Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

CHẲNG CÒN GÌ THIÊNG ?


Phiên tòa xử vụ “rút ruột” tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ (gọi một cách vắn tắt) đã phải tạm ngưng để điều tra, làm rõ thêm những số liệu chưa thống nhất về mức độ bị “rút ruột”, những cáo buộc đưa và nhận hối lộ,v.v… Bản án vẫn chưa được tuyên. Tuy nhiên, với những gì mà các bị cáo đã khai tại phiên tòa, và với hiện trạng tượng đài đang bị vây bọc giữa lô nhô giàn giáo để dậm vá, sửa chữa sau gần 6 năm khánh thành, một người bình thường không thể không đặt câu hỏi: Vì sao điều ấy (việc rút ruột) lại có thể xảy ra với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, một chiến thắng được xem là “chấn động địa cầu”, kết quả của cuộc kháng chiến cam go và đầy hy sinh của toàn dân tộc? Phải chăng, với những người trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới việc “rút ruột” này, lịch sử chẳng là cái gì, và chẳng có cái gì là thiêng liêng cả? Bởi, với một người bình thường, “ăn” vào lịch sử, “ăn” cả vào những cái được coi là thiêng liêng, chỉ nghĩ đến thôi đã phải rụt tay lại. Vậy nhưng vẫn có người “ăn” được. Phải chăng hiện tượng “ăn được chỗ nào là ăn” đã phổ biến đến mức, ngay cả với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, người ta cũng không chừa?
Mà họ, những người toa rập với nhau để “rút ruột” tượng đài, nào phải đâu là những công dân bình thường? Họ là những người có vai vế, có địa vị xã hội, có học thức, là phó giám đốc sở văn hóa thông tin, phó giáo sư, tiến sĩ, giám đốc công ty mỹ thuật… Tức những người thường rao giảng về cái đẹp và lẽ ra phải bảo vệ cái đẹp; hiểu biết lịch sử và lẽ ra phải góp phần tôn vinh lịch sử, chí ít cũng phải hiểu được đâu là cái thiêng liêng không thể tơ hào, không thể xâm phạm.
Nhân vụ án này, nhiều người đã nói đến chuyện niềm tin. Phải, nhớ lại 6 năm trước, khi tượng đúc xong và được vận chuyển về Điện Biên vào kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, báo chí đã tường thuật háo hức như thế nào, công chúng đã quan tâm theo dõi như thế nào để rồi sau đó ít lâu mới hay niềm tin của mình đã bị “rút ruột” như thế nào. Quả thật, đây là một đòn đánh vào niềm tin của người dân vào những giá trị thiêng liêng, cao đẹp. Ở đây, chuyện ăn gian chính xác bao nhiêu tấn đồng không quan trọng bằng chuyện niềm tin bị đánh cắp. Mà khi niềm tin bị đánh cắp, khi người ta -  nhất là người trẻ - cảm thấy không còn tin được nữa, kể cả vào những cái vốn được coi là thiêng liêng, thì hậu quả xã hội sẽ khôn lường. Những điều thiêng liêng khác, chẳng hạn như mạng sống con người, cũng sẽ bị coi rẻ. Việc người ta lấy mạng nhau chỉ vì một va quẹt nhỏ trên đường, việc học sinh đâm chết bạn trong lớp chỉ vì một xích mích nhỏ - những sự việc như thế xảy ra ngày càng nhiều - phải chăng phản ánh sự chới với, mất niềm tin đó?
Và điều nghịch lý là, trong khi có những cái cần giải thiêng để con người sống theo lý tính hơn là chỉ theo cảm tính và niềm tin mù quáng, thì không được giải thiêng; ngược lại, có những điều thiêng liêng cần gìn giữ, bảo vệ thì có người, lẽ ra phải góp phần gìn giữ, bảo vệ lại chẳng coi ra gì và tìm cách “ăn” cả vào đấy. Trách sao ta không tránh khỏi phải chứng kiến những đảo lộn đau lòng.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Từ vụ bản đồ của NGS và Google …

