Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Nếu 62 tỉnh thành khác cũng làm như Đà Nẵng !?

Vậy là cuối cùng cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (KTVBQPPL) của bộ Tư pháp - sau khi tập hợp ý kiến của các cơ quan liên quan gồm ủy ban Pháp luật của Quốc hội, vụ pháp luật của Văn phòng Quốc hội, vụ pháp luật của Văn phòng Chính phủ, tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội – bộ Công an và nhiều cục, vụ liên quan - đã có văn bản báo cáo lên bộ trưởng bộ Tư pháp về kết quả kiểm tra tính hợp pháp của một số nội dung trong nghị quyết 23 của HĐND thành phố Đà Nẵng ngày 23.12.2011. Theo đó, có ít nhất 4 quy định trong nghị quyết nói trên là trái luật, trái thẩm quyền. Đó là: Tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án tiền sự; tạm dừng đăng ký mới đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ; cấm chuyển nhượng căn hộ chung cư, nếu vi phạm sẽ bị cưỡng chế thu hồi; phạt nặng và tạm giữ phương tiện 60 ngày đối với học sinh chưa đủ tuổi theo quy định đi xe gắn máy.
Được nhiều người quan tâm hơn cả vì động chạm tới một trong những quyền tự do căn bản của công dân là quyền tự do cư trú, quy định tạm dừng cho đăng ký thường trú trong khu vực nội thành của nghị quyết 23 được báo cáo của cục KTVBQPPL kết luận là “không có cơ sở pháp lý và trái với quy định của pháp luật về cư trú”. Đại diện vụ Pháp luật thuộc Văn phòng Chính phủ cho rằng, các quy định về thẩm quyền “phân bổ dân cư” và “quyết định biện pháp quản lý dân cư” của HĐND là quy định chung, khi HĐND đưa ra nghị quyết để quy định cụ thể một nội dung nào đó thì phải tuân theo luật ban hành sau và các quy định pháp luật trong từng lĩnh vực. Ông Đặng Đình Luyến, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, còn cho rằng, có nhiều biện pháp để phân bổ dân cư nhưng bất cứ biện pháp nào cũng phải tuân thủ luật Cư trú. Như vậy, có thể nói, việc HĐND TP Đà Nẵng đặt ra quy định nói trên là một hình thức hạn chế quyền tự do cư trú của công dân. Quy định đó đã “treo”, đã “tạm dừng” một trong các quyền tự do căn bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật Cư trú và nghị định hướng dẫn thi hành luật. Hai quy định khác của nghị quyết 23 của HĐND TP Đà Nẵng liên quan tới dịch vụ cầm đồ và chuyển nhượng căn hộ chung cư cũng “tạm dừng” các quyền của công dân như vậy.
