Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009

Ngoại giao? Ngoại giao cho ai?


Không biết ai là người đầu tiên nảy ra cái ý gọi đoạn đường Nguyễn Văn trỗi-Nam kỳ khởi nghĩa là “con đường ngoại giao”, ý muốn nói đây là đoạn đường “bộ mặt” của TPHCM dưới mắt du khách từ sân bay Tân Sơn Nhứt đi vào trung tâm thành phố. Đoạn đường dài chỉ 3,8 km, từ ngã tư Nguyễn Văn Trỗi-Hoàng Văn Thụ đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sáu, khởi công mở rộng, nâng cấp từ tháng 12-2005 đến nay, sau ba năm rưỡi vẫn ngổn ngang lô cốt, đất đá, ổ gà, bụi mù mỗi sáng mỗi chiều. “Con đường ngoại giao”, mỉa mai thay, đã trở thành con đường phản ngoại giao, bôi bác ngoại giao bậc nhất.
Năm 2007, trước sự kêu ca của dư luận, một quan chức Sở Giao thông vận tải hứa đầu năm 2009 sẽ hoàn thành đoạn đường 3,8km này. Lúc ấy, nghĩ đến thời hạn đầu 2009 mới xong, mọi người đã thấy quá đỗi bực bội. Nhưng rồi, trước những lời giải thích, biện minh về những nguyên nhân chậm trễ, nào là giải phóng mặt bắng chậm, nào là cac ngành chậm di dời công trình ngầm, nào là tiến độ nâng cấp đoạn đường phụ thuộc vào tiến độ công trình đặt cống thuộc dự án vệ sinh môi trường Nhiêu Lộc-Thị Nghè, dư luận cũng chẳng còn cách nào hơn là chấp nhận và chờ đợi. Vậy mà bây giờ năm 2009 đã qua được một nửa, đoạn đường ngắn vẫn ngổn ngang, nhếch nhác và không ai biết bao giờ sẽ xong. Quan chức chịu trách nhiệm lại giải thích. Vẫn chừng ấy lý do, không có gì mới.
“Con đường ngoại giao”! Tại sao phải là “ngoại giao”? Tại sao phải là “bộ mặt”? Chẳng lẽ những con đường không phải là « ngoại giao », không phải là « bộ mặt » thì chất lượng được phép kém hơn, được chăng hay chớ ? Còn nếu hiểu ngoại giao là lịch sự với người khác thì tại sao không « lịch sự » trước hết với dân cho dân nhờ, bằng cách thi công chóng vánh, đạt chất lượng ? Bao giờ thì các quan chức bỏ được cái tư duy, cái tâm lý « ngoại giao », « bộ mặt » đó để mỗi công trình phục vụ người dân phải là một công trình với chất lượng cao nhất, cả về mặt thi công lẫn sử dụng ? Và với một « con đường ngoại giao » mà chất lượng thi công như thế thì người dân có thể trông đợi gì ở những con đường không phải là « ngoại giao », là « bộ mặt » ?
Hơn 800 tỉ đồng đầu tư và ba năm rưỡi (cho tới nay) cho việc mở rộng một đoạn đường đã có sẵn nền đường, dài chưa đến 4 cây số, cái mà người dân có được cho tới nay là một đoạn đường lởm chởm, là những lô cốt choán gần hết mặt đường ở nhiều đoạn, không biết còn tồn tại đến bao giờ, là những lề đường cao một cách khó hiểu, là một chiếc cầu Công lý xây không thể nào xấu hơn, là đất đá bụi bặm tung toé...Và khi hoàn tất chưa chắc đã bớt nạn kẹt xe.
Dư luận kêu ca thì cũng đã kêu ca hết mức rồi. Giải thích thì quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy lý do. Chỉ một vấn đề chưa được đặt ra là vì sao các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị chịu trách nhiệm không hề có một cam kết nào với người dân về thời hạn thi công công trình, về chất lượng thi công và chất lượng công trình. Người dân khi quan hệ với nhà nước để thực hiện các dịnh vụ công, trong rất nhiều lĩnh vực đều phải cam kết thực hiện một số điều kiện, và nếu người dân không thực hiện đúng sẽ bị trừng phạt ngay. Người sản xuất kinh doanh ngay thẳng thử mà không đóng thuế đúng hạn cho nhà nước xem, sẽ bị hỏi « hỏi thăm » ngay. Ấy vậy mà ở đây người ta đang dùng tiền đóng thuế của dân (có vay ODA rồi người dân cũng sẽ phải đóng thuế để trả thôi) để thi công các công trình mà không hề có một cam kết nào với người dân. Người dân thì chịu đựng thiệt hại ngày này qua ngày khác (ô nhiễm, ùn tắc giao thông, mất cơ hội buôn bán), cón quan chức liên quan thì làm như không thấy, không nghe, không hay biết. Bao giờ người ta biết cam kết và giữ đúng cam kết với dân ?

