Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2008

Trung Quốc, Philippines, Việt Nam và Biển Đông

Phe đối lập Philippines đang cáo buộc chính phủ Arroyo bán rẻ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa (mà Philippines gọi là Palawan và Phi cũng đòi chủ quyền) cho Trung Quốc qua việc ngấm ngầm ký với Trung Quốc thỏa thuận thăm dò địa chấn, thực chất là thăm dò tài nguyên dầu lửa. Arroyo đi đêm ký thỏa thuận này với TQ năm 2004. Việt Nam, vốn trước đó chống lại một thỏa thuận kiểu như vậy với TQ, bị đặt vào thế bị động, đã phản đối rồi sau đó cũng ở vào thế phải tham gia thỏa thuận trên. Philippines, một thành viên ASEAN như Việt Nam đã "đào ngũ" khỏi lập trường chung của ASEAN trong đối phó với TQ về vấn đề Biển Đông.
Dương Danh Huy, một người nghiên cứu sâu về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa, vừa có bài viết về vấn đề này trên trang web Minh Biện, kèm tư liệu về bản thỏa thuận 2 bên TQ-Phi và 3 bên TQ-Phi-Việt Nam mà chưa ở đâu công bố.
Đọc để thấy sự phức tạp của tình hình và thầy chính sách bẻ từng chiếc đũa của TQ.
Địa chỉ của liên kết là
www.minhbien.org/

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2008

CƠ HỘI ĐỂ CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH TẾ?

Nền kinh tế nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn, một mặt do những chuệch choạc trong chính sách vĩ mô, chính sách tiền tệ khiến lạm phát và giá cả tăng cao; mặt khác do giá nguyên nhiên liệu trên thế giới tăng đến chóng mặt. Nhưng nguyên nhân cơ bản, sâu xa hơn, phải nói là do nền kinh tế nước ta cho đến nay vẫn chủ yếu phát triển theo bề rộng bằng cách gia tăng các yếu tố đầu vào, thêm vào đó là lãng phí, thất thoát lớn, nên rất kém hiệu quả và rất dễ bị tổn thương do những biến động trên thị trường thế giới. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2001-2006 vừa qua (4,4) còn cao hơn cả hệ số này của Thái Lan (4,1) và Indonesia (3,7) giai đoạn 1981-1995 trong khi tỉ lệ tăng trưởng năm năm vừa qua của Việt Nam (7,6%) còn thấp hơn Thái Lan (8,1%) giai đoạn 1981-1995 (Báo cáo “Lựa chọn thành công…” của Chương trình Châu Á, Trường Chính quyền John F. Kennedy, Đại học Harvard).Giải quyết nguyên nhân gốc rễ này để tăng cường tính hiệu quả của nền kinh tế tất nhiên đòi hỏi những giải pháp căn bản chứ không thể chỉ bằng một số biện pháp ngắn hạn, trước mắt.

Nền kinh tế thế giới từng không ít lần trải qua những thời kỳ khó khăn, khủng hoảng và cũng đã từng chứng kiến không ít quốc gia thành công trong việc biến khó khăn thành cơ hội để chuyển đổi nền kinh tế của họ lên một trình độ phát triển cao hơn về chất lưỡng và tính hiệu quả, như Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970. Liệu Việt Nam có thể biến những khó khăn hiện nay thành cơ hội để thực hiện một cuộc chuyển đổi tương tự? Câu trả lời tùy thuộc vào quyết tâm của Chính phủ trong việc lựa chọn tính hiệu quả làm tiêu chí cao nhất trong mọi quyết định chính sách, mọi quyết định đầu tư và chi tiêu công, mọi ưu đãi hoặc hỗ trợ cho thành phần này hay thành phần khác trong nền kinh tế, cũng như quyết tâm giải quyết tận gốc mọi nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí.

