Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Đến Bhutan, nằm mộng thiên đường

Himalaya trùng điệp, nhìn từ đỉnh đèo Dochula
Từ Kathmandu, thủ đô Nepal, máy bay bay dọc theo những đỉnh cao nhất trong dãy Hi mã lạp sơn, trong đó có Everest (8.848m, trên biên giới Nepal – Tây Tạng), rồi Jhomolhari (7.314m, phía Tây Bhutan), để đáp xuống sân bay Paro của Bhutan. Còn chưa hết choáng ngợp trước cảnh tượng hùng vĩ chưa từng thấy trong đời của những đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa của Hi mã lạp sơn, du khách lại đã cảm thấy sững sờ trước vẻ đẹp độc đáo của nhà ga sân bay quốc tế Paro với đường nét kiến trúc, những họa tiết và màu sắc, chủ yếu là nâu đỏ – vàng đất – và đen, đặc trưng của kiến trúc Tây Tạng, khi chiếc Airbus của hãng hàng không quốc gia Bhutan, Druk Air, đáp xuống sân bay. Paro là một sân bay nhỏ và là sân bay duy nhất cho tới nay của vương quốc nhỏ, diện tích chỉ hơn 1/10 Việt Nam, dân số chưa tới 1 triệu, nằm ở phía Nam dãy Hi mã lạp sơn, giáp Tây Tạng này.
Đường nét kiến trúc ấy, những họa tiết theo lối kỷ hà ấy, những màu sắc đặc trưng ấy, tôi sẽ bắt gặp lại những ngày sau, với một quy mô hoành tráng hơn, vẻ đẹp huy hoàng hơn nơi các dzong – những tuyệt tác kiến trúc nửa pháo đài nửa lâu đài, với các tường ngoài cao và dựng đứng, thường nằm trên những ngọn đồi hoặc sau những hào nước sâu thuận lợi cho phòng thủ, bên trong thường có một tháp cao, có cung điện cho vua chúa, có chùa và nơi tu hành cho các nhà sư. Dzong vừa là nơi đặt cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính và cai trị của đất nước Bhutan, vừa là trụ sở của tăng đoàn ở một đất nước thấm đẫm niềm tin, tinh thần và văn hóa Phật giáo, dù về mặt chính thức Phật giáo không là quốc giáo. Đất nước Bhutan có rất nhiều những dzong được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước như vậy, như Paro, như Thimphu - thủ đô hiện tại, nơi đặt ngai vua và là nơi vị sư trưởng Bhutan cư ngụ, như Punakha – cố đô ở miền trung Bhutan, nơi có kiến trúc dzong theo tôi là đẹp nhất, nằm giữa hai con sông Pho (Trống) và Mo (Mái), như Wangdue Phodrang, như Trongsa – quê hương của triều vua hiện tại ở miền Trung Bhutan, hay như phế tích Drukgyel Dzong – nơi người Bhutan đánh thắng quân xâm lược Tây Tạng… Nhưng không chỉ có các dzong, các đền chùa (lhakhang), tháp (chorten) đều là những kiến trúc toát lên bản sắc không thể lẫn lộn vào đâu được của đất nước này, trong đó ấn tượng nhất là chùa Taktsang Goemba (hay hang cọp) gần Paro, nằm chênh vênh trên vách núi, hay 108 chorten được xây dựng trên đỉnh đèo Dochula nhằm đánh dấu một chiến thắng lớn của đất nước này.