Lý giải việc đưa ra quy định “tạm dừng” cho đăng ký thường trú vào các quận nội thành, ông Nguyễn Bá Sơn, Giám đốc Sở Tư  pháp TP Đà Nẵng cho rằng, các đại biểu HĐND đã thảo luận và biểu quyết thông qua nội dung này xuất phát từ tình hình thực tế những năm qua một bộ phận lớn dân nhập cư là người không nghề nghiệp, không nhà cửa, không có chỗ ở ổn định hoặc có tiền án, tiền sự, làm cho sức chịu đựng của hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục bị quá tải. Thêm vào đó, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và tội phạm hình sự trên địa bàn diễn biến phức tạp, trật tự an toàn bị đe dọa. Một số mục tiêu thành phố đã đạt được trong 15 năm qua hoặc mục tiêu đặt ra trong những năm tới có nguy cơ bị phá vỡ hoặc không thể thực hiện.
Tuy nhiên, những thực tế, khó khăn, vấn nạn nói trên không phải là vấn đề của riêng Đà Nẵng mà có thể bắt gặp ở bất kỳ thành phố lớn nào. Những mục tiêu mà Đà Nẵng đặt ra, các địa phương khác cũng có thể đặt ra, bởi ai cũng muốn địa phương mình lập được thành tích. Tuy nhiên, nếu tất cả các thành phố lớn hoặc 62 tỉnh thành khác cũng làm như Đà Nẵng với lý do đặc thù của địa phương thì hẳn luật lệ của nhà nước Việt Nam sẽ không còn là một thể thống nhất mà như một tấm mền, mạnh ai nấy cũng có thể căng kéo theo nhu cầu, ý thích riêng của địa phương. Vô hình chung, luật bị vô hiệu hóa. Đó là điều xa lạ với một nhà nước pháp quyền hiện đại, trong đó mọi tổ chức, đơn vị, cá nhân nhà chức trách khi muốn đưa ra một quyết định nào đều trước hết phải soát xét xem nó có phù hợp với Hiến pháp và pháp luật không, chứ không thể dựa trước hết trên cái gọi là đặc thù địa phương. Tư duy và biện pháp quản lý nhà nước, nếu dựa trước hết trên đặc thù địa phương, thì cũng giống như quản trị trong doanh nghiệp gia đình, dựa trên sự thuận tiện cho chủ doanh nghiệp nhưng không phù hợp với quản trị trong doanh nghiệp đại chúng, vốn phải được quản trị chính quy theo điều lệ, quy chế hẳn hoi. Đó cũng là thứ tư duy lệ làng chỉ hợp lý trong bối cảnh nhà nước phong kiến, khi làng xã tìm cách giành lấy chút quyền tự chủ khỏi nhà nước trung ương tập quyền hà khắc. Mặt khác, Việt Nam cũng không phải là một nhà nước liên bang với 63 tỉnh thành là 63 tiểu bang có quyền đề ra luật lệ nội trị riêng.
Tất cả điều đó không có nghĩa từng địa phương không có quyền năng động, chủ động trong quản lý điều hành. Nhưng mọi sự năng động, mọi nỗ lực chủ động trước hết phải soi vào Hiến pháp và pháp luật xem nó có phù hợp, bằng không nó sẽ bào mòn nền tảng của nhà nước pháp quyền. Nếu pháp luật tỏ ra bất cập, không còn phù hợp với thực tế, chẳng hạn như quyền hạn dành cho chính quyền đô thị vốn khác xa chính quyền ở nông thôn nhưng chưa được pháp luật quy định, thì quyền và nhiệm vụ của chính quyền địa phương là đấu tranh trong vòng pháp luật để sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn chứ không phải là bỏ qua Hiến pháp và pháp luật. 

