Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2008

Báo chí được “chăm sóc” kỹ

Chưa bao giờ báo chí được “chăm sóc” kỹ như năm nay, mặc dù (hay chính vì?) có hai nhà báo đang phải ngồi tù vì vụ PMU 18. Từ bộ trưởng chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ đến Phó thủ tường Nguyễn Sinh Hùng trong cuộc gặp mặt lãnh đạo các cơ quan báo chí, Thủ tướng trong cuộc gặp ban biên tập Cổng thông tin điện tử Chính phủ, qua bí thư Thành ủy TPHCM khi đến thăm và chúc mừng báo SGGP và cuối cùng là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong buổi trao giải báo chí quốc gia…tất cả đều, nhân “ngày báo chí cách mạng Việt Nam”, vừa chúc mừng các nhà báo vừa “nhắc nhở” họ nhiều điều. Đó là chưa kể cuộc gặp trước đó của thường trực ban bí thư TTS với Hội nhà báo Việt Nam.
Tin tức, tường thuật về các sự kiện nói trên thì dài, ở đây chỉ cố gắng lượm lặt ra một số thông tin cụ thể và đáng chú ý :
- Hóa ra các thế lực thù địch vẫn đang âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với VN, và các nhà báo hãy coi chừng, chớ mà tiếp tay cho âm mưu ấy! Bây giờ viết gì cũng phải ngó trước ngó sau, ngó lên ngó xuống đấy!
- Hóa ra bây giờ mới biết một số cơ quan báo chí đã được chọn làm lực lượng chủ lực trên mặt trận tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và trên mặt trận đấu tranh chống các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Không biết rồi đây người dân sẽ đọc báo gì, chủ lực hay không chủ lực đây?
- Hóa ra Bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ là người phát ngôn của Chính phủ. Vậy mà lâu nay, hình như không ai nhớ điều này nên gặp sự kiện gì lớn có liên quan đến họat động của chính phủ các nhà báo không biết bám lấy ông mà hỏi.
- Trong cuộc gặp của PTT NSH và lãnh đạo một số bộ ngành với lãnh đạo báo chí, PTT yêu cầu báo chí phải “tạo niềm tin, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và định hướng dư luận”. Cũng tại cuộc gặp này, ông Đỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ TTTT lại “đề nghị Chính phủ có hình thức nhắc nhở một số bộ, ngành chưa tiến hành họp báo định kỳ và cung cấp thông tin cho báo chí, đồng thời chỉ đạo phải cung cấp thông tin định kỳ hoặc trong trường hợp có những vấn đề bức xúc, phải cung cấp các thông tin đột xuất” (Vietnamnet). Còn ông Cao Viết Sinh, thứ trưởng bộ KHĐT thì “dẫn lại khuyến cáo của các tổ chức quốc tế: "Yêu cầu Chính phủ thông tin cho dân chúng nhiều hơn để tạo niềm tin". Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng vào Chính phủ nhiều hơn so với niềm tin của doanh nghiệp và người dân trong nước” (Vietnamnet). Nếu thông tin của hai ông thứ trưởng là đúng, chính xác thì báo chí làm sao có thể đáp ứng yêu cầu của ông PTT được nhỉ? Không có thông tin, làm sao “tạo niềm tin, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và định hướng dư luận” ? Và nữa, vì sao các nhà đầu tư nước ngoài lại tin tưởng vào Chính phủ nhiều hơn so với niềm tin của doanh nghiệp và người dân trong nước? Phải chăng vì họ được thông tin đầy đủ hơn còn doanh nghiệp và người dân trong nước thì không đáng được như vậy?
- Đồng chí Lê Thanh Hài khẳng định, “thời gian qua, báo SGGP đã có nhiều cố gắng trong việc giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo, không ngừng cải tiến chất lượng thông tin và chuyển tải nhanh nhất, chính xác nhất thông tin đến với bạn đọc gần xa trong cả nước”. Có một “thắc mắc biết hỏi ai”: thế còn việc đưa tin về sự qua đời của đ/c Võ Văn Kiệt thì sao nhỉ? Có "nhanh nhất, chính xác nhất" không?
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ đưa tin về việc Thủ tướng làm việc với BBT công thông tin, giật tít: “Nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác cho nhân dân”. Lại đụng phải cái ngắc ngứ ở điểm 4 và điểm 5 trên kia. Ngoài ra, trên cổng thông tin còn có bài “Nghề báo cần “Mắt sáng, lòng trong, bút sắc” của tác giả Mai Hồng, dẫn phát biểu của nhiều nhà báo, tổng biên tập, mà người đọc không sao biết được là được thực hiện khi nào, trong hoàn cảnh nào, trong một cuộc tọa đàm hay qua phỏng vấn ? Thông tin như vậy có thể coi là “đầy đủ, chính xác” ?