            Được chiêm ngưỡng những tuyệt tác kiến trúc của Bhutan – rất khác với các tuyệt tác kiến trúc phương Tây - cho tôi cảm giác như chạm tới một thiên đường vô cùng lạ lẫm. Tuy nhiên, được đắm mình trong thiên nhiên mới thực sự cho tôi cảm giác như ở trên chốn bồng lai. Khách sạn đầu tiên nơi tôi dừng chân, cách sân bay chỉ một quãng đường ngắn, nằm bên một dòng suối, trước mặt và sau lưng là đồi núi xanh tươi. Từ Paro ở miền Tây Bhutan qua Bumthang ở miền Trung, tôi phải vượt qua một quãng đường dài mà suốt dọc đường đi ngoằn ngoèo, thường một bên là núi, một bên là những dòng sông uốn lượn xa xa tận dưới sâu; vượt ba ngọn đèo mà đèo nào cũng cao trên 3.000m, từ trên những đỉnh đèo này, ngắm những ngọn núi trùng điệp đến vô tận và mây trắng quyện quanh các ngọn núi, là đà trong các thung lũng, tôi có cảm giác lâng lâng. Đường ngoằn ngoèo, vực sâu nhưng ta không hề thấy sợ, bởi núi hay vực cũng mọc đầy cây xanh, sát tận mép đường, khác hẳn với khi ta leo những ngọn đèo trên những ngọn núi trọc. Đất nước trong dãy Hi mã lạp sơn này, rừng che phủ đến 80% diện tích, và giữ rừng, giữ môi trường là triết lý sống của họ.
Lên ngựa để leo lên tu viện Taktsang Goemba
            Cuối cùng là những người dân. Chất phác, hiền lành, tử tế, tốt bụng, thấm nhuần tinh thần Phật giáo, thứ Phật giáo riêng, xuất phát từ Tây Tạng của đất nước này, với những truyền thuyết trộn lẫn với lịch sử, những thần linh, bồ tát, yêu quái tưởng như đang hiện diện giữa đời thực, trong tâm tưởng của người dân. Và một vị vua trẻ, nối gót cha (thoái vị để truyền ngôi cho con trước thời hạn tự đặt ra hai năm) đi học ở Anh và Mỹ về, tự hạn chế quyền lực của mình, 
Tu viện Taktsang Goemba hay Tiger's Nest
Không có “tà áo nọ”. Có chăng, nổi bật, chỉ là màu cà sa nâu đỏ của các nhà sư và những bộ váy áo truyền thống (gho của nam giới và kyra của nữ giới) đủ màu sắc. Cũng chẳng có “em đi về bên kia phố” hay mái “tóc trầm ướp vai thơm”. Có chăng là gương mặt những phụ nữ, trẻ và già, đầy nét hồn hậu; những em học sinh trong những bộ đồng phục dễ thương mà tôi gặp suốt trên đường và những người đàn ông khỏe mạnh, rắn rỏi, thật thà. Cũng không có “môi thiên đường hót chim khuyên”. Chỉ nghe những bài ca dân gian mà giai điệu và ca từ cứ đều đều như những lời kinh hay những câu thần chú. Nhưng suốt bảy ngày ở Bhutan, câu cuối trong ca khúc “Cho đời chút ơn” của Trịnh Công Sơn luôn văng vẳng trong tâm trí tôi: “Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường”. Chỉ vì suốt bảy ngày sống với thiên nhiên, con người và văn hóa ở đấy, tôi luôn có cảm giác như đang sống  trên chốn bồng lai, hay như sách báo du lịch thường gọi: Shangri – la cuối cùng trên trái đất.



(*) Công ty tổ chức tour Bhutan: Du lịch Hương Băng, 48/46 Hồ Biểu Chánh, P.11, Phú Nhuận.
      (http://www.huongbangtravel.com - Tel: 84-8-39973369)

Punakha Dzong
Chú tiểu ở chùa Chhimi Lhakhang
Thimphu Dzong

THĂM NHÀ NỮ THẦN SỐNG Ở KATHMANDU

Cổng vào điện Kumari Ghar
Nữ thần Kumari không xuất hiện nơi cửa sổ mà chỉ là một người hầu

Nữ thần Kumari hiện tại
Nằm ngay cạnh quảng trường trung tâm Durbar Square của Kathmandu, thủ đô Nepal, là điện Kumari Ghar, nơi ở của nữ thần sống (Living Goddess) Kumari Devi, nghĩa là Nữ thần Đồng Trinh trong tiếng Sanskrit, tiếng Nepal và tiếng Ấn. Kumari Ghar là một tòa nhà xây gạch đỏ, hai tầng lầu, với các cửa ra vào và cửa sổ bằng gỗ nâu đen chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo, đặc trưng của các cung điện của triều đại Malla (cai trị Nepal từ thế kỷ 12 – thế kỷ 17) mà người ta cũng có thể thấy nơi những kiến trúc còn sót lại của triều đại này ở hoàng cung Kathmandu cũng như tại hai cố đô Bakhtapur và Patan. Kumari Ghar là một kiến trúc vuông vức với một sân trong, giữa sân là một gốc cây nhỏ xanh rì cành lá khi tôi đến đây vào một ngày đầu tháng sáu vừa qua để được chiêm ngưỡng dung nhan của nữ thần sống. Có ai không tò mò khi ở thế kỷ này người ta vẫn thờ một nữ thần sống ?