Vụ Hội Địa lý Quốc gia Hoa kỳ (NGS) và cả Google đưa lên mạng internet những bản đồ thông tin sai lạc về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam - giống như một số vụ tương tự trước đây, cũng do chính các công dân chứ không phải các cơ quan chức năng của nhà nước phát hiện ra - một lần nữa cho thấy sự yếu kém và sự trì trệ trong thông tin đối ngoại, đặc biệt liên quan tới chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Bởi đây không phải là vụ duy nhất, cũng không phải mới. Ngay từ năm 2006, Cục Bản đồ Quốc gia Trung Quốc đã đưa lên mạng internet và cho phép công chúng tải miễn phí các bản đồ được gọi là "đúng đắn về mặt chính trị", trong đó ghi các quần đảo Hoàng sa và Trường sa là thuộc Trung Quốc, và người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khi ấy, ông Lê Dũng đã được phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước vấn đề này (VnMedia 13-7-2006). Ấy thế mà việc làm đó của phía Trung Quốc vẫn không đánh thức được các cơ quan liên quan của Việt Nam nhằm cung cấp những bản đồ trực tuyến về Việt Nam cho mọi người quan tâm trên thế giới.

Thực tế cho đến nay, rảo qua các bản đồ Việt Nam trên mạng, trong khi Googlemaps (tuy có sai lạc như đã nói) và một số trang web của công ty tư nhân như Vietbando khá phổ biến và thân thiện với người dùng thì bản đồ trên trang web của các cơ quan nhà nước trực tiếp liên quan, từ Cục Đo đạc – Bản đồ đến nhà xuất bản Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên – môi trường, phải nói là đáng thất vọng. Ngoài sự nghèo nàn về nội dung, khó truy cập và không thân thiện với người dùng, còn không có bản đồ ghi chú bằng tiếng Anh. Những thông tin khác bằng tiếng Anh thì khá nhiều lỗi. Trách sao không có những vụ như vụ bản đồ của NGS và Google!

Bộ Ngoại giao Viêt Nam và Hội Địa lý Việt Nam đã lên tiếng phản đối và yêu cầu NGS và Google đính chính. Đã có những kiến nghị thu thập chữ ký trên mạng để gửi tới NGS, yêu cầu sửa sai. Nhưng, nói như ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường và là chủ tịch Hội Trằc địa – Bản đồ - Viễn thám Việt Nam trong cuộc trả lời phỏng vấn trang mạng Bee.net.vn, đừng chỉ biết phản đối. Quan trọng hơn là xem xét lại ta đã làm gì để cung cấp thông tin đúng đắn cho thế giới, là hành động. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, cổ nhân đã dạy.

Ngoài phát ngôn chính thức của Bộ Ngoại giao, ngoài việc trao đổi thông tin, tư liệu giữa các tổ chức, hội đoàn của Việt Nam với các tổ chức, hội đoàn nước ngoài có liên quan đến vấn đề này như ý kiến của ông Đặng Hùng Võ, theo chúng tôi, để tác động tới nhận thức của công chúng rộng rãi trên toàn cầu, cần nhanh chóng, tích cực đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại về chủ quyền lãnh thổ qua mạng internet. Các cơ quan chức năng của nhà nước, trước khi nghĩ đến việc bán các bản đồ như trang web của nxb Bản đồ, cần phổ biến miễn phí các loại bản đồ thông dụng, dễ truy cập về Việt Nam trên mạng internet, vì internet vẫn là công cụ tìm kiếm nhanh nhất, tiện dụng nhất và phổ biến rộng rãi nhất trên toàn thế giới. Cần xem đây là một nội dung cực kỳ quan trọng trong kế hoạch xây dựng chính phủ điện tử, một công cụ lợi hại nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Và không chỉ có thế, những bản đồ thông dụng như về địa hình, hành chính, mạng lưới giao thông, các điểm du lịch, danh thắng … còn là một cách quảng bá thông tin về Việt Nam và thu hút du khách nước ngoài. Và tất nhiên, muốn đưa thông tin đúng đắn về Việt Nam đến với thế giới, bên cạnh các bản đồ bằng tiếng Việt, nhất thiết phải có những bản đồ ghi chú bằng tiếng Anh là thứ tiếng thông dụng nhất hiện nay trên thế giới.

Hội nhập với thế giới là hợp tác và đấu tranh hàng ngày hàng giờ để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Liệu lần này vụ bản đồ của NGS và Google có đủ sức lay tỉnh các cơ quan nhà nước có liên quan?

