Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Xã hội cần đối diện với sự thật

Vụ thảm sát tại tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang, trong đó hung thủ chưa đầy 18 tuổi giết hại một cách dã man ba người trong một gia đình, trong đó có một cháu bé mới 18 tháng tuổi, và chặt đứt bàn tay một cháu bé 8 tuổi là vụ giết người cướp của man rợ mới nhất trong hàng loạt vụ giết người ngày càng tăng nhanh về số vụ và về mức độ phi nhân tính. Người ta chưa kịp quên vụ Nguyễn Đức Nghĩa ở Hà Nội chặt người yêu thành nhiều khúc, vứt ở nhiều nơi để cướp tài sản thì lại choáng váng vì vụ giết người mới nhất này. Rồi trong khi vụ tiệm vàng ở Bắc Giang vẫn đang nóng thì người ta lại bàng hoàng được biết vụ một nhân viên bảo vệ nông trường ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị giết bằng một nhát dao đâm vào ngực và tám nhát vào lưng bởi ba hung thủ sống lang thang từ Bắc Ninh vào, trong đó có hai kẻ là cha con và người con chỉ mới 13 tuổi, nhằm cướp chiếc xe gắn máy và điện thoại di động của nạn nhân lúc đang ngủ.
            Trước những vụ việc như vậy, có họa là bịt mắt, bưng tai mới có thể cho rằng xã hội vẫn đang phát triển theo chiều hướng bình thường. Nếu là tội ác do những băng đảng gây ra, mà xã hội nào cũng có, thì là một lẽ. Đàng này, giải thích làm sao khi kẻ thủ ác ở đây lại là những con người hôm qua còn được hàng xóm láng giềng xem là những con người hoàn toàn bình thường, thậm chí hiền lành; là những thiếu niên còn chưa đến tuổi trưởng thành. Nếu cộng thêm vào đó những vụ đám đông ùa vào cướp của nạn nhân khi họ gặp tai nạn trên đường xảy ra liên tục gần đây, tất cả cho thấy xã hội quả đang có cái gì trục trặc, con người bình thường đang bị mất phương hướng, không biết noi theo cái gì trong cuộc sống ngoài việc thỏa mãn nhu cầu vật chất bằng mọi cách, kể cả những cách man rợ nhất mà lẽ ra những con người bình thường không thể, không dám thực hiện. Nó cho thấy trong một bộ phận nào đó của xã hội, từ trong thâm sâu, con người đang bị mục ruỗng. Và sự mục ruỗng đó, sự phi nhân tính đó có thể ngày càng lan ra nếu xã hội không thức tỉnh, không đối diện với sự thật và tìm phương cách cứu chữa, ngăn chặn, không để nó lan ra thêm nữa.
            Đó phải là một sự thức tỉnh trên bình diện xã hội chứ không chỉ ở bình diện cá nhân. Chúng ta đã nói quá nhiều về sự  “xuống cấp đạo đức” cá nhân và xã hội mà chưa chỉ ra được căn nguyên sâu xa của sự xuống cấp ấy là gì, nó nằm ở đâu và vì vậy mà chưa tìm ra phương cách khắc phục. Căn nguyên phải chăng nằm ở các thiết chế xã hội, bao gồm cả hội đoàn, nhà trường, gia đình,… dường như đang tỏ ra lạc hậu trước sự biến đổi của xã hội, và kém hiệu quả, nếu không nói là vô dụng trong việc ngăn chặn tội ác; ngay cả tôn giáo - vốn được xem như cái thắng (phanh) bên trong của con người trước cái ác - cũng tỏ ra bất lực trong việc giúp con người hướng thiện. Phải làm gì, tháo gỡ ở đâu để các thiết chế xã hội ấy lấy lại được sức mạnh của mình, thậm chí là không đánh mất chính mình và vai trò của mình, trong việc xây dựng lại nền tảng tinh thần của xã hội, để con người biết noi theo cái gì trong cuộc sống và biết dừng lại trước lằn ranh thiện – ác?