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2008

“ĐỔI MỚI TỪ BÊN TRONG”

Nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn lớn mà biểu hiện là lạm phát cao; thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại lớn; thị trường chứng khoán tuột dốc và thị trường địa ốc đóng băng; thị trường tài chính, thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng có nhiều biến động …

Nguyên nhân khách quan và chủ quan, nguyên nhân trực tiếp và sâu xa đã được nêu ra, phân tích. Trong đó, đáng chú ý là những nguyên nhân chủ quan, sâu xa mà kết luận của Bộ Chính trị ngày 5-4 đã chỉ ra như : Những yếu kém vốn có của nền kinh tế đã dồn tích từ nhiều năm nhưng chậm được xử lý, khắc phục. Cơ cấu kinh tế chậm cải thiện.Tình trạng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước vẫn còn dàn trải, không đảm bảo tiến độ, còn nhiều thất thoát, hiệu quả thấp... chậm được khắc phục. Tỉ lệ chi đầu tư từ khu vực nhà nước (ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước) lớn, nhưng hiệu quả thấp. Chủ trương thí điểm thành lập tập đoàn đa ngành chưa được nhận thức thống nhất để thực hiện tốt. Một số tập đoàn đã đầu tư rộng sang nhiều ngành, nghề, lĩnh vực không thuộc chuyên ngành, thế mạnh của mình, nhất là vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bất động sản, chứng khoán... Những hoạt động đầu tư này đã gây khó khăn cho quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tập đoàn, khó khăn cho ngân hàng nhà nước trong quản lý lưu thông tiền tệ…

Những nguyên nhân sâu xa ấy đòi hỏi, bên cạnh những biện pháp chống lạm phát trước mắt, phải tiến hành những cải cách về cơ cấu nếu muốn sớm thoát ra khỏi tình hình hiện nay. Nói cách khác, như TBKTSG từng nhiều lần đề cập, đây là dịp để tiến hành những cải cách từ bên trong cơ cấu kinh tế (đặc biệt là tình trạng nguồn lực quốc gia tập trung trong tay một số đối tượng sử dụng kém hiệu quả) và cả bộ máy, cơ chế quản lý nhà nước gắn liền với cơ cấu ấy.

Cách nay hơn một năm, vào tháng 2-2007, ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, giữa không khí lạc quan bốn bề lúc ấy, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người từng chủ trương thành lập các tập đoàn kinh tế kiểu chaebol của Hàn Quốc nhưng cũng chính ông sau này, nhìn thẳng vào thực tế, đã cảnh báo: “Cần thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế” (TBKTSG 26-7-2007), trong một bài trả lời phỏng vấn của Tạp chí Cộng sản từng nói: “…trở thành thành viên WTO không có nghĩa là chúng ta đã ở đích đến cuối cùng mà thực chất chỉ là bắt đầu một hành trình mới. Hành trình, với nhiều cơ hội và không ít thách thức. Đó là những thách thức từ bên trong và của chính mình. Những điều kiện từ bên ngoài là rất quan trọng, nhưng thực tế hơn 20 năm qua cho thấy, chính sự đổi mới từ bên trong mới là yếu tố quyết định để gặt hái những thành công…. Chúng ta không thể nào thắng trong cuộc cạnh tranh toàn cầu khi mà ngay từ sân nhà các doanh nghiệp của chúng ta tiếp tục phải chi phí cho sự cồng kềnh, kém hiệu quả của bộ máy nhà nước và tiếp tục bị hạch sách bởi tham nhũng.”