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

NGƯỜI THẦY TIẾNG VIỆT CỦA TÔI


Đó là thầy Vũ Tất Thắng. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in gương mặt vừa nghiêm nghị vừa thanh tú, với đôi mắt to, sáng và sống mũi cao, mái tóc húi cao của thầy; nhớ chiếc áo dài the đen mà thầy mặc mỗi khi vào lớp, trong khi những người thầy khác hồi học đại học sau này tôi lại không còn nhớ nổi một gương mặt nào.
Năm 1961, sau khi thi đậu tiểu học ở Phước Tuy (Bà Rịa bây giờ), tôi bắt đầu vô học trường dòng Phanxicô ở Thủ Đức, theo chương trình Pháp, bắt đầu từ lớp huitième (lớp 8). Tiếng Việt được coi như một sinh ngữ, cùng với tiếng Anh (khi học lên cinquième - lớp 5). Tôi chỉ học tiếng Việt với thầy Thắng đâu 2-3 năm gì đó từ lớp 8, nhưng nhờ thầy mà tôi yêu tiếng Việt, học tốt ngữ pháp tiếng Việt, yêu thơ văn Việt Nam, mặc dù tôi cũng rất thích thơ văn tiếng Pháp. Cùng với Stendhal, Flaubert, Maupassant, Baudelaire, Alain Fournier, G. Apollinaire, J. Prévert…tôi yêu Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, yêu văn chương Tự lực Văn đoàn, yêu Thơ mới, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê… Hồi ấy chúng tôi ở nội trú trong trường, chỉ đến chiều thứ bảy là được ra ngoài đi chơi, và thường là lấy xe lam từ Thủ Đức về Sài Gòn chơi. Mỗi lần như vậy tôi thường la cà ở các hàng sách báo trên lề đường Lê Lợi và tìm mua sách báo, tạp chí cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. Tôi nhớ hồi ấy tôi đã mê và bỏ tiền mua những tuyển tập thơ tiền chiến của Xuân Diệu (Thơ thơ), Huy Cận (Lửa thiêng), Chế Lan Viên (Điêu tàn)…cũng như tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tất cả in trên giấy hoa tiên rất đẹp, rất trang trọng. Tất nhiên tôi cũng mua và đọc cả những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở miền Nam thời ấy cũng như các nhà văn nước ngoài khác, ngoài Pháp, qua loại sách Livre de poche được nhập khẩu và bán ở Sài Gòn lúc bấy giờ.
Trở lại với thầy Thắng. Chính chiếc áo dài the đen thầy mặc và giọng giảng bài truyền cảm của thầy đã truyền cho tôi tình yêu tiếng Việt và văn chương Việt Nam. Cho đến một ngày, thầy xuất hiện trong lớp trong bộ quân phục để từ giã chúng tôi. Thầy phải đi quân dịch. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì về thầy nữa mà trong lòng bao giờ cũng thầm cảm ơn thầy đã dạy cho tôi biết yêu tiếng Việt. Sau 30-4-1975, tôi cố nghe ngóng tin tức về thầy mà không nắm được gì, không biết thầy còn sống hay đã mất. Lâu lâu rồi, tôi lại nghe một bạn học cũ nói thầy còn sống nhưng gặp chuyện đau buồn về gia đình. Tôi nghe mà thương cho thầy, nhưng vẫn không biết thầy ở đâu.
Có ai tình cờ đọc được những dòng này và biết thầy ở đâu, làm ơn chỉ giùm tôi, tôi vô cùng biết ơn.