Đứng trước vụ bạo loạn, cướp phá mới đây ở Luân Đôn, mà về tính chất khác với những vụ giết người cướp của man rợ kể trên, Thủ tướng Anh David Cameron đã phải gọi đó là “tiếng kêu đánh thức nước Anh trước sự sụp đổ từ từ về đạo đức”. Và rằng “ những vấn đề xã hội tích tụ trong hàng thập kỷ đã bùng nổ trước mặt chúng ta”. Ông cũng hứa hẹn sẽ đề ra hàng loạt chính sách nhằm đảo ngược sự “sụp đổ đạo đức” ấy và cho rằng “trong khi người dân đòi hỏi phải đối đầu cương quyết với những kẻ phạm tội thì họ cũng muốn thấy các vấn đề xã hội phải được giải quyết, đẩy lùi”.
Xã hội chúng ta cũng đang cần đánh thức, cần đối diện với sự thật, xây dựng lại nền tảng tinh thần của xã hội để ngày mai tội ác man rợ không xảy ra bên nhà hàng xóm của mình, trong nhà người thân của, hay khủng khiếp hơn, ngay trong nhà mình. Đối diện với sự thật chính là vì tương lai của xã hội, dù vẫn biết trong xã hội người tốt bao giờ cũng nhiều hơn kẻ xấu.

SỰ HÀO PHÓNG KHÓ HIỂU

“Trụ cột công nghiệp của tỉnh Lạng Sơn”. “Giấc mơ miền biên ải”. “Gió mới trên đất anh hùng”. Đó là những ngôn từ lấp lánh được tờ báo địa phương và một số lãnh đạo gán cho dự án nhà máy xi măng Đồng Bành, một dự án được triển khai thi công từ tháng 10-2006, với công suất thiết kế 2.500 tấn clinker/ngày, tương đương 910.000 tấn xi măng/năm, tổng mức đầu tư từ 1.298 tỉ đồng tăng lên 1.505 tỷ đồng, tương đương mức tăng khoảng 16% do thi công chậm đến hai năm. Trong số cổ đông sáng lập dự án có Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA), Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE)  mà có tờ báo xem là những “doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về vốn và có kinh nghiệm trong quản lý và đầu tư, do đó Công ty Cổ phần Xi Măng Đồng Bành có nhiều thuận lợi trong việc điều hành và huy động nguồn vốn.” (Vietnam Business Forum – Kênh thông tin đối ngoại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 19-5-2010).
 Mang danh nghĩa là đầu tư tại “địa bàn vùng núi” (trong khi thực tế nhà máy nằm chỉ cách thành phố Lạng Sơn khoảng 52 km, cách Hà Nội khoảng 103 km, lại gần quốc lộ 1A, gần các mỏ đá vôi nguyên liệu), vì thế mà dự án được hưởng đủ các chính sách ưu đãi theo quy định của Chính phủ đối với vùng đặc biệt khó khăn, được tỉnh Lạng Sơn tạo mọi điều kiện về mặt bằng, hỗ trợ đào tạo lao động, ưu đãi về xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài nhà máy và khu công nghiệp, v.v… Dự án còn nhận được nhiều ưu ái từ các ngân hàng thương mại nhà nước và nước ngoài, dù vốn tự có của chủ đầu tư chỉ vỏn vẹn 301,542 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng mức đầu tư, còn lại là các khoản vay từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam:  272,142 tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: 183,467 tỷ đồng, và Ngân hàng ANZ là 747,850 tỷ đồng với sự bảo lãnh của Chính phủ.