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

NHỮNG ĐÔI MẮT ẤN

Từ đường phố thủ đô Delhi đến Agra, thành phố du lịch xinh xắn với pháo đài Đỏ và đền Taj Mahal nổi tiếng; từ đoạn sông Hằng ở Varanasi (Ba La Nại hay Benares theo phương Tây), nơi mà người ta thiêu xác người chết trên bờ và tắm mình trong dòng nước thiêng ngay cạnh đấy, đến Kushinagar (Câu Thi Na), nơi Phật nhập niết bàn; từ con đường dẫn lên đỉnh núi Linh Thứu, nơi Phật giảng Diệu pháp liên hoa kinh, đến Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), nơi Phật thành đạo; rồi Rajgir (thành Vương Xá cũ) và Sravasti (thành Xá Vệ cũ ), những địa danh phần lớn gắn liền với cuộc đời hành đạo và truyền bá đạo pháp của Đức Phật hơn 2500 năm trước, đâu đâu tôi cũng bắt gặp những đôi mắt ấy. Những đôi mắt ấy lúc nào cũng vây lấy tôi, ám ảnh tôi trong suốt hành trình từ Delhi qua hai bang Bắc Ấn là Uttar Pradesh và Bihar đến Lumbini (Lâm Tỳ Ny), nơi Phật ra đời, nay thuộc đất Nepal.

Những đôi mắt to, đen nằm ẩn trong những hốc mắt sâu, gợi lên cho tôi, người lần đầu tiên tiếp xúc với con người và đất nước Ấn Độ, cả một trời bí ẩn, hơn thế, còn là huyền bí, đôi khi thần bí nơi những người mà theo cách ăn mặc và dáng vẻ bên ngoài tôi đoán là những đạo sĩ. Những đạo sĩ mà tôi đã gặp trên bến sông Hằng buổi sáng tờ mờ sương, lúc người ta bắt đầu đổ đến đây để đón bình minh trên sông Hằng, hay vị đạo sĩ mà tôi thấy ngồi ung dung tự tại trên chiếc ghế đá bên đường lên đỉnh Linh Thứu. Những đôi mắt khiến người ta liên tưởng đến đôi mắt Tagore và những vần thơ thâm trầm, minh triết của ông. “Cõi đời ơi, khi tôi đã chết rồi/ thì trong cõi vắng lặng của ngươi/ chỉ một lời này còn lại:/ "Tôi đã từng yêu" (Những con chim bay lạc, Bài số 277) và: “Rằng tôi tin ở tình yêu của con Người / Đó là lời nói cuối cùng của tôi.” (Những con chim bay lạc, Bài 325 - - Đào Xuân Quý dịch)


                  Đôi mắt của cô bé bán đèn, hoa cho khách đi thuyền trên sông Hằng
Nhưng, cũng những đôi mắt to, đen, ám ảnh như nhau ấy, dường như mỗi đôi mắt lại nói với tôi một điều khác nhau, kể cho tôi một câu chuyện khác nhau. Này là đôi mắt linh lợi của em bé gái nhào lộn làm xiếc bên ngoài một nhà hàng ở Delhi để xin khách mấy rupee hay cô bé bán hoa và đèn cho du khách đi thuyền mua thả xuống sông Hằng trong tiếng rì rầm cầu nguyện trong khi chờ ngắm mặt trời mọc đỏ rực trên sông. Này là đôi mắt cầu khẩn của bé gái ăn xin đứng ngoài hàng rào khách sạn ở Kushinagar, vừa nhìn đăm đăm vào trong sân khách sạn vừa vỗ trống và miệng hát “Thích Ca Mâu Ni Phật” bằng tiếng Ấn với cái giọng mà tôi không thể nào quên: một chút khàn nhưng sâu, da diết. Này là đôi mắt trông khá tinh anh của một phụ nữ ăn xin còn trẻ, với đứa con nhỏ và cái đàn đặt dưới đất, hát một bài hát mà tôi không rõ nghĩa, bên ngoài di tích Kỳ viên tịnh xá ở Sravasti. Này là những đôi mắt âm u, nhẫn nhục và những bàn tay khô đen chìa ra xin bố thí của những phụ nữ lớn tuổi và những bé gái gầy guộc ngồi dọc bên đường dẫn lên đỉnh núi Linh Thứu. Và này là cặp mắt to, đen, ngời sáng của một chàng rể mà đám cưới được tổ chức linh đình, sang trọng với cả một đám rước và những đợt bắn pháo hoa ngoài đường trước khi tiến vào trong một khách sạn ở Varanasi mà nghe nói gia đình cô dâu chú rể đã bao hết tất cả các phòng, trừ mấy phòng của đoàn chúng tôi; cho khách dự đám cưới ở qua đêm. Và này nữa, cặp mắt vừa ngời sáng vừa sâu kín của những phụ nữ dáng vẻ thượng lưu, đài các mà tôi đã gặp ở pháo đài Đỏ, ở đền Taj Mahal – những cặp mắt và dáng dấp làm tôi nhớ đến tượng nữ thần Lakshmi tuyệt mỹ trong đền thờ Ấn giáo Lakshmi - Narayan ở Delhi mà tôi đã đến thăm vào một buổi chiều, hay những tượng thần và nữ thần tuyệt đẹp khác trong bảo tàng quốc gia Ấn Độ ở New Delhi, bảo tàng khảo cổ học ở Sarnath (Lộc Uyển). Đôi mắt của Mumtaz Mahal, hoàng hậu yêu dấu của vua Shah Jehan mà vì nàng ông đã cho xây dựng nên bài thơ kiến trúc mang tên nàng, liệu có thể đẹp hơn, hút hồn hôn những đôi mắt tôi vừa thấy không? Có thể, nếu không chưa chắc đã có Taj Mahal…