VỀ HƯU !


Vậy là mình về hưu. Bảy tháng trước khi đến hạn nghỉ hưu chính thức. Là theo đề nghị của chính minh, bởi nếu muốn tiếp tục làm nhiệm vụ tổng thư ký tòa soạn cho đến đầu 2010 thì cũng được. Nhưng bỗng dưng tới tuổi này lại cảm thấy ham chơi quá nên xin hưu sớm quách cho khỏe, để còn đi chơi đi bời ! Dường như về già người ta ham chơi hơn thì phải !
Có mấy anh em, nhất là mấy em gái trong tòa soạn, nghe mình nghỉ hưu tỏ vẻ ngạc nhiên. « Còn trẻ sao hưu sớm thế? Anh mà ra đường còn khối cô mê ! » Trời đất, không biết nói đùa hay nói thật, nghe thì cũng thấy sướng thầm trong bụng nhưng mà đã 60 cái xuân xanh rồi, tóc đã lốm đốm bạc rồi, xương cốt đã bắt đầu rơ, bắt đầu ê ẩm rồi, còn trẻ cái nỗi gì ! Nhưng mà kể cũng lạ, hồi còn trẻ, nhất là lúc còn học trung học, mình toàn bị tụi bạn gọi là « ông già », đến giờ già thiệt thì hầu như ai cũng bảo còn trẻ (so với cái tuổi 60 của mình, và so với một số anh em khác tuổi thực trẻ hơn) !
Về hưu có cảm giác gì ? Cảm giác đầu tiên là nhẹ nhõm, lâng lâng. Như cất được một cái gánh nặng gì đó ! Từ đây khỏi phải lo kế hoạch, kế hiếc, khỏi phải lo để xảy ra sai sót gì cho cơ quan nhé ! Từ đây có nhiều thì giờ đi du lịch, du hí hơn nhé ! Không sướng sao được. Chợt nhớ lại bài tạp văn « Buổi sáng thật thà » của Nguyễn Ngọc Tư nói về cái cảm giác luyến tiếc chiếc ghế, luyến tiếc quyền hành của một ông già về hưu, bèn thành khẩn soát xét lại trong từng đường tơ kẽ tóc, từng tế bào xem mình có cái cảm giác luyến tiếc ấy không. Phải thành thật mà nhận rằng không hề có. Vậy là vui.
Tất nhiên mình cũng dè chừng chuyện chơi bời một hồi có khi rồi cũng chán. Mấy anh bạn về hưu trước mình truyền lại kinh nghiệm như vậy. Nên chơi thì chơi, mình cũng chuẩn bị kế hoạch để « sống tích cực », như người ta nói, để trí óc khỏi mụ đi, để khỏi rơi vào chỗ trầm cảm do biếng nhác, không làm gì. Này nhé, mình sẽ ký họp đồng với tờ báo hiện tại làm một chân biên tập gì đó, nếu còn rảnh và thấy thích hợp thì sẽ hợp đồng làm công việc gì khác nữa với một tờ báo khác. Lại còn có vài công ty muốn mình làm việc cho họ. Chỉ sợ không có sức, và công việc không biết có thú vị không thôi. Ngoài ra còn phải để thì giờ viết blog và đi chơi nữa chứ. Càng về già càng ham chơi mà !
Chợt nghĩ, không hiểu sao nhiều người ham bám ghế dữ vậy (tất nhiên cái ghế tổng thư ký tòa soạn một tờ báo thì không thể so với những cái ghế to hơn, béo bở hơn ở những ngành nghề khác, nhưng dù sao thì cũng là một cái ghế !). Có lẽ quyền lực, quyền hành là thứ gì đó có sức quyến rũ ghê gớm nên có khi cái ghế cũng không béo bở gì cho lắm mà người ta cũng không dễ từ bỏ. Lại có những người tuy không hám địa vị hay quyền lợi nhưng thành thật tin rằng, không có họ ngồi ở cái ghế họ đang ngồi thì thế giới sẽ sụp đổ, mọi thứ sẽ đảo lộn, sẽ hỏng bét. Họ không bao giờ nghĩ rằng, không có họ ở đó, mọi thứ có khi còn tốt đẹp hơn, chưa biết chừng.
Mình thì tự bản chất, mình nhận thấy vậy, đã không ham địa vị, quyền hành (năm 1997, đang làm tổng thư ký tòa soạn Tuổi Trẻ, vì bất đồng, mình đã xin nghỉ ngang, chuyển qua TBKTSG, thời gian đầu chỉ làm thư ký tòa soạn), có lẽ vì vậy mà về hưu trước thời hạn, với mình cũng là chuyện rất ư bình thường.
Nhớ lại, những năm ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết, mình từng nghĩ, thậm chí ước sống đến 45, chết là đẹp. Vậy mà bây giờ đã sống đến 60, hưu là vừa.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2009