          Ấy thế mà vừa rồi Bộ Xây dựng cho biết, riêng năm 2011, Đồng Bành thiếu 141 tỷ đồng để trả nợ gốc và lãi, trong đó phải trả nợ gốc và lãi đến hạn cho ANZ vào ngày 25-8-2011 là 3.493.633,33 USD (tương đương trên 72 tỷ đồng). Nhà nước bảo lãnh thì Nhà nước phải trả nợ thay. Bộ Tài chính mới đây đã phải đứng ra hỗ trợ doanh nghiệp này thanh toán khoản vay ngân hàng ANZ. “Nợ Chính phủ bảo lãnh, chúng tôi coi nó là nghĩa vụ nợ dự phòng. Khi mà các doanh nghiệp không trả được nợ, Chính phủ phải trả thay, thì lúc đó nghĩa vụ nợ dự phòng trở thành nghĩa vụ nợ thực tế của nhà nước”, tân Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói.
Quả là một sự hào phóng khó hiểu từ phía Nhà nước khi xi măng chẳng phải là một ngành mũi nhọn hay công nghệ cao mà Nhà nước cần hỗ trợ; và dự án, dù mang danh nghĩa đẹp đẽ gì, cũng chỉ là một dự án kinh doanh mà nhà đầu tư phải tự vay tự trả, tự chịu trách nhiệm về lãi lỗ. Có thể sự hào phóng ấy một phần đến từ ý muốn chủ quan về một giấc mơ  công nghiệp của địa phương, một phần từ những lời lẽ thuyết minh có cánh của chủ đầu tư. Dù thế nào thì kỳ vọng đã đặt không đúng chỗ, và giấc mơ công nghiệp của địa phương đã sớm trở thành gánh nặng cho Nhà nước.
Và đây lại là một thí dụ nữa về việc phân bổ nguồn lực, về đầu tư vốn Nhà nước kém hiệu quả. Chuyện thua lỗ của Xi măng Đồng Bành có thể chưa dừng lại ở đó vì theo Bộ Xây dựng, từ năm 2011 đến năm 2015, doanh nghiệp này dự kiến sẽ thiếu 607 tỷ đồng để trả nợ các tổ chức tín dụng và bù đắp nguồn tiền mất cân đối. Không biết đến lúc đó Chính phủ có còn đứng ra trả nợ thay, và nếu cứ tiếp tục như vậy, đến bao giờ nền kinh tế mới có sức cạnh tranh?

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Đến Bhutan, nằm mộng thiên đường

Himalaya trùng điệp, nhìn từ đỉnh đèo Dochula
Từ Kathmandu, thủ đô Nepal, máy bay bay dọc theo những đỉnh cao nhất trong dãy Hi mã lạp sơn, trong đó có Everest (8.848m, trên biên giới Nepal – Tây Tạng), rồi Jhomolhari (7.314m, phía Tây Bhutan), để đáp xuống sân bay Paro của Bhutan. Còn chưa hết choáng ngợp trước cảnh tượng hùng vĩ chưa từng thấy trong đời của những đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa của Hi mã lạp sơn, du khách lại đã cảm thấy sững sờ trước vẻ đẹp độc đáo của nhà ga sân bay quốc tế Paro với đường nét kiến trúc, những họa tiết và màu sắc, chủ yếu là nâu đỏ – vàng đất – và đen, đặc trưng của kiến trúc Tây Tạng, khi chiếc Airbus của hãng hàng không quốc gia Bhutan, Druk Air, đáp xuống sân bay. Paro là một sân bay nhỏ và là sân bay duy nhất cho tới nay của vương quốc nhỏ, diện tích chỉ hơn 1/10 Việt Nam, dân số chưa tới 1 triệu, nằm ở phía Nam dãy Hi mã lạp sơn, giáp Tây Tạng này.