          Người Nepal theo đạo Hindu, chiếm đa số, và đạo Phật thuộc phái Vajrayana tin rằng nữ thần sống Kumari là hiện thân của nữ thần Taleju (còn có tên gọi khác là Durga) trong đạo Hindu. Taleju là nữ thần của nguồn sức mạnh tối cao. Truyền thuyết kể rằng: vào một đêm khuya, một con rắn đỏ bò vào phòng vị vua cuối cùng của triều đại Malla, Jayaprakash Malla, khi vua đang chơi trò xúc xắc với nữ thần Taleju. Mỗi đêm nữ thần đều đến chơi với vua với điều kiện vua không được nói cho ai biết, nhưng một đêm nọ hoàng hậu lén đi theo nhà vua để xem vua gặp ai mà đêm nào cũng gặp khuya như vậy và hoàng hậu đã trông thấy nữ thần. Tức giận, nữ thần Taleju nói với nhà vua rằng sẽ đầu thai vào một bé gái thuộc dòng họ Sakya, nếu vua còn muốn gặp và nhờ nữ thần bảo vệ đất nước thì hãy đi tìm bé gái ấy. Và thế là vua rời cung điện đi tìm bé gái hiện thân của thần Taleju.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng nữ thần Taleju đêm nào cũng đến chơi xúc xắc và đàm đạo chuyện quốc sự với vua Trailokya Malla dưới lốt người trần. Rồi một đêm nọ, nhà vua không cưỡng lại được ý muốn chung đụng xác thịt với nữ thần khiến thần tức giận, không đến cung điện nữa. Nhà vua hối hận, cầu xin thần trở lại. Cuối cùng nữ thần Taleju đồng ý đầu thai vào một bé gái đồng trinh thuộc dòng họ Sakya cho nhà vua tìm gặp. Tục thờ nữ thần đồng trinh Kumari nơi bộ tộc Newar (dòng họ Sakya thuộc bộ tộc này) trong thung lũng Kathmandu, và nơi người Nepal nói chung, bắt nguồn từ đó và đã tồn tại từ thế kỷ 17 cho đến tận ngày nay. Thật ra, ở Nepal có nhiều địa phương có nữ thần sống Kumari, nhưng chỉ có nữ thần Kumari ở Kathmandu là được nhà vua đến hôn chân mỗi năm để mong được thần ban phước. Điều này diễn ra cho đến tận khi vị vua Nepal cuối cùng là Gyanendra bị buộc phải rời ngôi năm 2008 để đất nước này chuyển qua chế độ cộng hòa. Nay thì nữ thần sống Kumari chỉ còn chúc phúc cho người đứng đầu chính phủ cộng hòa dân chủ theo xu hướng Maoist.
