Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

Thủ tướng sửa lưng Phó thủ tướng!

Tuần rồi, ông Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, trả lời báo chí về vụ các hồ thuỷ điện miền Trung xả lũ đang khi có lũ lớn, gây thiệt hại nặng nề về sinh mạng và tài sản người dân ở hạ lưu, đã khiến dư luận, trong đó có các nhà khoa học, các chuyên gia thuỷ lợi, quan chức các địa phương liên quan, một phen thất vọng và phẫn nộ vì sự vô cảm trong giọng điệu và sự thiếu tinh thần trách nhiệm trước tính mạng, tài sản của dân của một quan chức cấp cao như ông. Nói chung, ông cho rằng các hồ thuỷ điện chẳng có tội gì cả, tất cả đều "đúng quy hoạch", vận hành đúng quy trình v.v... Có người nói, bởi trước khi lên làm phó thủ tướng ông từng phụ trách ngành điện mà! Nhưng hôm nay, Vietnamnet vừa đưa tin:

Thủ tướng yêu cầu rà soát quy hoạch thủy điện

Cập nhật lúc 20:10, Thứ Ba, 17/11/2009 (GMT+7)
Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương và các tỉnh rà soát lại quy hoạch thuỷ điện nhỏ, lập quy trình vận hành liên hồ chứa các lưu vực sông có nhà máy thủy điện.

Theo đó, Bộ TN&MT chỉ đạo Tổng cục Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, sở Tài nguyên và Môi trường tại các tỉnh có dự án thủy điện phải tăng cường kiểm tra, đảm bảo chủ đầu tư  dự án thủy điện thực hiện đúng quy định theo báo cáo tác động môi trường đã được phê duyệt.
Bộ Công Thương, UBND các tỉnh có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ xem xét, rà soát lại quy hoạch bậc thang thuỷ điện các dòng sông, quy hoạch phát triển thủy điện nhỏ, trong đó đánh giá tác động môi trường.
Tăng cường công tác quản lý kỹ thuật, quản lý môi trường các dự án thuỷ điện; phối hợp và hỗ trợ các chủ đầu tư tổ chức tốt công tác di dân, tái định cư, đảm bảo ổn định và phát triển lâu dài của các hộ dân bị ảnh hưởng do xây dựng các dự án thuỷ điện.
Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương khẩn trương lập quy trình vận hành liên hồ chứa các lưu vực sông.
Việc sau bão số 9 và số 11, các nhà máy thủy điện miền Trung (đặc biệt thủy điện A Vương) thi nhau xả lũ khiến tình hình lũ lụt thêm căng thẳng được tranh luận trong nhiều ngày qua nhưng chưa ngã ngũ.
Nhiều ĐBQH đã gửi chất vấn đến Thủ tướng và các bộ Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn để làm rõ các vấn đề liên quan đến quy hoạch thủy điện và quy trình vận hành liên hồ.

Vậy là ông Thủ tướng đã sửa lưng ông Phó thủ tướng. Chỉ đạo của Thủ tướng cũng đặt nặng vai trò của Bộ Tài nguyên Môi trường trong vấn đề này: "Bộ TN&MT chỉ đạo Tổng cục Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, sở Tài nguyên và Môi trường tại các tỉnh có dự án thủy điện phải tăng cường kiểm tra, đảm bảo chủ đầu tư  dự án thủy điện thực hiện đúng quy định theo báo cáo tác động môi trường đã được phê duyệt."
Mấy tuần trước, viết cho SGTT bài "Đừng để đắc tội với mai sau" (đăng lại trên blog này), mình cũng chẳng có ý gì khác hơn thế.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2009

Nghe như ở thời Trung cổ

BBC Vietnamese ngày 8/11/2009 đưa cái tin mà nội dung nghe như ta còn ở thời Trung cổ. (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/11/091107_somaliastonedeath.shtml)