Những khó khăn hiện nay phải chăng chính là sự lặp lại lời cảnh báo đó, và giờ là lúc, không thể chậm trễ hơn, thực sự bắt tay vào nhiệm vụ khó khăn “đổi mới từ bên trong” ấy?

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2008

Quanh cái chết của ông Kiệt

Chung quanh cái chết của ông Kiệt có mấy điểm chưa ai nói tới, mặc dù tôi nghĩ có thể nhiều người cũng đã nghĩ tới.
1/ Báo chí trong nước, nói cho đúng phải gọi là báo chí quốc gia, đã bị bêu riếu, bị hạ knock-out trước báo chí bên ngoài do cái chỉ đạo không thể nào hiểu nổi là không được đưa tin, dù chỉ là đưa sự kiện, không đánh giá, không bình luận, về cái chết của ông Kiệt. Trong suốt 36 giờ từ khi tin về ông Kiệt chết xuất hiện đến khi truyền thông nhà nước được phép đưa tin thì những người có đọc internet đều biết là các hãng tin nước ngoài đã đưa cả. Thậm chí người ta cũng biết là Tổng thư ký LHQ, Bộ Ngoại giao Mỹ, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã gửi điện chia buồn với lãnh đạo Việt Nam và gia đình cố Thủ tướng. Vậy mà báo chí Việt Nam bị buộc phải nín thinh trong suốt 36 tiếng đồng hồ đó. Trong 36 tiếng đó, đủ thứ tin đồn cũng đã xuất hiện, kể cả những tin đồn liên quan đến nguyên nhân cái chết của ông .
Việc cấm báo chí đưa tin kịp thời, dù chỉ là đưa sự kiện, chẳng khác nào khuyến khích người dân chạy theo tin đồn, tìm nghe các nguồn tin bên ngoài và hạ uy tín báo chí quốc gia trước mắt người dân. Sau này, hễ có sự kiện như thế người ta sẽ lại tìm nghe tin đồn, nghe các nguồn tin khác chứ đâu thèm nghe, thèm tin báo chí trong nước?
Mặt khác, khó thể chấp nhận chuyện "trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường". Nói sao với 85 triệu người dân Việt Nam khi bên ngoài người ta đã hay hết, biết hết chuyện xảy ra trong nhà mình mà mình thì mù tịt? Họp bàn, cân nhắc, đánh giá gì đó là chuyện của lãnh đạo, nhưng quyền được thông tin kịp thời về chuyện xảy ra trong nhà là quyền của 85 triệu người dân. 85 triệu người dân không thể bị "cầm tù" về mặt thông tin chỉ vì sự họp hành, cân nhắc của ai đó.
Thời buổi này là thời buổi nào, thế kỷ này là thế kỷ nào rồi mà người ta còn chỉ đạo thông tin theo kiểu như vậy ?
2/ Mục “Ý kiến chúng tôi” (xã luận) trên báo Nhân dân ngày 14-6-2008, bài: “Một chiến sĩ cách mạng trung kiên, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc chữa lại một chút thông cáo của BCH Trung ương về sự ra đi của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Thông cáo cuối ngày 12- 6 viết: “Ðồng chí mất đi là một tổn thất đối với Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta”.
Bài ý kiến ngày 14-6, tức 2 ngày sau, viết: “Ðồng chí Võ Văn Kiệt mất đi là một tổn thất lớn đối với Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta”.
Điếu văn đọc ngày 15-6 cũng cũng gọi đó là "một tổn thất lớn".
Phải chăng là một sự ngầm sửa sai ?
3/ Một vị cựu đai sứ Việt Nam gọi điện cho tôi, giọng bức xúc:"Anh đã đọc báo ND hôm nay chưa? Bài của ông DM viết về ông Kiệt kỳ quá!". Tôi tìm đọc bài ông DM viết về ông Kiệt trên số báo ND ra cùng ngày 14-6. Ngay cái tựa :”Nói về anh Võ Văn Kiệt” nghe đã thấy chói tai, đọc vào bài thì chỉ thấy khen ông Kiệt cho có lệ, bằng cái giọng hơi trịch thượng, còn lại là tự kể công, tranh công, rằng “tôi nhắc” anh Kiệt thế này, thế kia. Lại còn kể chuyện chống lạm phát cứ y như là ở làng vậy: khuyến khích người dân ra nước ngoài thì “na” hàng về, khuyến khích đi buôn vặt theo kiểu mấy anh đi Liên Xô, Đông Âu “na” quạt tai tượng, dây may so…về. Có những chủ trương ông Kiệt cũng ủng hộ thời ấy, như chuyện tạo điều kiện thuận lợi cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhưng rồi với thực tế và thời gian ông đã xét lại (bài :”Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế” của ông) thì ông DM vẫn còn bám lấy như là chân lý bất di bất dịch. Ông Kiệt tiến cùng với thời gian, còn với ông DM thì thời gian cứ tiến, cuộc sống cứ tiến, ông vẫn ở lại.
4/ Ông Kiệt có những câu nói được nhiều người nhớ :
- “Không ai chọn cửa mà sinh ra”
- “Có những sự kiện (như ngày 30-4), khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”
- "Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả".
Trưa 14-6, ở hội trường Thống Nhất, trong số những người đến viếng ông Kiệt người ta thấy có cả Nguyễn Cao Kỳ. Phải chăng vì ông Kiệt đã chìa bàn tay ra, đã tiến một bước, chân thành, vì vậy ông Kỳ cũng đã tiến một bước, đã đưa tay bắt ? Đâu phải ai chết đi cũng có thể khiến "kẻ thù" cũ cảm phục và đến chia buồn như ông?