Nhưng ai là nữ thần sống Kumari ? Nữ thần Kumari được lựa chọn trong số những bé gái từ 3 – 7 tuổi thuộc dòng họ Sakya, dòng họ của Đức Phật, qua một quá trình tuyển chọn nghiêm ngặt. Bé gái được lựa chọn làm nữ thần phải hoàn toàn khỏe mạnh, chưa hề bệnh tật hay chảy máu, có đủ 20 răng, ngoài ra còn phải hội đủ 32 tiêu chuẩn khác, chẳng hạn: “ngực như ngực sư tử, thân mình như cây đa, cổ như vỏ ốc, đùi như đùi nai, lông mi như mi bò, giọng nói dịu dàng và trong, chân tay thon thả, tóc và lông mi phải thật đen, bộ phận sinh dục nhỏ nhắn và lùi vào trong, tính khí vui tươi và không biết sợ hãi…” Những bé gái hội đủ các tiêu chuẩn đó còn phải được chấm tử vi xem có phù hợp với lá số của nhà vua hay không và phải trải qua những thử thách rợn người: đó là trải qua một đêm trong một căn phòng kín, giữa những chiếc đầu dê và trâu được giết để tế thần và giữa những người mang mặt nạ yêu quái nhảy múa suốt đêm trong tiếng cầu kinh Mật điển. Bé gái nào trải qua được thử thách đó mà không hề la hét, khóc lóc, sợ hãi mới chứng tỏ được mình là hiện thân của nữ thần Taleju và được chọn làm nữ thần sống Kumari.
Một khi trở thành nữ thần sống, bé gái sẽ phải sống cuộc sống cô độc trong điện Kumari Ghar, không được giao tiếp với người trần ngoại trừ những dịp đặc biệt, không được sống cuộc sống bình thường như bao bé gái cùng tuổi khác cho đến tuổi dậy thì với kỳ kinh nguyệt đầu tiên. Thần Taleju khi đó sẽ rời bỏ nữ thần sống. Cô gái sẽ trở lại là người trần và trở về sống với gia đình. Người ta lại bắt đầu tìm kiếm một nữ thần sống Kumari khác. Người dân Nepal tin rằng không một người đàn ông nào dám lấy một cựu nữ thần sống làm vợ nếu không muốn bị thổ huyết mà chết, tuy nhiên trong thực tế không ít nữ thần sống sau khi trở về với gia đình đã lấy chồng, sinh con.
Sáng hôm ấy, tôi đã đến Kumari Ghar, đứng rất lâu dưới sân, cạnh gốc cây, nhìn lên cửa sổ lầu hai với hy vọng được nhìn ngắm nữ thần sống vì, theo dân địa phương, thỉnh thoảng nữ thần vẫn xuất hiện ở cửa sổ. Tuy nhiên, tôi và những du khách khác hôm ấy đã không gặp may. Xuất hiện nơi khung cửa sổ không phải là nữ thần sống mà chỉ là một người hầu. 
          Chỉ còn cách mua một tấm bưu thiếp được bán ngay bên ngoài cửa ra vào điện Kumari Ghar, có in hình nữ thần sống Kumari hiện tại, một bé gái tên Matina Sakya, được tôn là nữ thần sống năm 2008 khi mới 3 tuổi. Và tự an ủi mình: Đất nước nằm dưới chân Himalaya này có vô số điều kỳ bí, vô số thần thánh, truyền thuyết, huyền thoại, trong đó nữ thần sống Kumari chỉ là một. Không thể chỉ trong ba ngày ngắn ngủi mà khám phá hết.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

NHU CẦU “BỘ MẶT”

Bảo tàng Hà Nội, bảo tàng lớn nhất nước, vốn đầu tư hơn 2.300 tỉ đồng, công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, mới đưa vào sử dụng chưa đầy một năm đã xuống cấp nghiêm trọng. Mấy ngày đầu sau khi khánh thành, bảo tàng còn có khách tham quan do người từ các địa phương khác đổ về nhân đại lễ 1000 năm Thăng Long nhưng nay thì vắng vẻ, đìu hiu, với chỉ vài ba người đến tham quan mỗi ngày, như phản ảnh của nhiều tờ báo.
