Phú Hải vẫn như xưa, nhưng phòng giam lớn số 1 nơi tôi bị giam trước đây giờ thành như nhà kho, còn phía đối diện, cách một khoảng sân, trong phòng giam những người tù tên tuổi trước đây mà sau này đã trở thành những nhà lãnh đạo cao cấp, bây giờ người ta làm mô hình những tù nhân bị cùm chân thành dãy dài. Có một điều trước đây tôi không biết là ở phía cuối trại giam này có một cái cổng dẫn ra nơi trước đây là nơi đập đá của tù khổ sai. Phan Chu Trinh đã từng đập đá ở đó. Giờ, hai bên cổng người ta gắn hai tấm biển, tấm bên phải cho biết đây là khu đập đá và Phan Chu trinh đã từng phải lao động khổ sai tại đây, tấm bên trái ghi bài thơ “Đâp đá Côn Lôn” của cụ Phan (ảnh).
Sau trại 2 (Phú Hải), tôi trở lại trại 7, nơi tôi đã bị biệt giam ở phòng số 8 khu G (trại có hai khu là G và H). Vẫn như xưa, chỉ khác là xung quanh cái giếng nước ở giữa sân khu G, sau này người ta đã láng xi măng, lúc tôi ở thì chưa. Chính ở phòng số 8 khu G này, một bữa có ai đó đã ném cho tôi qua mấy song sắt phía trên phòng biệt giam một cái lọ thuốc bằng nhôm mà khi mở nắp ra tôi mới thấy là đựng cà phê. Cà phê đen còn nóng. Đó là ngụm cà phê ngon nhất trong đời đối với tôi. Tôi không biết người ném lọ thuốc cà phê là ai, một bạn tù được ra ngoài lao động, mua rồi lén ném cho tôi hay là một nhân viên trật tự (thường là tù thường phạm). Dù là ai thì người đó hẳn cũng biết tôi ghiền cà phê nặng từ lúc còn là sinh viên.
Sau trại 7 đến trại 8. Trại này nằm xa trung tâm nhất và tương đối tách biệt với các trại còn lại. Trại bây giờ bỏ hoang, phòng số 6 nơi tôi bị nhốt cùng nhiều người khác đầy phân bò. Chính ở trại giam này hồi đó tôi bị mắc bệnh kiết lỵ, không có thuốc uống, tưởng đã “đi đời”. May mà đúng lúc đó lại có lệnh chuyển tôi qua Lò Vôi, chuẩn bị đưa về đất liền. Ở đó, ban ngày tù nhân được đi ra ngoài lao động chứ không bị giam suốt ngày như ở các trại khác và tôi đã được anh em ra ngoài lao động tìm cho thứ lá cây có tác dụng cầm kiết lỵ để uống, nhờ đó mà qua khỏi.
Cuối buổi thăm các trại tù cũ, tôi đưa tiền xăng và tiền bồi dưỡng cho cô hướng dẫn viên nhưng không hiểu sao, trái với đòi hỏi trước lúc đi, bây giờ cô lại nhất định không chịu nhận tiền và quày quả bỏ đi dù tôi cố giúi tiền vào tay cô.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2009

Nếu không có sự phản biện xã hội…


Bài này viết, dự định đăng trên TBKTSG số ra ngày 30-4-2009 nhưng cuối cùng phải “tự kiểm duyệt”, gác lại, nên post lên đây chơi. Có sửa chữa chút ít ở đoạn cuối, nói thẳng ra điều cần nói.Và chỉ muốn thêm một câu ở cuối bài: Phản biện hay tự do trao đổi, bàn luận vì lợi ích chung của đất nước - chuyện bình thường, tự nhiên đối với người dân hầu hết các nước, sao khó khăn đến thế, “nhạy cảm” đến thế ở đất nước này? Bao nhiêu người hy sinh cho độc lập, tự do, phải chăng là tự do kiểu này?
Đang viết bài ghi chép “Trở lại Côn Đảo”, viết mãi vẫn chưa xong vì thế.

Nếu không có sự phản biện từ nhiều giới khác nhau trong xã hội, từ các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, công nghệ, môi trường, văn hóa đến các chuyên gia quốc phòng, các bậc lão thành cách mạng; nếu dự án và kế hoạch khai thác bauxite của Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV) vẫn được tiến hành như ban đầu, hẳn chưa ai đánh giá hết được hậu quả mà nền kinh tế, môi trường sinh thái của cả một vùng rộng lớn của đất nước và bản sắc văn hóa cũng như an sinh xã hội của cư dân Tây nguyên sẽ phải gánh chịu về lâu về dài. Sự phản biện của nhiều giới, đặc biệt là các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, hẳn đã góp phần vào sự điều chỉnh chủ trương từ cấp lãnh đạo cao nhất như mọi người đã biết: đó là thu hẹp quy mô, làm từng bước, bảo đảm chặt chẽ các điều kiện về hiệu quả kinh tế xã hội, công nghệ, môi trường, sử dụng lao động, an sinh xã hội, an ninh quốc phòng. Phản biện xã hội đã chứng minh sự cần thiết và hữu ích của nó.
Tác dụng của phản biện xã hội trong vấn đề khai thác bauxite khiến ta nhớ lại nó cũng đã phát huy tác dụng như thế nào trước những chủ trương thiếu thực tế, thiếu thuyết phục của cấp này hay cấp khác, chẳng hạn dự định cấm xe máy các tỉnh đi vào Hà Nội; cấm người ngực lép, thấp bé, nhẹ cân lái xe gắn máy hay đề ra tiêu chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, cho xây khách sạn trong công viên, v.v…Điều đó cho thấy mỗi quyết sách, chủ trương, muốn được xã hội đồng tình và nhờ đó mà dễ dàng đi vào cuộc sống, cần được công khai, minh bạch, được nhìn nhận dưới nhiều góc cạnh, được phân tích, mổ xẻ đến nơi đến chốn. Có nhu vậy mới tạo được sự đồng thuận, sự thống nhất ý chí giữa lãnh đạo và người dân. Điều đó cũng sẽ giúp cho xã hội, cho nền kinh tế giảm thiểu được cái giá phải trả cho những chủ trương đôi khi chủ quan, duy ý chí, thiếu cơ sở khoa học.
Sự cần thiết và tác dụng của phản biện xã hội như vậy là đã rõ. Vấn đề là làm sao để nó phải trở thành một thiết chế bắt buộc và thực sự phát huy tác dụng chứ không phải là chuyện có cũng được không có cũng được, làm hình thức, lấy lệ hoặc chỉ làm khi công luận đòi hỏi. Việc Bộ Chính trị yêu cầu đưa vấn đề khai thác bauxite ra bàn tại Quốc hội khi dự án trong thực tế đã bắt đầu được triển khai cho thấy có một sự thiếu sót, bất cập về mặt luật pháp và thiết chế phản biện xã hội liên quan đến dự án này (và những dự án khác nữa).
Lợi ích của sự phản biện xã hội liên quan đến vấn đề khai thác bauxite cũng như một số chủ trương thiếu thuyết phục của cấp này cấp khác nói ở trên phải chăng đã quá đủ để những những người lãnh đạo coi trọng ý kiến phản biện đa chiều của các giới khác nhau trong xã hội trước những chủ trương lớn ảnh hưởng đến số đông người dân và đến vận mệnh đất nước. Điều đó chỉ có thể có lợi cho sự nghiệp chung dù có thể nghịch tai, không làm vừa lòng một số người.