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2008

Chẳng có gì là lạ!


Hơn 92% đại biểu Quốc hội đồng ý mở rộng địa giới hành chính Hà Nội. Đó là điều mà ai cũng có thể đoán trước được, dù trước đó không lâu nhiều giới, nhất là giới trí thức, giới chuyên gia kiến trúc và xây dựng đã mạnh mẽ lên tiếng tỏ ý không đồng tình; dù chính Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho là đề án quá sơ sài và nhiều vị đại biểu cũng lên tiếng tỏ ý không đồng tình.
Có gì khó hiểu đâu với cơ cấu Quốc hội Việt Nam, bởi đa số đại biểu đồng thời cũng là quan chức trung ương và địa phương, và tuyệt đại đa số là đảng viên. Ở Quốc hội có đảng đoàn Quốc hội, gặp vấn đề nào thấy khó thông qua, cứ họp đảng đoàn, ra chỉ thị cho đảng viên là xong. Anh là đại biểu nhưng là đảng viên hả? Đố dám bỏ phiếu chống khi người ta đã nói đó là chủ trương của Đảng. Đó là chưa nói những chỉ thị kiểu như thế này.

Vậy là từ 1/8/2008, cái cổng làng Mông Phụ thuộc xã Đường Lâm, tỉnh Hà Tây và cái nhà nghỉ chân ngoài đồng ngay trước cái cổng đó (xem ảnh, chụp năm 2007) sẽ thuộc thủ đô. Thủ đô hoành tráng nhé!

Chỉ có điều, không biết rồi những dự án đô thị mới, những cơn sốt chia lô phân nền có tràn về và xóa sổ làng cổ Đường Lâm hay không.