Chính Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc đã đánh giá rằng đây là một sự đầu tư lãng phí. PGS Nguyễn Văn Huy, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội, trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo điện tử Vietnamnet cho biết, sau khi tham quan Bảo tàng Hà Nội, hầu hết những người Hà Nội mà ông biết và cả khách quốc tế đều thất vọng vì cái tòa nhà thì hiện đại, nhưng nội dung và chất lượng trưng bày quá kém, không đạt tiêu chuẩn. Ông nói thẳng, đó là do làm tạm bợ, không tính đến chất lượng, bất chấp tiêu chuẩn tối thiểu của bảo tàng thế kỷ 21, miễn sao bày kín được mấy tầng bằng những thứ đồ cổ. Có trưng bày đấy mà không đạt mục tiêu nội dung và không đạt chất lượng mỹ thuật, làm thấp giá trị của bảo tàng. Chính vì vậy mà bảo tàng không thu hút được khách tham quan. Sự lãng phí chính ở chỗ đó. Vẫn theo GS Huy, nguyên nhân lãng phí là do ở nước ta có "mốt" khánh thành tòa nhà (bảo tàng) trước, rồi vài năm sau mới khánh thành trưng bày chính. Đó là một cách làm không phù hợp, không khoa học, chủ yếu chạy theo thành tích, gắn với các ngày kỷ niệm hay với các nhiệm kỳ của các vị lãnh đạo có liên quan.
Sai lầm rất lớn của quá trình xây công trình Bảo tàng Hà Nội cũng như nhiều bảo tàng khác ở nước ta, theo GS Huy, là có hai bộ phận hoàn toàn tách biệt: bộ phận xây dựng thì cứ lo xây dựng, còn Bảo tàng Hà Nội, kể cả Giám đốc Bảo tàng cũng không tham gia vào quá trình lập đề cương, tổ chức bộ máy trưng bày. Những người có chuyên môn lại không được làm công việc chuyên môn quan trọng nhất của bảo tàng. Họ chỉ chờ "chìa khóa trao tay" để quản lý và lo "giữ nhà".
Nói cách khác, nói đến làm bảo tàng (và nhiều thứ khác nữa), người ta nghĩ trước hết đến “phần cứng”, đến xây dựng tòa nhà cho hoành tráng, đáp ứng cái gọi là “bộ mặt”, còn nội dung hoạt động, trưng bày, sự vận hành bên trong, tức “phần mềm” thì người ta rất ít chú ý. Trước hết phải là to nhất, hoành tráng nhất, là bộ mặt, là thể diện, dù bên trong chẳng ra sao.
Một công trình ngàn năm Thăng Long khác, "Con đường gốm sứ" dài gần 4.000 mét, với tổng diện tích tranh gốm khoảng 7.000 m2 do 20 nghệ sĩ Việt Nam, 15 nghệ sĩ quốc tế, 50 sinh viên mỹ thuật, cùng 100 nghệ nhân và thợ thủ công từ nhiều địa danh và làng gốm truyền thống thực hiện, được long trọng khánh thành với sự có mặt của khá nhiều quan chức, được trao bằng kỷ lục thế giới Guiness. Chưa đầy năm sau, “Con đường gốm sứ” nay đang bong tróc, bục lở, với nhiều đường nứt dài và nhiều người Hà Nội cho rằng nó đang làm xấu thay vì làm đẹp cho bộ mặt thành phố. Tuy không phải là công trình đầu tư từ ngân sách mà là công trình xã hội hóa, một cách làm khá mới mẻ nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng phục vụ cho cộng đồng, nhưng đó cũng là một công trình chạy đua chào mừng đại lễ.

Trong số các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thanh tra Bộ Xây dựng đang thanh tra hai công trình, đó là Bảo tàng Hà Nội và Công viên Hòa Bình. Tại Bảo tàng Hà Nội, theo báo chí phản ảnh, ngay tầng 1, ở lối lên cầu thang, nền gạch bong tróc, dùng tay có thể bóp vụn miếng ximăng và trơ cát.  Trên trần tầng 1, nước đọng thành vệt loang lổ, có chỗ nước nhỏ giọt. Ở tầng hầm, nơi bảo quản hiện vật, cũng xảy ra hiện tượng nước rò rỉ. Đặc biệt tầng ngầm - phòng kỹ thuật của bảo tàng - còn bị ngập nước lênh láng khi mưa. Tại Công viên Hòa Bình, vốn đầu tư 282 tỷ đồng, hiện tượng xuống cấp cũng lộ rõ. Chỉ mấy cơn mưa đầu mùa, hàng loạt khu vực trong công viên ngập úng nặng. Tại một số khu vực, gạch vỡ đang được thay thế. Tại nhiều khu vực khác, nền gạch  bị phồng rộp kéo dài tới vài chục mét, phía dưới hoàn toàn không có ximăng. Chẳng biết có tiêu cực gì ở đây không, vì còn phải chờ kết luận thanh tra, nhưng nếu không có tiêu cực thì rõ ràng chính cái bệnh chạy theo thành tích, chạy theo ngày kỷ niệm, đáp ứng vấn đề “bộ mặt” đã làm hại cho chất lượng công trình. Ai gánh? Tất nhiên, cuối cùng vẫn là người đóng thuế, là người dân.