Ngoại tình bị ném đá đến chết

Những người Hồi giáo cực đoan ở miền nam Somalia đã ném đá một người đàn ông vì tội ngoại tình nhưng tạm tha cho bạn gái đang mang thai với ông.
Abas Hussein Abdirahman, 33 tuổi, bị ném đá đến chết trước đám đông khoảng 300 người ở thị trấn cảng Merka.
Một viên chức của nhóm al-Shabab nói bạn gái của ông cũng sẽ bị ném đá sau khi sanh con.
Các nhóm Hồi giáo cực đoan kiểm soát phần lớn miền Nam Somalia, trong khi chính phủ được Liên Hiệp Quốc hậu thuẩn chỉ nắm quyền ở thủ đô.
Đây là lần thứ ba trong một năm qua những người Hồi giáo cực đoan áp dụng hình phạt ném đá đối với tội ngoại tình.
Quan chức của Al-Shabab, Sheikh Suldan Aala Mohamed nói ông Abdirahman đã nhận tội ngoại tình trước tòa án Hồi giáo.
Một nhân chứng kể lại cho BBC: "Ông ta la hét, máu từ đầu tuôn ra xối xả khi bị ném đá. Chừng bảy phút sau thì ông ta không còn cử động nữa.''
Phóng viên BBC ở thủ đô Mogadishu, Mohammed Olad Hassan nói nếu người bạn gái cũng bị ném đá chết thì đứa con sẽ được giao lại cho thân nhân nuôi.
Tổng thống Somalia, Sheikh Sharif Sheikh Ahmed lên án nhóm al-Shabab là làm ô uế hình ảnh của Hồi giáo khi giết người và hiếp đáp phụ nữ.

Tổng thống Sheikh Sharif Ahmed phản đối hình phạt ném đá
"Hành động của họ không phải là Hồi giáo," ông nói với một cử tọa trung dung tại buổi lễ tiến cử ủy ban hành chính mới cho thủ đô Mogadishu.
"Họ bắt phụ nữ phải mặc quần áo dày, họ nói để che đậy cơ thể cho kín đáo, nhưng chúng ta biết họ có động cơ kinh tế vì họ sản xuất loại áo quần đó và ép mọi người phải mua."
Năm ngoái một thiếu nữ 13 tuổi bị ném đá chết ở thị trấn Kismayo vì tội ngoại tình. Các tổ chức nhân quyền cáo buộc cô ta thực ra bị hãm hiếp.
Một người đàn ông khác cũng bị ném đá vì tội tương tự ở khu vực hạ Shabelle.
Tháng trước hai phụ nữ trong cùng thị trấn Merka bị ném đá chết vì tố cáo làm gián điệp.
Ông Sharif, một cựu lãnh đạo phiến quân, tuyên thệ nhậm chức tổng thống hồi đầu năm sau hòa ước do LHQ làm trung gian được ký kết.
Ông nói ông cũng muốn áp dụng luật Hồi giáo Sharia, nhưng nhóm al-Shabab nói kiểu luật của ông quá nhẹ tay.
Somalia không có chính phủ điều hành trong 18 năm qua.