Xét như thế thì có vô số việc phải làm cả trước mắt và lâu dài, trong đó có việc sớm đề ra chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu hao nguyên nhiên liệu, đổi mới quản lý doanh nghiệp nhằm tăng tính hiệu quả và khả năng ứng phó linh hoạt với thị trường, v.v… Nhưng cấp bách trước mắt là gỉải quyết rốt ráo những doanh nghiệp nằm dưới sự chủ quản của các bộ, các cấp chính quyền mà khi vỡ lở mới hay đó là những cỗ máy ngốn tiền ngân sách, phung phí tín dụng, phá hoại nguồn lực quốc gia như vụ COSEVCO thuộc Bộ Xây dựng mới đây là một thí dụ. Còn bao nhiêu doanh nghiệp nhà nước như thế chưa được đưa ra ánh sáng? Còn bao nhiêu công trình đầu tư, chi tiêu công lãng phí chưa được kiên quyết chấm dứt và ngăn chặn? Bao giờ thì phần lớn doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước được trả về với cơ chế thị trường thực sự để Nhà nước chỉ còn giữ lại một số ít doanh nghiệp thực sự cần thiết trong các lĩnh vực chiến lược?

Những khó khăn hiện nay càng cho thấy tính cấp bách của vấn đề mà lẽ ra đã phải giải quyết từ lâu. Muốn chuyển đổi nền kinh tế sang trình độ phát triển cao hơn, hiệu quả hơn cũng đòi hỏi trước hết phải giải quyết những cái ổ lãng phí đã tồn tại quá lâu.

CẨN THẬN, KẺO VỠ!

Sau những ngày say sưa với tỉ lệ tăng trưởng 8,5% để rồi chợt bừng tỉnh trước tỉ lệ lạm phát lên tới 12,63% năm 2007 so với năm trước và trước những tiếng kêu về đời sống người dân, nhất là người nghèo do giá cả tăng cao, ngay trước và sau Tết, Ngân hàng nhà nước đã thực hiện cấp tập các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ: tăng lãi suất, bán tín phiếu bắt buộc cho các ngân hàng thương mại… nhằm rút tiền trong lưu thông về để kiềm chế lạm phát. Những biện pháp “sốc” này ngay lập tức đã tác động mạnh đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng và khả năng vay đầu tư của doanh nghiệp, buộc các ngân hàng phải ngừng cho vay và chạy đua nâng lãi suất huy động, doanh nghiệp thì hầu như bó tay, không thể vay. Thị trường chứng khoán tụt dốc, thị trường bất động sản chững lại.

Kiềm chế lạm phát tất nhiên vô cùng cần thiết nếu không muốn thành qủa tăng trưởng bị triệt tiêu, nhất là đối với đa số dân nghèo; nó cũng cần thiết để duy trì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, để nền kinh tế không rơi vào chỗ bong bóng, nhất là đối với thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản vốn là lĩnh vực vô cùng nhạy cảm, đòi hỏi phải xử lý hết sức cẩn trọng và linh hoạt để tránh đổ vỡ hệ thống, tránh dẫn tới đóng băng, bằng không nó sẽ tác động ngược trở lại toàn bộ nền kinh tế, gây nên đình đốn và tác hại đến chính sự tăng trưởng. Không có tăng trưởng thì không tạo ra việc làm, tạo ra thu nhập và người nghèo cũng bị ảnh hưởng. Ai cũng biết thế, nhưng chỉ có nhà nước, với thông tin đầy đủ và với các công cụ sẵn có trong tay mới có thể quyết định xử lý thế nào là linh hoạt.

Mặt khác, như nhiều chuyên gia cả trong và ngoài nước đã chỉ ra, nguyên nhân của lạm phát không chỉ do lượng cung tiền trên thị trường mà còn do một số nhân tố khác, trong đó đáng kể nhất là đầu tư công và đầu tư của các tập đoàn kinh tế nhà nước kém hiệu quả. Thắt chặt tiền tệ mà không thắt chặt đầu tư công và đầu tư của các tập đoàn kinh tế nhà nước thì chẳng khác nào bịt lỗ rò mà không bịt kín hết. Kiềm chế lạm phát do đó đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ hơn là chỉ thắt chặt chính sách tiền tệ.