Như vậy, ngoài tham nhũng, tiêu cực, một nguyên nhân khác gây lãng phí, tiêu hao tiền của của dân, tuy ít được nói tới, ít được vạch mặt chỉ tên, chính là nhu cầu về “bộ mặt”, là “thể diện”. Điều đó đúng trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện nhà nước và xã hội.

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

RÙA HỒ GƯƠM VÀ NGƯỜI LÈN CỜ

Những tưởng câu chuyện về Cụ Rùa hồ Gươm đã  khép lại sau khi  Đội lai dắt đưa được cụ lên bờ để chữa trị vào ngày 3-4, thì nay, một Cụ Rùa khác lại xuất hiện. Vì thế, khắp các hang cùng ngõ hẻm ở Hà Nội, câu chuyện này lại thêm một lần được mở ra với nhiều luồng ý kiến, tranh luận dữ dội...” (Vietnamnet). Người ta tranh luận gì? Người thì vẫn tiếp tục khăng khăng chỉ có một “cụ” rùa, người thì nói là có hai “cụ” và đang chuẩn bị “lai dắt” “cụ” thứ hai vào “bể thông minh” để chữa bệnh tiếp, người thì khẳng định có ba “cụ”, người khác lại cho rằng có đến 5-6 “cụ”. Mà giả sử có đến 5-6 “cụ” rùa Hồ Gươm thì ai là “Cụ” (viết hoa nhé!), ai không phải là “Cụ” đây?
            Cứ thế, từ mấy tháng nay báo chí, cả báo in và báo mạng, đã tốn không biết bao nhiêu trang giấy và trang mạng, đổ ra không biết bao nhiêu ngôn từ cho mấy chú rùa Hồ Gươm bị bệnh. Thậm chí đưa cả ảnh rùa ăn thịt xác mèo lên mạng. Chính quyền thì “khẩn trương”, “quyết liệt”, nào lập ban chỉ đạo cứu rùa gồm tới bốn, năm sở ngành, nào mời chuyên gia, tiến sĩ trong và ngoài nước đoán bệnh, chẩn bệnh, nào diễn tập tới lui, dùng cả  “đặc công thủy” để đưa rùa lên bờ, vào “bệnh viện” dưới chân tháp chữa trị. Báo chí thì thông tin liên tục, dồn dập, không còn thiếu một góc cạnh nào, y như bị động đất, sóng thần. Không rõ bao nhiêu tiền đã được chi ra cho việc cứu rùa. Cứ như đất nước này chẳng còn chuyện gì khác để lo. Cứ như những con rùa đang sống và, như mọi sinh vật, đang ngày một già đi ấy thực sự là những con rùa của truyền thuyết, thực sự từ trong truyền thuyết bước ra sống giữa đời này. Cũng đã có những tiếng nói tỉnh táo cất lên nhưng xem chừng khá lẻ loi, thậm chí bị mắng nhiếc, bởi người ta đang đồng nhất truyền thuyết (dù rất đẹp) với những sinh vật cụ thể.
            Ấy là chuyện rùa Hồ Gươm. Còn đây là chuyện người chết ở Lèn Cờ.