The Age và Tuổi Trẻ

'Vì sao họ trả nhiều tiền như thế?' Đó là tựa đề bài phỏng vấn của BBC với Nick McKenzie, một trong hai phóng viên chính của tờ The Age tham gia điều tra vụ công ty Úc Securency lại quả cho công ty CFTD của Việt Nam để giành được hợp đồng in tiền polymer, mà Banktech của Lê Đức Minh, con ông cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy, là một công ty con thành viên. Tiền trả cho CFTD, khoảng 10 triệu đô Úc, đã được gửi vào tài khoản của CFTD ở một ngân hàng Thụy Sĩ. Xem:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090526_nick_mckenzie_interview.shtml
Trông Nick McKenzie còn khá trẻ và chỉ mới gia nhập The Age từ 2006, vậy mà đã làm được cuộc điều tra này và buộc cơ quan điều tra Úc phải vào cuộc. Vậy là giỏi. Nhưng cũng đừng quên là nhà báo này và đồng nghiệp của họ được luật pháp Úc bảo vệ khi thực hiện nhiệm vụ của họ. Báo chí nước ta thì khác (trong bài anh phóng viên này cũng có nhận xét một câu về báo chí Việt Nam). Mấy năm trước Tuổi Trẻ từng làm quyết liệt vụ này, thanh tra vào cuộc, cũng có kết luận. Nhưng rồi sau đó TT cũng như các báo khác buộc phải im. Sự khác nhau là ở chỗ đó. Và có lẽ chính sự khác nhau đó làm cho công cuộc chống tham nhũng ở ta xem ra không có mấy kết quả. Hết PCI, giờ đến Securency.

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2009

NGUYỄN TRUNG DÂN, NGUYỄN THANH HƯNG VÀ PHÉP THỬ VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA.