Đường nét kiến trúc ấy, những họa tiết theo lối kỷ hà ấy, những màu sắc đặc trưng ấy, tôi sẽ bắt gặp lại những ngày sau, với một quy mô hoành tráng hơn, vẻ đẹp huy hoàng hơn nơi các dzong – những tuyệt tác kiến trúc nửa pháo đài nửa lâu đài, với các tường ngoài cao và dựng đứng, thường nằm trên những ngọn đồi hoặc sau những hào nước sâu thuận lợi cho phòng thủ, bên trong thường có một tháp cao, có cung điện cho vua chúa, có chùa và nơi tu hành cho các nhà sư. Dzong vừa là nơi đặt cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính và cai trị của đất nước Bhutan, vừa là trụ sở của tăng đoàn ở một đất nước thấm đẫm niềm tin, tinh thần và văn hóa Phật giáo, dù về mặt chính thức Phật giáo không là quốc giáo. Đất nước Bhutan có rất nhiều những dzong được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước như vậy, như Paro, như Thimphu - thủ đô hiện tại, nơi đặt ngai vua và là nơi vị sư trưởng Bhutan cư ngụ, như Punakha – cố đô ở miền trung Bhutan, nơi có kiến trúc dzong theo tôi là đẹp nhất, nằm giữa hai con sông Pho (Trống) và Mo (Mái), như Wangdue Phodrang, như Trongsa – quê hương của triều vua hiện tại ở miền Trung Bhutan, hay như phế tích Drukgyel Dzong – nơi người Bhutan đánh thắng quân xâm lược Tây Tạng… Nhưng không chỉ có các dzong, các đền chùa (lhakhang), tháp (chorten) đều là những kiến trúc toát lên bản sắc không thể lẫn lộn vào đâu được của đất nước này, trong đó ấn tượng nhất là chùa Taktsang Goemba (hay hang cọp) gần Paro, nằm chênh vênh trên vách núi, hay 108 chorten được xây dựng trên đỉnh đèo Dochula nhằm đánh dấu một chiến thắng lớn của đất nước này.
            Được chiêm ngưỡng những tuyệt tác kiến trúc của Bhutan – rất khác với các tuyệt tác kiến trúc phương Tây - cho tôi cảm giác như chạm tới một thiên đường vô cùng lạ lẫm. Tuy nhiên, được đắm mình trong thiên nhiên mới thực sự cho tôi cảm giác như ở trên chốn bồng lai. Khách sạn đầu tiên nơi tôi dừng chân, cách sân bay chỉ một quãng đường ngắn, nằm bên một dòng suối, trước mặt và sau lưng là đồi núi xanh tươi. Từ Paro ở miền Tây Bhutan qua Bumthang ở miền Trung, tôi phải vượt qua một quãng đường dài mà suốt dọc đường đi ngoằn ngoèo, thường một bên là núi, một bên là những dòng sông uốn lượn xa xa tận dưới sâu; vượt ba ngọn đèo mà đèo nào cũng cao trên 3.000m, từ trên những đỉnh đèo này, ngắm những ngọn núi trùng điệp đến vô tận và mây trắng quyện quanh các ngọn núi, là đà trong các thung lũng, tôi có cảm giác lâng lâng. Đường ngoằn ngoèo, vực sâu nhưng ta không hề thấy sợ, bởi núi hay vực cũng mọc đầy cây xanh, sát tận mép đường, khác hẳn với khi ta leo những ngọn đèo trên những ngọn núi trọc. Đất nước trong dãy Hi mã lạp sơn này, rừng che phủ đến 80% diện tích, và giữ rừng, giữ môi trường là triết lý sống của họ.