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2008

TỪ CÂU HỎI CỦA MỘT NÔNG DÂN

Ông Lê Văn Lam - nông dân tỉnh Đồng Tháp, người mới đây đã gửi thư cho Thủ tướng để kể về tình cảnh của người nông dân hiện nay - và những người nông dân khốn khó khác của Việt Nam hẳn sẽ chạnh lòng biết mấy nếu biết rằng vừa mới đây thôi Hạ nghị viện Mỹ đã thông qua dự luật trợ cấp nông nghiệp trị giá tới 290 tỉ đô la, bao gồm trợ cấp cho nông dân Mỹ và trợ giúp lương thực cho các hộ gia đình nghèo, mặc dù cũng có tiếng nói trong chính quyền cho rằng khoản trợ cấp này là quá đắt đỏ, còn người khác ngại rằng nó đi ngược lại quy định của WTO. Trong thư gửi Thủ tướng hôm 4-5, ông Lam, 57 tuổi, hơn 40 năm làm nghề nông, viết: “Người nông dân luôn phải lao đao về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khi thì đào ao nuôi cá, lúc thì bỏ ruộng trồng bắp nhưng hầu như không mang lại hiệu quả, cũng vì người nông dân thiếu kiến thức về thị trường cũng như kỹ thuật sản xuất…Giá cả vật tư nông nghiệp luôn tăng cao, tính từ năm 2007 thì giá phân bón đã tăng đến trên 200%. Chi phí sản xuất tăng là thêm một gánh nặng trên vai người nông dân. Chúng tôi mong Chính phủ quan tâm…”

Trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ sau đó, ông nói: “Ở quê tui, hầu hết nông dân đều mắc nợ ngân hàng. Hạt lúa chỉ giúp họ không đói chứ không làm họ hết nghèo. Hết vụ gặt, nông dân chen lấn nhau ở ngân hàng nông nghiệp để trả nợ. Trả xong nợ cũ lại vay mới để đầu tư làm vụ kế tiếp. Ở đây có đến 95% người dân vay ngân hàng để sản xuất theo kiểu ăn trước trả sau như thế… Tụi tui cực quen rồi, có gì mà than, nhưng có những điều bất công làm tui bức xúc lắm. Hiện nay giá gạo xuất khẩu 1.000 USD/tấn thì giá lúa chí ít cũng phải 8.000 đồng/kg, nhưng thực tế chỉ có 5.400 đồng/kg. Phần chênh lệch này đi vào túi ai?”

Câu hỏi của ông Lam chỉ là một trong nhiều vấn nạn về chính sách đối với nông dân và nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Nông dân vẫn là thành phần được thụ hưởng ít nhất thành quả của 20 năm đổi mới, của sự chuyển đổi qua kinh tế thị trường, và gặp nhiều khó khăn nhất trong làm ăn, mặc dù sự năng động của nông dân là điều ai cũng biết. Với Việt Nam, dù có muốn thì việc trợ cấp cho nông dân và nông nghiệp theo kiểu của Mỹ là điều bất khả, nhưng những chính sách hỗ trợ để nông dân có thể sống được với thị trường, làm chủ và khai thác được thị trường - như quy hoạch đất đai và cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn, chuyển giao công nghệ, thông tin thị trường, cung cấp tín dụng, hệ thống cung ứng vật tư, chính sách và hệ thống thu mua, tiêu thụ, chế biến nông sản có lợi nhất cho nông dân…, vì sao chúng ta không làm được?

Ngoài chuyện đầu cơ, cơn sốt giá gạo vừa qua về mặt nào đó cũng là lời cảnh báo về hậu quả khôn lường nếu không quan tâm đầy đủ đến nông dân và nông nghiệp. Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XII, vì vậy có nói: Cần tăng mạnh đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn để vừa bảo đảm đủ lương thực cho tiêu dùng, tăng thêm số lượng lương thực xuất khẩu, đồng thời cải thiện tốt hơn đời sống của người sản xuất lương thực. Một đề án về chiến lược phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, nông dân cũng đang được chuẩn bị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiển nhiên là con đường tất yếu phải đi để đất nước thoát khỏi đói nghèo, để dân giàu nước mạnh. Nhưng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một đất nước mà 70% dân số còn sống bằng nông nghiệp thì không thể bỏ mặc nông dân bươn chải, huống hồ nông dân đang nuôi sống cả nước và lại còn góp phần vào xuất khẩu (gạo, thủy sản). Mỗi thành quả phát triển, nông dân cũng phải được hưởng. Bằng không, đó sẽ là mầm mống của bất ổn xã hội, như những gì chúng ta chứng kiến qua những cuộc “khiếu kiện đông người” dai dẳng của nông dân nhiều tỉnh thành trong cả nước.