Nguyễn Trung Dân, Phó tổng biên tập phụ trách tờ báo Du lịch của Tổng cục Du lịch, chỉ vì cho đăng bài báo “Tản mạn cho đảo xa” và bài “Ải Nam quan” trong số báo xuân Kỷ sửu, đã bị cách chức và rút thẻ nhà báo. Hai bài báo ấy chẳng qua phản ánh lòng yêu nước, sự lo âu và nỗi bức xúc của người dân trước việc nước ta bị anh chàng khổng lồ phương Bắc liên tục o ép, dù chúng ta vẫn cứ lặp đi lặp lại phương châm “16 chữ vàng” như một câu thần chú. Những sự kiện tự nó nói lên tất cả, chẳng cần phải nói thêm hay bình luận gì thêm: từ việc cưỡng chiếm Hoàng sa năm 1974, đánh Việt Nam trên toàn tuyến biên giới năm 1979, dùng vũ lực chiếm một số đảo của Việt Nam trong quần đảo Trường sa năm 1988, đến vu cáo ngư dân Thanh Hóa là ăn cướp để bắn giết, bắt họ đem ra tòa xử ở Trung Quốc năm 2005, thành lập thành phố Tam sa thuộc Hải nam để quản lý hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam và Trung sa (tin không được Trung Quốc xác nhận hay phủ nhận), gây áp lực buộc các công ty dầu khí phương Tây không được hợp tác với VN để thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và gần đây nhất là cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt trong vùng lãnh hải của Việt Nam. Tờ Thời báo Hoàn cầu, phụ bản tiếng Anh của tờ Nhân Dân nhật báo chính thức của Đảng Cộng sản TQ, mới đây còn kêu gọi thành lập thành phố Hải Cương để quản lý Tây sa, Nam sa (tức Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam) và Trung sa. Trung bình, cứ 5-10 năm một lần, TQ lại có hành động o ép, gây hấn, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt nam. Có họa là tự bịt mắt mình mới không thấy mối nguy đối với đất nước và không bức xúc trước những hành động ngang ngược, trắng trợn xâm phạm chủ quyền Việt Nam của TQ trong khi miệng họ vẫn “láng giềng hữu nghị, đối tác chiến lược”, v.v…
Ấy vậy mà một tờ báo phản ánh lòng yêu nước của người dân và nỗi bức xúc của họ thì bị đình bản, người phụ trách thì bị kỷ luật nặng (rút thẻ nhà báo). Nếu, như các quan chức thường nói, có kẻ lợi dụng tình cảm yêu nước bộc phát của người dân để chống phá nhà nước, nhà nước chỉ cần cô lập, vô hiệu hóa, trừng phạt những kẻ ấy chứ sao lại cấm người dân biểu tỏ lòng yêu nước và nỗi bức xúc của mình, cớ sao lại cấm báo chí phản ánh tình cảm yêu nước và tinh hần trách nhiệm với tiền đồ đất nước?
Trong khi đó, với việc làm vô trách nhiệm với quyền lợi đất nước như việc các quan chức ở Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin thuộc Bộ Công thương và Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử thuộc Bộ Thông tin và truyền thông để cho phía Trung Quốc lợi dụng trang web hợp tác nhưng mang tên miền quốc gia vietnamchina.gov.vn để tuyên truyền cho quan điểm của TQ và gây thiệt hại cho chủ quyền lãnh hải Việt Nam thì việc xử lý cho tới nay nhìn chung là lấp liếm, che đậy, cố làm giảm nhẹ tầm mức nghiêm trọng của sai phạm. Người ta gọi việc làm của hai cục trên là “lơ là”, mặc dù sự lơ là đó chẳng khác nào là sự nối giáo cho giặc nếu ta nhớ lại rằng cứ mỗi lần TQ giở trò ở Biển Đông thì người phát ngôn Bộ Ngoai giao Lê Dũng cũng chỉ dám lặp đi lặp lại như một cái máy :”Việt Nam có đầy đủ bằng chứng…” mà không một lần dám nói thẳng, khẳng định mạnh mẽ rằng cho đến trước ngày 20-1-1974 Hoàng Sa vẫn nằm dưới quyền quản lý của Việt Nam và cho tới trước ngày 14-3-1988, đảo Gạc Ma và một số đảo khác trong quần đảo Trường sa cũng vậy.