Lên ngựa để leo lên tu viện Taktsang Goemba
            Cuối cùng là những người dân. Chất phác, hiền lành, tử tế, tốt bụng, thấm nhuần tinh thần Phật giáo, thứ Phật giáo riêng, xuất phát từ Tây Tạng của đất nước này, với những truyền thuyết trộn lẫn với lịch sử, những thần linh, bồ tát, yêu quái tưởng như đang hiện diện giữa đời thực, trong tâm tưởng của người dân. Và một vị vua trẻ, nối gót cha (thoái vị để truyền ngôi cho con trước thời hạn tự đặt ra hai năm) đi học ở Anh và Mỹ về, tự hạn chế quyền lực của mình, 
Tu viện Taktsang Goemba hay Tiger's Nest
Không có “tà áo nọ”. Có chăng, nổi bật, chỉ là màu cà sa nâu đỏ của các nhà sư và những bộ váy áo truyền thống (gho của nam giới và kyra của nữ giới) đủ màu sắc. Cũng chẳng có “em đi về bên kia phố” hay mái “tóc trầm ướp vai thơm”. Có chăng là gương mặt những phụ nữ, trẻ và già, đầy nét hồn hậu; những em học sinh trong những bộ đồng phục dễ thương mà tôi gặp suốt trên đường và những người đàn ông khỏe mạnh, rắn rỏi, thật thà. Cũng không có “môi thiên đường hót chim khuyên”. Chỉ nghe những bài ca dân gian mà giai điệu và ca từ cứ đều đều như những lời kinh hay những câu thần chú. Nhưng suốt bảy ngày ở Bhutan, câu cuối trong ca khúc “Cho đời chút ơn” của Trịnh Công Sơn luôn văng vẳng trong tâm trí tôi: “Nằm mộng suốt đêm trong thiên đường”. Chỉ vì suốt bảy ngày sống với thiên nhiên, con người và văn hóa ở đấy, tôi luôn có cảm giác như đang sống  trên chốn bồng lai, hay như sách báo du lịch thường gọi: Shangri – la cuối cùng trên trái đất.



(*) Công ty tổ chức tour Bhutan: Du lịch Hương Băng, 48/46 Hồ Biểu Chánh, P.11, Phú Nhuận.
      (http://www.huongbangtravel.com - Tel: 84-8-39973369)

Punakha Dzong
Chú tiểu ở chùa Chhimi Lhakhang
Thimphu Dzong

THĂM NHÀ NỮ THẦN SỐNG Ở KATHMANDU

Cổng vào điện Kumari Ghar
Nữ thần Kumari không xuất hiện nơi cửa sổ mà chỉ là một người hầu

Nữ thần Kumari hiện tại
Nằm ngay cạnh quảng trường trung tâm Durbar Square của Kathmandu, thủ đô Nepal, là điện Kumari Ghar, nơi ở của nữ thần sống (Living Goddess) Kumari Devi, nghĩa là Nữ thần Đồng Trinh trong tiếng Sanskrit, tiếng Nepal và tiếng Ấn. Kumari Ghar là một tòa nhà xây gạch đỏ, hai tầng lầu, với các cửa ra vào và cửa sổ bằng gỗ nâu đen chạm trổ cầu kỳ, tinh xảo, đặc trưng của các cung điện của triều đại Malla (cai trị Nepal từ thế kỷ 12 – thế kỷ 17) mà người ta cũng có thể thấy nơi những kiến trúc còn sót lại của triều đại này ở hoàng cung Kathmandu cũng như tại hai cố đô Bakhtapur và Patan. Kumari Ghar là một kiến trúc vuông vức với một sân trong, giữa sân là một gốc cây nhỏ xanh rì cành lá khi tôi đến đây vào một ngày đầu tháng sáu vừa qua để được chiêm ngưỡng dung nhan của nữ thần sống. Có ai không tò mò khi ở thế kỷ này người ta vẫn thờ một nữ thần sống ?
          Người Nepal theo đạo Hindu, chiếm đa số, và đạo Phật thuộc phái Vajrayana tin rằng nữ thần sống Kumari là hiện thân của nữ thần Taleju (còn có tên gọi khác là Durga) trong đạo Hindu. Taleju là nữ thần của nguồn sức mạnh tối cao. Truyền thuyết kể rằng: vào một đêm khuya, một con rắn đỏ bò vào phòng vị vua cuối cùng của triều đại Malla, Jayaprakash Malla, khi vua đang chơi trò xúc xắc với nữ thần Taleju. Mỗi đêm nữ thần đều đến chơi với vua với điều kiện vua không được nói cho ai biết, nhưng một đêm nọ hoàng hậu lén đi theo nhà vua để xem vua gặp ai mà đêm nào cũng gặp khuya như vậy và hoàng hậu đã trông thấy nữ thần. Tức giận, nữ thần Taleju nói với nhà vua rằng sẽ đầu thai vào một bé gái thuộc dòng họ Sakya, nếu vua còn muốn gặp và nhờ nữ thần bảo vệ đất nước thì hãy đi tìm bé gái ấy. Và thế là vua rời cung điện đi tìm bé gái hiện thân của thần Taleju.