Một điểm nữa cũng cần đề cập: giá như trước khi tiến hành các biện pháp gây sốc cho thị trường như chúng ta đã thấy, Ngân hàng nhà nước và các cơ quan chức năng xuất hiện công khai trước công luận, đưa ra lý giải của mình về tình hình và nguyên nhân lạm phát, vạch ra lộ trình và những biện pháp dự kiến áp dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hẳn công luận và các tổ chức, các đơn vị kinh tế đã có sự chuẩn bị sẵn sàng hơn để đón nhận trong tinh thần hợp tác, giảm đi đáng kể những những hoang mang không đáng có mà những liệu pháp sốc mang lại. Sự minh bạch bao giờ cũng giúp hạn chế những tác động tiêu cực, hạn chế cái giá phải trả của các chính sách.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2008

Một tài thơ yểu mệnh tôi thích

Trong số những nhà thơ mà hồi học trung học tôi rất thích rồi bẵng đi một thời gian rất dài, hàng mấy chục năm, tôi không còn có dịp đọc lại hay tìm hiểu thêm có Phạm Hầu. Tôi hoàn toàn không còn có thể nhớ gì về thân thế, sự nghiệp của nhà thơ mà riêng tôi cho là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của nền thi ca Việt Nam, ngoại trừ một khổ thơ mở đầu cho bài Vọng lâu:
Mắt theo lầu vọng buồn bên trúc
Trúc rủ buồn trên mái vọng lâu.
Tuổi tôi, mầu lá: ai sinh trước?
Hiu hắt đôi bên lúc đọ màu.
Tôi đã hầu như tuyệt vọng trong việc tìm hiểu thêm về nhà thơ tôi yêu mến và chỉ may nhờ có internet mà tôi đã tìm được thêm thông tin về nhà thơ, thân thế của ông, những tác phẩm khác của ông. Mới hay ông quê ở Điện Bàn, Quảng Nam và chỉ sống một cuộc sống ngắn ngủi, 24 năm (1920-1944). Với tôi, ông chẳng khác gì Arthur Rimbaud, dù những gì ông để lại không nhiều bằng Rimbaud. Một tài hoa mệnh bạc.
Nhờ internet, cụ thể hơn là nhờ trang web xuquang.com và bài viết của nhà báo Vân Long, tôi đã có thể tìm lại tất cả số bài thơ ít ỏi mà vô cùng hay mà ông để lại, trong đó có bài Vọng lâu. Nhiều người đánh giá cao nhất bài Vọng hải đài của nhà thơ, riêng tôi vẫn thích nhất bài Vọng lâu (có lẽ vì nó gắn với thời trẻ lãng mạn, thích văn chương của tôi chăng?). Vây chép lại đây toàn bộ bài thơ này, để khỏi quên.

Vọng Lâu


Mắt theo lầu vọng buồn bên trúc
Trúc rủ buồn trên mái vọng lâu.
Tuổi tôi, màu lá: Ai sinh trước?
Hiu hắt đôi bên lúc đọ màu.

Lầu đứng bơ vơ lầu vắng vẻ,
Lầu mơ đàn địch tiếng lầu xưa.
Thẫn thờ lá trúc rưng rưng lệ,
Như mắt đa tình lúc tiễn đưa.

Quanh tôi là mộng hay bươm bướm?
Lầu dựng buồn cao ngập giấc mơ.
Quanh tôi là mộng hay mây sớm?
Lầu dựng buồn cao ngập ý thơ.

Tôi buồn cô độc, ôi lầu vọng!
Ai biết cho lòng như thế đâu
Buồn đưa hương lúa, buồn đưa võng.
Những cảm tình tôi tựa bóng lầu.