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Sốt ruột


“Đọc báo cáo năm 2008 và năm 2009, chúng tôi thấy có nhiều đoạn hoàn toàn trùng khớp với nhau, đều ghi ngày 19.10. Có nhiều số liệu rất đáng buồn”, một đại biểu Quốc hội nhận xét khi thảo luận báo cáo của Chính phủ về tình hình và phương hướng kinh tế xã hội tại kỳ họp đang diễn ra.
Một đại biểu khác nêu: “Nhiều việc, nhiều sự kiện nêu ra cứ giống nhau từ năm này qua năm khác. Ta phân tích cho an lòng nhau chứ thực sự chưa phải cái Quốc hội cần”.
Một đại biểu khác đặt vấn đề: nói về thành tích lo cho dân nghèo, Chính phủ khẳng định tổng số chi cho an sinh xã hội năm 2009 này ước khoảng 22.470 tỉ đồng, tăng 62% so với 2008, “nhưng khi đọc lại tài liệu năm 2008 cho thấy, bốn tháng đầu năm chi cho an sinh xã hội 16 ngàn tỉ, như vậy chỉ tăng mấy phần trăm. Rõ ràng có nhiều con số, số liệu không đúng, không chính xác”. Có đại biểu tỏ ý nghi ngờ: báo cáo Chính phủ nói “triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” thì làm sao có thể thực hiện trong năm 2010 được?” Một đại biểu khác phàn nàn về những con số “màu hồng” trong thành tích chống tham nhũng hoặc tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo tới hơn 80% trong khi thực tế, theo ông, khác xa, và một số đại biểu còn đặt vấn đề phải xem lại hiệu quả của ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh.
Nhiều đại biểu đặt vấn đề vì sao kế hoạch tái cơ cấu kinh tế phải đợi đến năm 2011 mới triển khai mà không phải là ngay từ năm 2010, khi thách thức do suy giảm kinh tế đặt ra đã không nhanh chóng được biến thành cơ hội cơ cấu lại nền kinh tế như báo cáo của Chính phủ cũng thừa nhận, khi kinh tế trong nước và thế giới có thể vừa thoát khỏi suy giảm và giá cả hàng hoá nguyên liệu trên thế giới chưa tăng quá cao,…
Có lẽ chưa bao giờ như ở kỳ họp này, nhiều đại biểu Quốc hội lại thẳng thắn bày tỏ sự sốt ruột như vậy về một số vấn đề lớn trong nhận định tình hình và phương hướng phát triển kinh tế xã hội hiện nay và sắp tới.
Sốt ruột cũng phải, bởi lấy thí dụ vấn đề tái cơ cấu kinh tế hay chuyển đổi mô hình tăng trưởng, vấn đề đã được nhiều chuyên gia kinh tế đặt ra từ một số năm trước chứ không phải đợi đến khi kinh tế thế giới và trong nước suy giảm như hiện nay. Chỉ cần nhìn hệ số ICOR tăng đều đặn từ năm này qua năm khác trong khi ta vẫn vui mừng trước con số tăng trưởng; chỉ cần nghe nguồn than đá, nguồn dầu lửa sắp cạn kiệt, trong khi phát triển thuỷ điện ồ ạt như hiện nay dẫn đến hậu quả là rừng bị tàn phá ngày càng nhiều, lũ dữ ngày càng dữ hơn, sản xuất và đời sống nhân dân vùng hạ lưu các con sông ngày càng bất trắc hơn, và ngay cả một việc tưởng chừng đơn giản như ồ ạt móc cát dưới các lòng sông lên đem xuất khẩu cũng mang lại những hậu quả khôn lường… thì ai cũng có thể nhận thấy: mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác cạn kiệt tài nguyên, gia tăng đầu vào để đạt con số tăng trưởng cao đã đến giới hạn cuối cùng của nó. Tiếp tục tăng trưởng theo mô hình này sẽ không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia giàu tài nguyên nhưng chọn con đường phát triển sai lầm ở nhiều châu lục cũng đã chứng minh điều đó.
Vậy thì tại sao một nỗ lực thực sự nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vẫn bị trì hoãn từ năm này sang năm khác? Tại sao nền kinh tế vẫn cứ tiếp tục tăng trưởng theo bề rộng, như một quán tính? Lực kéo nào đã kìm hãm nền kinh tế, không cho nó bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn, chất lượng hơn? Mặt khác, chuyển đổi mô hình tăng trưởng không thể tách rời các lĩnh vực, thiết chế khác như giáo dục, bởi chính nền giáo dục chất lượng cao sẽ cung cấp cho nền kinh tế nguồn nhân lực chất lượng cao. Cùng với công nghệ, đó là cơ sở cho chất lượng tăng trưởng, cho hàm lượng chất xám cao trong mỗi sản phẩm làm ra, nhờ đó mà nền kinh tế từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào việc gia tăng đầu vào và bán tài nguyên thô để tăng trưởng. Nhưng nhìn vào chất lượng nền giáo dục hiện tại, không thể không buồn.
Vì thế, để không phải tiếp tục sốt ruột qua nhiều kỳ họp nữa, các đại biểu Quốc hội đang đứng trước nhiệm vụ và thách thức tìm cho ra nguyên nhân mấu chốt của sự trì hoãn chuyển đổi mô hình tăng trưởng và mối liên hệ của nó với các thiết chế khác.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