         Đôi mắt của bé gái ăn xin với chiếc trống bên ngoài một khách sạn ở Kushinagar

Nhưng phải, những đôi mắt thoạt nhìn vẻ ngoài giống nhau ấy hẳn là có số phận khác nhau, tuỳ vào đẳng cấp của họ trong xã hội Ấn. Cũng giống như vào buổi chiếu trời sắp tắt nắng ấy, khi đoàn du khách chúng tôi vừa rời đền Lakshmi-Narayan ở Delhi, bỏ lại sau lưng ngôi đền tráng lệ với tượng nữ thần kiều diễm và những trai thanh gái lịch đến thăm đền để cầu xin hạnh phúc, thì một thanh niên ăn xin đuổi theo chúng tôi từ bên này đường sang phía bên kia đường, qua hầm chui có bậc thang lên xuống khá dốc, nhưng không phải trên đôi chân mà bò dưới đất, rất nhanh, bằng cả đôi chân tàn tật và hai tay, cho đến khi anh được người ta bố thí. Cảnh tượng làm ta xốn xang không chịu đựng nổi.



                             Đôi mắt của một thiếu phụ đài các trong Pháo đài Đỏ

Và đó là sự tương phản, sự đối nghịch không che giấu trong xã hội Ấn. Ở đó, bên cạnh những đền đài tráng lệ, nguy nga khiến người ta sững sờ như Taj Mahal hay pháo đài Đỏ, như những công trình hiện đại và sang trọng khác; hoặc bên ngoài những di tích lịch sử, tôn giáo được gìn giữ, chăm sóc rất sạch sẽ, tươm tất, cẩn thận như di tích Nalanda, đại học đầu tiên của Phật giáo hay cột đá vua Asoka (A Dục) ở Vaishaly (Tỳ Xá Ly) … là những cảnh tượng khốn khổ và dơ bẩn cũng phô bày ra đấy. Như cảnh tượng và mùi xú uế nồng nặc mà tôi đã trải qua ở ga Delhi, ga Varanasi hay ga Lucknow, thủ phủ bang Uttar Pradesh.