Tuy cho tới nay người ta đã không còn có thể truy cập vào phần tiếng Việt (đuôi .vn) của trang web “hợp tác” này, nhưng phần tiếng Hoa thì vẫn còn đó, trong khi lẽ ra, với sự lợi dụng rõ ràng của phía TQ cần phải chấm dứt sự “hợp tác” về trang web này. Vậy mà, cho tới ngày thứ ba 19-5, ông Lưu Văn Kiền, Cục phó Cục báo chí Bộ 4T thì nói rằng tên miền vietnamchina.gov.vn đã được thu hồi còn ông thứ trưởng Doãn của bộ này lại nói rằng :”Động tác đầu tiên là ta đã bỏ thông tin (tiếng Việt) này. Ngừng trang này hoạt động để thực hiện những việc trên chứ không phải là thu hồi tên miền. Các báo chúng ta đã quá ồn ào về vấn đề này. Chúng ta rất dễ mắc vào sự kích động, đôi khi không tỉnh táo.” Có lẽ cũng vì suy nghĩ như vậy, coi việc để cho phía TQ lợi dụng một trang web thuộc chính phủ Việt Nam (gov.vn) để thoải mái xâm phạm chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng sa, Trường sa là “chuyện không có gì phải ầm ĩ” nên tới nay hai quan chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về vụ việc này là ông cục trưởng Cục Thương mại điện tử và CNTT của Bộ Công thương, Nguyễn Thanh Hưng, vẫn bình chân như vại, chưa hề hấn gì, mặc dù trước đó ông Bùi Xuân Khu, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết đang yêu cầu lãnh đạo cục này giải trình và sẽ kiểm điểm trách nhiệm. Bộ Công thương có thể sẽ đề nghị ngừng, không hợp tác tại website trên (Tuổi Trẻ 16-5). Chưa biết chừng rồi một thời gian sau, khi biển êm sóng lặng, ông này sẽ lại leo lên chức vụ cao hơn như ông Thứ trưởng Lê Dương Quang cũng của Bộ Công thương.
Nguyễn Trung Dân, Nguyễn Thanh Hưng, ai bảo vệ quyền lợi của đất nước, ai nói lên tình cảm của người dân với biển đảo quê hương, và ai giúp cho TQ phóng to cái loa của họ về cái gọi là chủ quyền của họ đối với phần lớn Biển Đông, chuyện đã rõ. Nguyễn Trung Dân thì đã bị “xử lý” rồi. Còn việc ông Nguyễn Thanh Hưng và những người có trách nhiệm khác về vụ trang web đi ngược lại quyền lợi đất nước có bị xử lý hay không sẽ là phép thử về thái độ của bộ máy nhà nước đối với việc bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia.
Nhưng mà rất lo, như phân tích của nhà văn Bảo Ninh trong “Đọc Ma Chiến hữu” : “Hồi đó chẳng hiểu thế nào mà tôi lại dự vào cái vinh dự chấm kịch bản phim phục vụ lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long. Đạo diễn Hải Ninh ưu ái bảo tôi dự vào, trong khi có vẻ như chính bản thân ông lại không hề muốn can dự vì biết trước và biết quá rõ rằng nó sẽ lình xình đủ chuyện. Quả nhiên. Kịch bản Hội Thề của nhà văn Nguyễn Quang Thân xuất sắc nhất, tất cả những người dự chấm đều nhất trí như thế. Có nghĩa là Hội Thề sẽ thành phim để chiếu vào đại lễ năm 2010 ? Tôi tưởng điều ấy là dĩ nhiên, cuộc thi không phải là đã được mở ra nhằm mục đích đó hay sao? Khi nhất định muốn biết vì sao lại không như vậy thì tôi được một người trong ngành văn hoá cho biết rằng, có nhiều lý do lắm ạ, mà lý do thấy rõ nhất là "tính nhậy cảm". Hội Thề, tuy là hội thề để đem lại hoà bình, nhưng vẫn liên quan đến đại thắng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, mà như thế thì... không có lợi.”