ĐỪNG ĐỂ ĐẮC TỘI VỚI MAI SAU


Hai cơn bão số 9 và 11 năm 2009 sẽ phải được ghi nhận trong lịch sử thời tiết nước ta như là những cơn bão kèm theo lũ dữ gây thiệt hại nặng nề về người và của. Hiện tượng mới chưa từng thấy là lũ đến ngay, cấp tập cùng với bão, và thiệt hại do lũ gây ra thậm chí còn nặng nề hơn thiệt hại do bão. Riêng thiệt hại về sinh mạng, mỗi cơn bão lũ đã cướp đi hơn 100 người, cả chết và mất tích, dù trước khi đổ bộ vào nước ta bão đã di chuyển qua Biển Đông hết mấy ngày.
Lũ đến nhanh, cấp tập không chỉ do mưa từ đầu nguồn đổ xuống nhanh vì rừng bị đốn hạ nhiều mà còn vì các hồ thuỷ điện, thay vì tích nước, lại xả lũ đúng vào lúc lũ bên ngoài dâng cao. Ở Quảng Nam, trong cơn bão số 9, là hồ thuỷ điện A Vương; ở Phú Yên, trong cơn bão số 11, là hồ thuỷ điện sông Ba Hạ. Nếu ở Quảng Nam lũ chủ yếu nhấn chìm những vùng quê thì ở Phú Yên lũ nhấn chìm ngay chính thành phố thủ phủ Tuy Hoà. Phải nói thiệt hại này do thiên nhiên gây ra chỉ một phần, phần còn lại là do chính con người, do chính chúng ta gây ra.
Sau cơn bão số 9 và lũ đi kèm, dư luận và các nhà khoa học còn chưa hết báo động về nguy cơ từ hệ thống thuỷ điện dày đặc trên các con sông ở miền Trung và Tây nguyên thì cơn bão số 11 và lũ đi kèm lại ập đến. Và cả hai lần, người ta chỉ được nghe những lời giải thích, phân trần từ những đơn vị xây dựng và khai thác thuỷ điện. Nhưng nước cũng là một loại tài nguyên, giống như các loại tài nguyên khác như than, khoáng sản… và nó phải được quy hoạch và quản lý nhằm sử dụng, khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nhất trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác như sản xuất nông nghiệp, dân sinh và sự bền vững về môi trường. Ở đây ta thấy ngành điện chỉ biết đến ngành điện, do đó mà thả sức phát triển thuỷ điện mặc cho tác hại gây ra cho sự cân bằng sinh thái, cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Cũng không thể đổ lỗi cho sự phân cấp, vì phân cấp không đồng nghĩa với chia cắt, mặc cấp nào biết cấp đó, mà phân cấp bao giờ cũng được đặt trong một hệ thống thống nhất và khi sự cố xảy ra ở một cấp tác động tới cả hệ thống thì tổ chức, cá nhân đứng đầu hệ thống phải có ngay giải pháp cho cả hệ thống. Vả chăng, một con sông, dù chảy qua nhiều địa phương, làm gì có chịu phân cấp? Nước sông dù chảy qua đâu cũng chỉ một. Cho nên quy hoạch và sử dụng các dòng sông phải đặt trong một hệ thống thống nhất và trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác như đã nói ở trên.
Thuỷ điện không thể chỉ biết đến thuỷ điện. Khai thác than không thể chỉ biết moi than lên bán. Than, khoáng sản hay nước, rừng đều là những tài nguyên có hạn và việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm đòi hỏi một sự quy hoạch, quản lý thống nhất, dù thực tế hiện nay mỗi loại tài nguyên lại do một bộ chuyên ngành quản lý và chịu trách nhiệm tổ chức khai thác mà thiếu sự phối hợp chung, khiến khi tai hoạ xảy ra không biết ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Theo chúng tôi, chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quy hoạch, khai thác, sử dụng tài nguyên cũng như về sự phối hợp giữa các ngành, không ai khác hơn là bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thiên nhiên, cũng như con người, có giới hạn chịu đựng của nó. Khai thác bừa bãi thì thiên nhiên cạn kiệt hoặc quay trở lại trả đũa con người, không chỉ trong hiện tại như ta đã thấy. Vì vậy, để không di hại cho đời sau, để không đắc tội với mai sau, cần có một cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quy hoạch, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, bền vững các loại tài nguyên, trong đó có nước.