Lẽ đương nhiên, sự cách biệt giữa sang trọng và nghèo hèn, xa hoa và khốn khổ, dư dật và thiếu đói ở đâu chẳng có. Nhưng ở đây, sự cách biệt, tương phản xã hội phơi bày ra lồ lộ, vậy mà dường như nó không dẫn đến sự đối đầu gay gắt, đến thù hận và bạo lực một còn một mất. Bạo lực và thù hận có đấy, nhưng là giữa những ông vua ham chinh phạt hay là trong những âm mưu lật đổ cung đình ngay cả giữa con và cha của những vương triều xa xưa trong quá khứ, như chuyện của A Xà Thế và vua cha Tần Bà Sa La, Aurangzeb và vua cha Shah Jahan. Hoặc là giữa các sắc tộc và các lực lượng tôn giáo quá khích trong cái tiểu lục địa bao la này. Nhưng dường như với sự cách biệt giũa các đẳng cấp trong xã hội Ấn, người ta nếu không vui vẻ thì cũng đành lòng nhận lấy kiếp phận của mình, và tìm kiếm con đường giải thoát riêng khỏi kiếp trầm luân, nếu cái nghiệp của mình là thế. Phải chăng vì vậy mà Ấn Độ là mảnh đất khởi nguồn của nhiều tôn giáo? Cái bể khổ của kiếp người, không chỉ do sinh bệnh lão tử mà còn do kiếp phận xã hội và dục vọng con người mang lại, chắc thời nào cũng thế, có lẽ chỉ khác ở quy mô và cách thức biểu hiện. Cái bể khổ mà Thái tử Tất Đạt Đa hơn 2500 năm trước đã nhận ra bên ngoài cung thành Ca Tỳ La Vệ, ngày nay vẫn bày nhan nhản ra đó trước mắt chúng ta. Và chắc sẽ còn như thế không biết đến bao giờ. Và con người sẽ vẫn cứ mãi đi tìm con đường giải thoát.

                              Cô gái da trắng giữa màn hương khói ở Lâm Tỳ Ny

Những đôi mắt ám ảnh mà tôi đã gặp, kể cả của cô gái trẻ da trắng mà tôi đã gặp giữa một màn hương khói tại Lâm Tỳ Ny, đã tìm ra con đường giải thoát của mình chưa? Những khách hành hương từ nhiều quốc gia đến nườm nượp ở Bồ Đề Đạo Tràng, ở Lộc Uyển, ở núi Linh Thứu, ở Lâm Tỳ Ny đã tìm ra con đường giải thoát của mình chưa? Còn tôi, kẻ không biết gì về Phật và không mong được “thấy Phật” (*) mà chỉ mong có thêm tí hiểu biết, tôi bỗng nhận ra, sau tất cả những “âm thanh và cuồng nộ” (**) xã hội và lịch sử, con người sẽ lại phải quay trở lại đối diện với chính mình và với… Trời xanh.





(*) Tựa một cuốn sách của Cao Huy Thuần

(**) Tựa một tiểu thuyết của William Faulkner.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

HAI HÌNH ẢNH, MỘT NGÀY

Buổi trưa, về nhà. Vừa đẩy chiếc xe gắn máy qua cửa tôi đã nghe tiếng cô người làm vừa nói chuyện với ai đó qua điện thoại vừa khóc tấm tức, giọng như sắp vỡ oà. Tôi không dám hỏi cô có chuyện gì, sợ làm cô đau thêm. Khi cô đã nguôi, hỏi ra mới biết, ở dưới quê, bên nhà chồng cô đang tìm cách chiếm đoạt miếng đất mà vợ chồng cô dành dụm bao năm trời mới có được và bây giờ, trên đó, có mộ chồng cô. Quê ở miền Tây, lấy chồng miền Đông, chồng chết vì tai nạn giao thông, chưa tới tuổi 30 mà một nách ba con, cô bị nhà chồng đuổi ra khỏi nhà (trước đó vợ chồng cô ở chung với bên nhà chồng). Lang thang kiếm sống khắp nơi, cuối cùng cô phải gửi một đứa con cho ngoại, một đứa gửi bà xơ, đứa út mới ba tuổi theo cô lên Sài Gòn ở chung với cô ở nhà tôi.
Vậy mà giờ chút của cải duy nhất còn lại là miếng đất nhỏ kề bên đất nhà chồng cũng toan bị chiếm đoạt. Tôi nghĩ Trời sao quá bất công, đời sao quá bất công và con người sao có thể ác với nhau như vậy, vì ba đứa con của cô cũng là máu mủ bên nhà chồng, đã không cưu mang giúp đỡ thì thôi, sao có thể làm ác như vậy?