Một truyền thuyết khác lại kể rằng nữ thần Taleju đêm nào cũng đến chơi xúc xắc và đàm đạo chuyện quốc sự với vua Trailokya Malla dưới lốt người trần. Rồi một đêm nọ, nhà vua không cưỡng lại được ý muốn chung đụng xác thịt với nữ thần khiến thần tức giận, không đến cung điện nữa. Nhà vua hối hận, cầu xin thần trở lại. Cuối cùng nữ thần Taleju đồng ý đầu thai vào một bé gái đồng trinh thuộc dòng họ Sakya cho nhà vua tìm gặp. Tục thờ nữ thần đồng trinh Kumari nơi bộ tộc Newar (dòng họ Sakya thuộc bộ tộc này) trong thung lũng Kathmandu, và nơi người Nepal nói chung, bắt nguồn từ đó và đã tồn tại từ thế kỷ 17 cho đến tận ngày nay. Thật ra, ở Nepal có nhiều địa phương có nữ thần sống Kumari, nhưng chỉ có nữ thần Kumari ở Kathmandu là được nhà vua đến hôn chân mỗi năm để mong được thần ban phước. Điều này diễn ra cho đến tận khi vị vua Nepal cuối cùng là Gyanendra bị buộc phải rời ngôi năm 2008 để đất nước này chuyển qua chế độ cộng hòa. Nay thì nữ thần sống Kumari chỉ còn chúc phúc cho người đứng đầu chính phủ cộng hòa dân chủ theo xu hướng Maoist.
Nhưng ai là nữ thần sống Kumari ? Nữ thần Kumari được lựa chọn trong số những bé gái từ 3 – 7 tuổi thuộc dòng họ Sakya, dòng họ của Đức Phật, qua một quá trình tuyển chọn nghiêm ngặt. Bé gái được lựa chọn làm nữ thần phải hoàn toàn khỏe mạnh, chưa hề bệnh tật hay chảy máu, có đủ 20 răng, ngoài ra còn phải hội đủ 32 tiêu chuẩn khác, chẳng hạn: “ngực như ngực sư tử, thân mình như cây đa, cổ như vỏ ốc, đùi như đùi nai, lông mi như mi bò, giọng nói dịu dàng và trong, chân tay thon thả, tóc và lông mi phải thật đen, bộ phận sinh dục nhỏ nhắn và lùi vào trong, tính khí vui tươi và không biết sợ hãi…” Những bé gái hội đủ các tiêu chuẩn đó còn phải được chấm tử vi xem có phù hợp với lá số của nhà vua hay không và phải trải qua những thử thách rợn người: đó là trải qua một đêm trong một căn phòng kín, giữa những chiếc đầu dê và trâu được giết để tế thần và giữa những người mang mặt nạ yêu quái nhảy múa suốt đêm trong tiếng cầu kinh Mật điển. Bé gái nào trải qua được thử thách đó mà không hề la hét, khóc lóc, sợ hãi mới chứng tỏ được mình là hiện thân của nữ thần Taleju và được chọn làm nữ thần sống Kumari.