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009

NỖI NIỀM LÝ SƠN


Đánh cá và trồng tỏi, hành - hai nghề chính của dân đảo Lý Sơn


Chỉ mất khoảng một tiếng đồng hồ để đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi ra đảo Lý Sơn. Đảo nằm cách đất liền chỉ khoảng 15 hải lý (gần 28km), chưa bằng khoảng cách đường bộ Sài Gòn – Biên Hoà, nhưng với người không quen đi biển vẫn có cảm giác thật xa, trong khi dân Lý Sơn, với những con thuyền gỗ mong manh, vượt khoảng cách gầp mười lần để ra khơi đánh cá.
Đảo Lý Sơn vốn là một núi lửa đã tắt từ xa xưa, ít cây cối, tháng 8 khi chúng tôi ra đảo, trời nóng nực, không một hụt gió. Lý Sơn gồm hai đảo, hòn Lớn và hòn Bé, diện tích tổng cộng chỉ khoảng 10 km2 nhưng dân số lên đến trên 20.000 người, đa số tập trung ở hai xã An Vĩnh và An Hải trên hòn Lớn; xã An Bình nằm trên hòn Bé, dân chỉ mấy trăm người, trên đảo không có nước ngọt. Hòn Lớn, nơi đặt các cơ quan hành chính được xây dựng khá hoành tráng so với diện tích đảo, đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia, mỗi ngày chỉ chạy máy phát điện từ 5 giờ chiếu đến 11 giờ đêm, ưu tiên cho cơ quan nhà nước, khu vực dân cư bữa có điện bữa không. Một nhà máy nhiệt điện mới làm lễ khởi công hồi tháng 7, ít ra cũng phải đến năm 2011 mới phát điện.
Lý Sơn được coi là một trong những đảo tiền tiêu của Tố quốc. Chính từ đây, khoảng 400 năm về trước chúa Nguyễn đã tuyển binh, phu cho các Đội Hoàng Sa để ra quần đảo Hoàng Sa khai thác sản vật và đánh dấu chủ quyền quốc gia. Chính nơi đây có đình làng An Hải, có Âm Linh Tự ở xã An Vĩnh và những ngôi mộ gió - chứng tích về công cuộc khai thác Hoàng Sa từ xa xưa trong lịch sử của người dân Lý Sơn và về những con người bỏ thân trên biển cả hoặc bỏ mình trên đảo xa vì chủ quyền đất nước và vì công cuộc khai thác ấy.
Ấy vậy nhưng người dân Lý Sơn đang có nhiều nỗi niềm. Thiếu điện khiến đời sống khó khăn, nhiều dịch vụ như hậu cần nghề cá, du lịch, rồi đời sống văn hoá… không phát triển đã đành. Cái lớn nhất là công cuộc mưu sinh chủ yếu dựa vào biển và một phần dựa vào nghề trồng tỏi, hành, mè ngày càng khó khăn hơn. Tỏi, hành Lý Sơn trồng trên cát biển lấy từ dưới biển lên, nổi tiếng thơm ngon. Nhưng dân số tăng mà đất đai trên đảo không thể nở thêm, nghề trồng tỏi, trồng hành có phát triển cũng chỉ đến vậy là cùng. Chỉ còn trông vào biển. Nhưng biển gần thì ngày càng cạn kiệt cá, mực. đã Đi vòng quanh đảo một buổi sáng, chúng tôi thấy người dân kéo lưới, dùng những thanh cao su đập vào lưới cho cá cơm rơi xuống, nhìn vào lưới thấy cá chẳng bao nhiêu. Một buổi sáng khác, ngay tại cầu tàu, cũng cảnh tượng tương tự, lần này thấy cá còn ít hơn. Vậy là chỉ còn trông cậy vào biển xa.
Nhưng biển xa đang ngày càng trở thành biển dữ. Chúng tôi đã gặp những gia đình có người đi đánh bắt ở Hoàng Sa, Trường Sa, những vùng đánh bắt truyền thống của ngư dân Lý Sơn và ngư dân nhiều vùng khác của Việt Nam. Có người bị lính Trung Quốc đang chiếm giữ đảo bắn bị thương khi tới gần đảo. Có người bị bắt, được thả nhưng bị tịch thu phương tiện hành nghề, vẫn nói mạnh như tính cách rất “lỳ” của dân đi biển :” Bắt thì bắt. làm thì làm”. Nhưng phương tiện đánh bắt không còn, có “làm” chăng chỉ còn là “đi bạn”, tức đi làm công cho những người còn phương tiện đánh bắt. Có ngư dân lớn tuổi, từng bị bắt, được thả nhưng phương tiện đánh bắt không còn, con trai thì vẫn còn bị giữ, phải chạy vạy vay tiền nhiều đợt đóng tiền chuộc con nhưng đến nay con vẫn chưa về. Gia đình đông con, không còn phương tiện, vốn liếng đi biển, nay ông phải chuyển qua trồng tỏi, hành, mè nhưng đất có được chẳng bao nhiêu. Chiếc tủ chè trong gian nhà khách nhìn thẳng ra biển, nơi những gia đình giàu có thường chưng những bộ đồ trà quý giá, ông chưng toàn những vỏ ốc to, đẹp lấy từ vùng biển Hoàng Sa trong những chuyến ra khơi trước đây. Như chứng tích về một thời đi biển hào hùng và về sự hào phóng của vùng biển vốn thuộc chủ quyền đất nước mà nay hiểm nguy rình rập.