Buổi chiều. Vì là một ngày nghỉ lễ cuối năm, tính mời một số bạn bè tới nhà chơi, tôi chạy xe gắn máy ra một cửa hàng thực phẩm mua ít đồ về lai rai. Mua xong, chạy xe được một đoạn, đồ đạc lỉnh kỉnh khiến tôi bị té, đồ đạc vừa mua văng xuống đường. Đang lồm cồm bò dậy dựng xe lên bỗng thấy trước mặt một cặp thanh niên nam nữ dừng xe lại. Trong khi chàng thanh niên còn đang dựng xe lên thì cô gái ngồi phía sau đã vội xuồng xe, chạy đến chỗ tôi, hỏi: “Có sao không chú?” và cúi xuống tính giúp tôi dựng xe lên. Tôi bảo “không sao” và cám ơn cô gái. Cô gái trẻ, mặt mày sáng sủa, ưa nhìn, mỉm cười rồi quay lại xe của cô. Chàng trai rồ ga, chạy tiếp. Tôi bỗng cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi xấu hổ. Chẳng là lâu nay, qua những gì tôi chứng kiến, qua thông tin hàng ngày trên báo chí, tôi vẫn nghĩ thanh niên bây giờ là “đồ bỏ đi” hết. Việc làm của chàng trai và cô gái đã làm cho tôi thấy mình nghĩ oan cho họ và thấy xấu hổ về ý nghĩ của chính mình.
Vậy đó, cùng trong một ngày, hai sự kiện, hai hình ảnh đến với tôi, cái đầu làm tôi thấy bầu trời chỉ một màu xám xịt, cái sau làm tôi thấy bầu trời bỗng sáng tươi. Cái nào đúng? Đâu là sự thật?

Cuối cùng thì tôi đi đến kết luận (chỉ cho riêng mình): cả hai đều đúng, cả hai đều thật. Chuyện anh em trong nhà vì tranh giành miếng đất mà từ nhau, giết nhau là chuyện có thật và có thể đọc thấy nhan nhản trên báo. Chuyện một cô bé giúp việc chưa qua tuổi thành niên giết người nhà của chủ nhà để cướp tiền, vàng và mới bị xử 18 năm cũng là chuyện có thật. Chuyện những trai thanh gái lịch vặt hoa, cướp hoa trong lễ hội hoa anh đào và lễ hội hoa Hà Nội năm kia cũng là chuyện có thật. Nhưng mà, chuyện đôi trai gái tôi gặp chiều nay khi tôi bị té xe cũng là chuyện có thật đấy thôi. Và nhiều chuyện khác nữa…

Có lẽ chúng ta đang sống trong một thời mà cái tốt, cái xấu đan xen nhau đến khó phân biệt rạch ròi. Và cái xấu nhiều khi dường như lấn lướt. Nhiều khi ta mất niềm tin, nhất là khi ta nhìn vào những người lẽ ra phải mang lại cho ta niềm tin hơn ai hết, những người có ảnh hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của xã hội, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần. Nhưng thôi, dù sao đôi trai gái kia cũng đã mang lại cho tôi chút niềm tin, niềm hy vọng. Tôi hy vọng, tôi tin, không, tôi muốn tin, rằng họ sẽ đi tiếp, mãi mãi, trên con đường thiên lương của họ. Nhưng ai biết được? Xã hội có giúp họ? Những người hơn ai hết lẽ ra phải mang lại niềm tin, có giúp họ?

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Ghi ở Lumbini


Ngày 27-11-2009, trong chuyến đi Ấn Độ- Nepal, tôi đến thăm đền Maya Devi (ảnh 1), nằm trong khu vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni) ở Nepal, mà theo sử sách là nơi Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời cách nay 2553 năm. Bên ngoài ngôi đền, các tín đồ Phật giáo Tây Tạng giăng đầy cờ trên có in các bài kinh. Khách hành hương và du lịch đông kìn kịt. Dưới cội cây bồ đề, một nhà sư đang ngồi tham thiền nhập định (ảnh 2). Bên trong đền, giữa bệ gạch với chiếc cầu cạn để tín đồ tới viếng là nơi được tin là chỗ mà hoàng hậu Maya hạ sanh thái tử Tất Đạt Đa (hình 3). Cây vô ưu mà hoàng hậu níu lấy lúc sắp hạ sanh thái tử nay không thấy nữa.
Bên ngoài, giữa dòng người tiến về phía cửa đền, một cô gái trẻ người Âu, chân trần, tay cầm đôi giày, vừa đi vừa nhún nhảy phơi phới, nhẹ nhàng như vừa tự giải thoát khỏi chốn trầm luân. Đến bên cột đá của vua Asokha (A Dục) cạnh ngôi đền, cô quỳ xuống, đốt hương. Giữa bốn bề hương khói  cô gái trông thật thanh thoát. Tôi bấm máy ghi lại hình ảnh này mà lòng cũng thấy vui vui, nhẹ nhàng.