Một khi trở thành nữ thần sống, bé gái sẽ phải sống cuộc sống cô độc trong điện Kumari Ghar, không được giao tiếp với người trần ngoại trừ những dịp đặc biệt, không được sống cuộc sống bình thường như bao bé gái cùng tuổi khác cho đến tuổi dậy thì với kỳ kinh nguyệt đầu tiên. Thần Taleju khi đó sẽ rời bỏ nữ thần sống. Cô gái sẽ trở lại là người trần và trở về sống với gia đình. Người ta lại bắt đầu tìm kiếm một nữ thần sống Kumari khác. Người dân Nepal tin rằng không một người đàn ông nào dám lấy một cựu nữ thần sống làm vợ nếu không muốn bị thổ huyết mà chết, tuy nhiên trong thực tế không ít nữ thần sống sau khi trở về với gia đình đã lấy chồng, sinh con.
Sáng hôm ấy, tôi đã đến Kumari Ghar, đứng rất lâu dưới sân, cạnh gốc cây, nhìn lên cửa sổ lầu hai với hy vọng được nhìn ngắm nữ thần sống vì, theo dân địa phương, thỉnh thoảng nữ thần vẫn xuất hiện ở cửa sổ. Tuy nhiên, tôi và những du khách khác hôm ấy đã không gặp may. Xuất hiện nơi khung cửa sổ không phải là nữ thần sống mà chỉ là một người hầu. 
          Chỉ còn cách mua một tấm bưu thiếp được bán ngay bên ngoài cửa ra vào điện Kumari Ghar, có in hình nữ thần sống Kumari hiện tại, một bé gái tên Matina Sakya, được tôn là nữ thần sống năm 2008 khi mới 3 tuổi. Và tự an ủi mình: Đất nước nằm dưới chân Himalaya này có vô số điều kỳ bí, vô số thần thánh, truyền thuyết, huyền thoại, trong đó nữ thần sống Kumari chỉ là một. Không thể chỉ trong ba ngày ngắn ngủi mà khám phá hết.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

NHU CẦU “BỘ MẶT”

Bảo tàng Hà Nội, bảo tàng lớn nhất nước, vốn đầu tư hơn 2.300 tỉ đồng, công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, mới đưa vào sử dụng chưa đầy một năm đã xuống cấp nghiêm trọng. Mấy ngày đầu sau khi khánh thành, bảo tàng còn có khách tham quan do người từ các địa phương khác đổ về nhân đại lễ 1000 năm Thăng Long nhưng nay thì vắng vẻ, đìu hiu, với chỉ vài ba người đến tham quan mỗi ngày, như phản ảnh của nhiều tờ báo.
Chính Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc đã đánh giá rằng đây là một sự đầu tư lãng phí. PGS Nguyễn Văn Huy, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại Hà Nội, trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo điện tử Vietnamnet cho biết, sau khi tham quan Bảo tàng Hà Nội, hầu hết những người Hà Nội mà ông biết và cả khách quốc tế đều thất vọng vì cái tòa nhà thì hiện đại, nhưng nội dung và chất lượng trưng bày quá kém, không đạt tiêu chuẩn. Ông nói thẳng, đó là do làm tạm bợ, không tính đến chất lượng, bất chấp tiêu chuẩn tối thiểu của bảo tàng thế kỷ 21, miễn sao bày kín được mấy tầng bằng những thứ đồ cổ. Có trưng bày đấy mà không đạt mục tiêu nội dung và không đạt chất lượng mỹ thuật, làm thấp giá trị của bảo tàng. Chính vì vậy mà bảo tàng không thu hút được khách tham quan. Sự lãng phí chính ở chỗ đó. Vẫn theo GS Huy, nguyên nhân lãng phí là do ở nước ta có "mốt" khánh thành tòa nhà (bảo tàng) trước, rồi vài năm sau mới khánh thành trưng bày chính. Đó là một cách làm không phù hợp, không khoa học, chủ yếu chạy theo thành tích, gắn với các ngày kỷ niệm hay với các nhiệm kỳ của các vị lãnh đạo có liên quan.