Xưa tiếng người bay rực rỡ lầu,
Ngày nay lầu quạnh ngắm biển dâu.
Tôi buồn rưng rức bên lầu vo.ng.
Ai dựng trong lòng cảnh vọng lâu.



Thứ Hai, 28 tháng 1, 2008

NGHĨ TỚI DÂN

Xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An có diện tích 2.000 hecta thì 1.500 hecta, bao trùm 3/5 ấp, đã bị chính quyền tỉnh quy hoạch cho 2 dự án sân golf, số dân còn lại sẽ dồn vào 2 ấp còn lại. Cả xã có 1.600 hộ thì 900 hộ nằm trong diện giải tỏa, không còn đất. Đó là riêng ở xã Long Hậu, còn trong toàn tỉnh có tới 13 dự án sân golf đã được chấp thuận đầu tư (5 dự án khác đã nộp hồ sơ nhưng chưa được chấp thuận) trước khi UBND tỉnh rút lại còn 6 dự án và Tỉnh ủy quyết định chỉ còn 3 dự án.
Bỏ qua một bên những điều khác thường khi một tỉnh mà đất đai phần lớn là đất nông nghiệp như Long An chấp thuận cho một con số nhiều đến khó tin dự án sân golf như vậy, điều đáng nói ở đây là dường như chính quyền tỉnh đã không nghĩ gì tới cuộc sống của hàng ngàn hộ dân bị giải tỏa vì những dự án kinh doanh như vậy. Hoặc là có nghĩ tới cũng chẳng có biện pháp gì để giải quyết. Việc chấp thuận cho đầu tư, kèm theo đó là giải tỏa dân đang sinh sống tại chỗ, xem ra đã được quyết định một cách quá nhẹ nhàng. Những hộ nông dân bị giải tỏa rồi sẽ đi đâu, về đâu để mưu sinh với số tiền đền bù có trong tay ? Việc giải tỏa hàng ngàn hộ dân cho hàng chục dự án sân golf ở Long An chỉ là một trong nhiều thí dụ gần đây về việc ban hành những chính sách mà ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống người dân đã không được tính đến hoặc không được cân nhắc một cách đầy đủ. Đặc biệt là ảnh hưởng đối với những tầng lớp dân cư nghèo nhất, ít có điều kiện cải thiện cuộc sống nhất, bị thiệt thòi nhất, như nông dân nghèo, như những người đạp xe ba gác, những người buôn thúng bán bưng (nói bán hàng rong dường như nghe có vẻ nhẹ nhàng hơn ?)...
Phát triển, tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống, đó là mục tiêu của chúng ta. Tổ chức cuộc sống văn minh, hiện đại, không ai không muốn. Tuy nhiên, từng chương trình, từng chính sách, từng biện pháp, dự án cụ thể không phải bao giờ cũng thuận chiều với việc cải thiện cuộc sống của mọi người, cũng tránh được những tác động phụ. Và một trong những nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào chính là quan tâm tới những tầng lớp dân cư này, huống hồ dân nghèo còn chiếm đa số dân cư nước ta. Nói quan tâm là quan tâm trong thực tế chứ không phải trong khẩu hiệu, là có biện pháp cụ thể, với đầy đủ tinh thần trách nhiệm của một nhà nước đích thực, nhằm tổ chức cuộc chuyển đổi cuộc sống, sự mưu sinh của những tầng lớp dân cư bị ảnh hưởng bởi chính sách chung một cách êm thắm nhất, ít xáo trộn nhất. Muốn vậy, trước khi ban hành một chủ trương, chính sách nào có tác động tới người dân, cần tổ chức điều tra, khảo sát kỹ lưỡng những tác động tiêu cực có thể có và đề ra các giải pháp khắc phục hoặc ít ra là giảm thiểu các tác động ấy. Và đó là chỗ cho các nhà khoa học vốn còn chưa được trọng dụng, chưa có tiếng nói trong thực tế ở nước ta.