Mỏ đá ở xã Nam Thành, huyện YênThành, Nghệ An bị sập vào ngày 1-4-2011 đã khiến 18 người chết, đa số là phụ nữ, và 6 người bị thương. Người ta đã nhanh chóng chỉ ra nguyên nhân sập mỏ là do khai thác không đúng quy trình kỹ thuật, vi phạm quy tắc an toàn lao động. Phó thủ tướng chỉ đạo khẩn trương cứu nạn. Bốn ngày sau, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, các tỉnh, thành tiến hành kiểm tra toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước; yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát, kiểm tra hoạt động khai thác khoáng sản, an toàn lao động tại các mỏ đá làm vật liệu xây dựng, kiên quyết đình chỉ hoạt động khai thác mỏ, nếu thấy có biểu hiện vi phạm về an toàn. Người ta khởi tố vụ án, bắt giam chủ khai thác mỏ. Báo chí thì tường thuật công cuộc cứu nạn, mô tả nỗi đau thương bao trùm ở địa phương, hoàn cảnh sống cơ cực, đói nghèo của các nạn nhân và gia đình họ.
Mọi việc dừng lại ở đó. Không có “ban chỉ đạo” nào được thành lập, không có đội “đặc công” hay đặc nhiệm nào được huy động, không có chi phí nào được bỏ ra hòng tìm cho ra nguyên nhân sâu xa, đích thực, gốc rễ của những tai nạn thương tâm liên tiếp xảy ra dù đã có bao nhiêu quy định về cấp phép, về quy trình khai thác, về an toàn lao động, và quan trọng hơn hết là làm thế nào để chấm dứt triệt để tình trạng ấy. Bởi riêng tại Nghệ An, ngày 15-12-2007, một vụ sập núi thảm khốc tại công trình thủy điện Bản Vẽ tại huyện Tương Dương khiến 18 công nhân tử nạn. Ngày 12-1-2008, tai nạn sập mỏ đá Lèn Nậy tại thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu khi đang có nhiều người làm việc, khiến 3 người chết, 7 người bị thương, tất cả đều là nữ. Ngày 28-8-2008, vụ sập hầm khai thác thiếc tại xã Châu Thành (huyện Quỳ Hợp) làm 3 người chết. Và theo báo Bưu điện Việt Nam, còn nhiều vụ tai nạn nhỏ lẻ xảy ra trên địa bàn tỉnh này. Thống kê mới của ngành chức năng cho biết, hơn 100 người dân đã bị chết vị sập mỏ đá, sập hầm từ năm 2007 đến nay.
Ông chủ khai thác mỏ có thể rồi sẽ bị tuyên án. Báo chí có thể cũng sẽ không tiến thêm được bước nào ngoài việc lấy nước mắt qua những bài mô tả thống thiết của mình. Mọi việc có thể rồi sẽ trôi qua. Nhưng nếu mọi việc dừng lại ở đó thì kinh nghiệm chỉ ra rằng, dù có những quy định chặt chẽ đến đâu (về cấp phép, về quy trình khai thác), dù có “quyết liệt” rà soát bao nhiêu lần, nếu không xác lập được cơ chế, bộ máy và con người làm công việc giám sát, hậu kiểm chặt chẽ, nghiêm ngặt, công minh và nhất là không thể mua chuộc thì vẫn sẽ còn đó nguy cơ xảy ra những Lèn Cờ khác. Vấn đề không chỉ là quy trình, vấn đề là phẩm chất của bộ máy và con người bảo đảm cho quy trình được thực hiện.
Mạng rùa và mạng người hẳn là không thể đặt lên cùng một bàn cân, dù rùa ấy có quý hiếm đến đâu. Rùa hiếm cần được cứu, hẳn rồi, nhưng bảo toàn tính mạng hàng chục, hàng trăm con người còn đáng quan tâm hơn. Song xem ra cán cân đang nghiêng về tính mạng rùa. Một so sánh đơn giản về lượng: thử gõ mấy từ “cứu rùa Hồ Gươm” vào ô tìm kiếm Google trên mạng ta có tới 3.870.000 kết quả, còn với mấy từ “sập mỏ đá Lèn Cờ” ta có được 1.320.000 kết quả. Không rõ chúng ta đang hướng về đâu?