Sai lầm rất lớn của quá trình xây công trình Bảo tàng Hà Nội cũng như nhiều bảo tàng khác ở nước ta, theo GS Huy, là có hai bộ phận hoàn toàn tách biệt: bộ phận xây dựng thì cứ lo xây dựng, còn Bảo tàng Hà Nội, kể cả Giám đốc Bảo tàng cũng không tham gia vào quá trình lập đề cương, tổ chức bộ máy trưng bày. Những người có chuyên môn lại không được làm công việc chuyên môn quan trọng nhất của bảo tàng. Họ chỉ chờ "chìa khóa trao tay" để quản lý và lo "giữ nhà".
Nói cách khác, nói đến làm bảo tàng (và nhiều thứ khác nữa), người ta nghĩ trước hết đến “phần cứng”, đến xây dựng tòa nhà cho hoành tráng, đáp ứng cái gọi là “bộ mặt”, còn nội dung hoạt động, trưng bày, sự vận hành bên trong, tức “phần mềm” thì người ta rất ít chú ý. Trước hết phải là to nhất, hoành tráng nhất, là bộ mặt, là thể diện, dù bên trong chẳng ra sao.
Một công trình ngàn năm Thăng Long khác, "Con đường gốm sứ" dài gần 4.000 mét, với tổng diện tích tranh gốm khoảng 7.000 m2 do 20 nghệ sĩ Việt Nam, 15 nghệ sĩ quốc tế, 50 sinh viên mỹ thuật, cùng 100 nghệ nhân và thợ thủ công từ nhiều địa danh và làng gốm truyền thống thực hiện, được long trọng khánh thành với sự có mặt của khá nhiều quan chức, được trao bằng kỷ lục thế giới Guiness. Chưa đầy năm sau, “Con đường gốm sứ” nay đang bong tróc, bục lở, với nhiều đường nứt dài và nhiều người Hà Nội cho rằng nó đang làm xấu thay vì làm đẹp cho bộ mặt thành phố. Tuy không phải là công trình đầu tư từ ngân sách mà là công trình xã hội hóa, một cách làm khá mới mẻ nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng phục vụ cho cộng đồng, nhưng đó cũng là một công trình chạy đua chào mừng đại lễ.

Trong số các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Thanh tra Bộ Xây dựng đang thanh tra hai công trình, đó là Bảo tàng Hà Nội và Công viên Hòa Bình. Tại Bảo tàng Hà Nội, theo báo chí phản ảnh, ngay tầng 1, ở lối lên cầu thang, nền gạch bong tróc, dùng tay có thể bóp vụn miếng ximăng và trơ cát.  Trên trần tầng 1, nước đọng thành vệt loang lổ, có chỗ nước nhỏ giọt. Ở tầng hầm, nơi bảo quản hiện vật, cũng xảy ra hiện tượng nước rò rỉ. Đặc biệt tầng ngầm - phòng kỹ thuật của bảo tàng - còn bị ngập nước lênh láng khi mưa. Tại Công viên Hòa Bình, vốn đầu tư 282 tỷ đồng, hiện tượng xuống cấp cũng lộ rõ. Chỉ mấy cơn mưa đầu mùa, hàng loạt khu vực trong công viên ngập úng nặng. Tại một số khu vực, gạch vỡ đang được thay thế. Tại nhiều khu vực khác, nền gạch  bị phồng rộp kéo dài tới vài chục mét, phía dưới hoàn toàn không có ximăng. Chẳng biết có tiêu cực gì ở đây không, vì còn phải chờ kết luận thanh tra, nhưng nếu không có tiêu cực thì rõ ràng chính cái bệnh chạy theo thành tích, chạy theo ngày kỷ niệm, đáp ứng vấn đề “bộ mặt” đã làm hại cho chất lượng công trình. Ai gánh? Tất nhiên, cuối cùng vẫn là người đóng thuế, là người dân.
Như vậy, ngoài tham nhũng, tiêu cực, một nguyên nhân khác gây lãng phí, tiêu hao tiền của của dân, tuy ít được nói tới, ít được vạch mặt chỉ tên, chính là nhu cầu về “bộ mặt”, là “thể diện”. Điều đó đúng trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện nhà nước và xã hội.