Một ngư dân không còn phương tiện đi biển, và tủ chè của ông

Biển của mình, vùng đánh bắt lịch sử của mình, nay đang trở thành biển dữ. Không gian sinh tồn của ngư dân Lý Sơn, của ngư dân Việt Nam nói chung đang bị thu hẹp. Ngư dân Lý Sơn sẽ dựa vào đâu để bám biển, để mưu sinh, và để giúp quốc gia khẳng định chủ quyền biển, đảo của mình? Trong những ngày này, khi một số ngư dân bị bắt, được thả, nhưng phương tiện đánh bắt không còn, câu hỏi ấy không chỉ là nỗi niềm riêng của dân đảo Lý Sơn mà là câu hỏi ám ảnh mọi người.
Còn một nỗi niềm nữa của dân Lý Sơn. Hôm chúng tôi đến nhà thờ tộc họ Đặng ở xã An Hải - tộc họ đã hiến cho Nhà nước bản gốc một văn bản thời vua Minh Mạng được lưu giữ nguyên vẹn suốt 175 năm qua, theo đó vua cử ba chiếc thuyền, giao cho ông Đặng Văn Siểm thuộc tộc họ Đặng và hai người khác thuộc tộc họ Võ tuyển phu binh ra Hoàng Sa canh giữ đảo - người nhà nói với vẻ trách móc :” Mấy ổng đến lấy bản gốc tài liệu, hứa hẹn sẽ đưa bản dịch để chúng tôi treo trong nhà thờ, ai đến thì đọc còn biết nghĩa, nhưng đến nay vẫn biệt tăm, chỉ cho chúng tôi bản chụp và cái giấy khen. Hiến tặng tài liệu quý cho Nhà nước, nhưng chúng tôi cũng chẳng được gì, con cái kiếm việc làm cũng không ra”. Chúng tôi chẳng biết nói sao trước những lời trách móc đó. Chỉ cầu mong sao cho những người có công lao với việc khẳng định chủ quyền đất nước như vậy đừng bị bỏ rơi sau khi cơ quan nhà nước đã được việc của mình.