18 MẠNG NGƯỜI MÀ NHẸ NHƯ KHÔNG !

Trả lời phỏng vấn VietNamNet (9/4/2011) về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong vụ sập mỏ đá Lèn Cờ ở Yên Thành, Nghệ An hôm 1-4 khiến 18 người chết thảm và 6 người bị thương, ông Huỳnh Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, nói: “Hiện nay, UBND tỉnh đang giao cho cơ quan điều tra xác định nguyên nhân, khi đó mới tìm ra trách nhiệm cụ thể. Để xảy ra một điều như thế là không hay. Đây cũng là một bài học kinh nghiệm để tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo quản lý công tác này tốt hơn, cần chấn chỉnh lại để tránh xảy ra sự việc đáng tiếc như vừa rồi. Đó là sự việc cần rút ra những kinh nghiệm sâu sắc trong công tác quản lý.”
“Để xảy ra một điều như thế là không hay” (sic). Nếu tường thuật của phóng viên VietnamNet là đúng thì ông Phó Chủ tịch quả thực có tài hóa phép: 18 mạng người mất đi mà nghe nhẹ tựa lông hồng, không hay.
Ông Phó chủ tịch tỉnh lại nói: “Đối với tỉnh thì lâu nay cũng đã tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Giao nhiệm vụ cho các ngành, các cấp để mà kiểm tra các hoạt động khai thác khoảng sản, đặc biệt là đối với đá xây dựng. Trong tháng 3/2011, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đã làm việc tại huyện Yên Thành cũng nêu lên vấn đề kiểm tra khai thác khoáng sản tại đây. Sau đó thì đồng chí Chi phó chủ tịch (ông Nguyễn Đình Chi, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An) cũng có công văn chỉ đạo giao cho huyện Yên Thành về vấn đề khai thác khoáng sản. Việc xảy ra sự việc tại mỏ đá là một điều đáng tiếc.” Lại cũng chỉ là đáng tiếc! Nhưng người ta còn có thể đặt câu hỏi, nếu có “tăng cường công tác chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc”, vì sao không phát hiện chủ mỏ đá tổ chức khai thác không đúng quy trình, vi phạm quy tắc an toàn lao động, như kết luận sau khi tai nạn đã xảy ra? Hẳn là tất cả những chỉ đạo, giao nhiệm vụ, kiểm tra, đôn đốc – nếu có – chỉ là hình thức. Đó là chưa nói đến những khả năng khác khiến mọi sự kiểm tra, đôn đốc… có cũng như không. Chỉ đến khi tai nạn thảm khốc xảy ra, những mạng người đã bị cướp đi một cách oan uổng, người ta mới nói đến việc rà soát lại quy trình, đến siết chặt kiểm soát, đóng cửa mỏ, và bắt giam chủ mỏ.
Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở quy trình, ở kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp là chủ mỏ. Bởi tai nạn này không phải là đơn lẻ. Trước vụ sập mỏ đá Lèn Cờ, từ  cuối năm 2007 đến 2011, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã liên tiếp xảy ra những vụ sập hầm mỏ thương tâm: 15/12/2007, sập núi đá tại công trình thủy điện Bản Vẽ (huyện Tương Dương) làm 18 công nhân bị đá đè chết khi đang làm việc; 12/1/2008, sập mỏ đá Lèn Nậy, tại thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, làm chết 3 người và 7 người bị thương; 28/8/2008, sập hầm khai thác quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, làm 3 người chết tại chỗ. Cho nên, vấn đề chính nằm ở bộ máy và con người bảo đảm cho những quy trình ấy, từ cấp phép đến giám sát việc khai thác, luôn luôn được tuân thủ. Nếu không nhìn thẳng vào đây thì e sẽ còn những vụ Lèn Cờ khác.
Nếu còn một vấn đề, cũng có thể nói là một nguyên nhân nữa của những vụ tai nạn thương tâm như ở Lèn Cờ thì đó là nhận thức nhẹ như không về mạng người của những vị mà trách nhiệm được giao không hề nhỏ. Trong khi cách đấy mấy trăm cây số người ta đang bấn lên về bệnh tật của mấy chú rùa thì ở đây mạng người sao mà nhẹ!