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

ĐỌC MÀ BUỒN

Đọc được bài này trên internet. Đọc mà buồn. Mấy chục năm trước mình cũng như thế. Bây giờ, mấy chục năm sau mình cũng cảm nhận như tác giả bài viết. Buồn.


06/12/2011
Hồ Cương Quyết - André Menras
Thành phố Hồ Chí Minh, chiều thứ Bảy. Trong căn hộ bỏ trống mà vợ chồng người em gái có nhã ý cho tôi trú tạm, tôi nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Không muốn đọc mà cũng chẳng buồn viết lách gì cả. Những bộ mặt và cảnh tượng cứ xuất hiện liên tục, trộn lẫn vào nhau, chồng lấp lên nhau như hình ảnh trong một bộ phim không có đạo diễn. Một điệu nhạc buồn gọi cơn mưa đến như bám vào từng mẩu da thịt tôi và thực tại đang sống lại mỗi ngày một mạnh mẽ hơn.
Sáng hôm nay tôi tình cờ được mời đến một quán “café-philo”. Chủ đề cuộc tọa đàm: Marx, Engels, Hegel(*). Căn phòng nhỏ lèn chặt người, như chực vỡ tung. Có người tôi đã biết, có người chưa quen. Một không khí tìm tòi và chia sẻ. Người có tuổi lẫn với sinh viên trẻ: tâm hồn, đầu óc trẻ trung của mọi lứa tuổi hòa lẫn vào nhau. Lòng khát khao được học hỏi, trao đổi và cả các ý kiến đối chọi nhau. Sức mạnh và vẻ đẹp của niềm ham thích, của thị hiếu lành mạnh và tích cực, không ngại cản trở, không sợ điều cấm kỵ, và loại bỏ tất cả những ai nhát sợ.
Cơn mưa buồn trong nhạc Trịnh, những ý kiến tranh luận sôi nổi cùng không khí năng động của quán café-philo như muốn thoát ra khỏi những cản ngại thường ngày đã làm dậy lên trong tôi một góc ký ức mà tôi ngỡ đã chôn vùi từ lâu trong quá khứ. Những mẩu ký ức đau buồn về một Sài Gòn cũ mà tôi từng trải qua, giờ đây lại tái hiện ở TP.HCM, như đang giáng cái tát nảy lửa vào niềm tin của tôi.
Cấm chiếu phim, đóng cửa quán cà phê, cắt điện, đe dọa cá nhân. “Mật vụ” với bộ mặt lầm lầm lì lì, điện thoại di động lúc nào cũng dán chặt vào lỗ tai, máy ghi âm và caméra sẵn sàng hoạt động. Cảm giác ngột ngạt nặng trĩu vì không lúc nào được ở một mình. Hơn 40 năm trước, tôi đã từng trông thấy những cặp mắt rình rập hệt như thế, mà khi tôi hướng về họ thì chỉ được lẳng lặng đáp lại bằng cái nhìn đầy hăm dọa. Tôi hiểu rõ những bàn tay ấy có khả năng làm chuyện gì khi nhận được lệnh cấp trên.
Các đồng chí can trường của tôi, các bạn hiện đang ở đâu? Làm sao các bạn có thể quên chúng ta từ đâu đến và chúng ta đang đi về đâu? Tôi nghe bài hát “Một ngày dài trên quê hương” mà nước mắt cứ lăn dài, thật buồn cười, nhưng tôi cũng chẳng muốn kiềm lòng làm chi. Nỗi đau các thành quả của những cuộc đấu tranh bị tịch thu, của niềm hy vọng bị đánh cắp. Lòng phẫn nộ khi phải khóc thương cho một thời tuổi trẻ vẫn chưa lụi tàn trong tôi, cái thời thanh niên giờ đây bừng sống lại trong hoàn cảnh đầy cản ngại, và khiến cho tôi quên bẵng đi nỗi mệt nhọc hiển nhiên do tuổi tác.
Các đồng chí ơi, làm ơn đi, làm ơn nói cho tôi biết rằng điều tôi đang cảm nhận lúc này đây là hoàn toàn ngộ nhận và sai lầm, rằng các thế lực thù địch với chế độ ta không hề có lý, rằng tôi không buộc phải một lần nữa lên đường đấu tranh, ra tiền tuyến...
H. C. Q. – A. M.
Trần Hữu dịch từ tiếng Pháp.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
Chú thích:
(*) Buổi giới thiệu cuốn sách Karl Marx của Peter Singer (nxb Tri thức 2011) sáng ngày 3/12/2011 tại quán Cà phê Thứ Bảy 37 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, TP. HCM với diễn giả là nhà nghiên cứu Lữ Phương và người chủ trì là nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn – BVN.
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 03:35

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Vị vua trẻ Bhutan tiếp tục cuộc cách mạng ở đất nước của chỉ số GNH

 Vị vua trẻ của Bhutan, Jigme Khesar Namgyel Wangchuck, mới 31 tuổi, vừa chính thức cưới và tấn phong làm hoàng hậu một cô sinh viên 21 tuổi, cũng học ở Anh về, con gái của một phi công, tức thường dân. Sau khi đã lập nên Quốc hội, soạn thảo hiến pháp dân chủ, vị vua trẻ tiếp tục cuộc cách mạng của ông qua đám cưới này ở đất nước lấy Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH) làm tiêu chí phát triển hàng đầu. Xem 2 đường link sau:


http://dantri.com.vn/c36/s36-527220/nguyen-thu-quoc-gia-tre-nhat-the-gioi-cuoi-thuong-dan.htm
http://www.theglobeandmail.com/news/world/asia-pacific/bhutans-king-weds-commoner-bride-and-crowns-her-queen/article2199559/

Nhân tiện xem lại bài cũ trên blog này, viết sau chuyến thăm Bhutan tháng 6-2011: Đến Bhutan, nằm mộng thiên đường.
http://nghidocduong.blogspot.com/2011/07/en-bhutan-nam-mong-thien-uong.html

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Bỏ quên con người

Bốn trăm mười tỉ đồng. Lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, còn lớn nhất Đông Nam Á. Sự tôn vinh Mẹ Việt Nam Anh hùng đã được đo như thế, bằng con số kinh phí và kích cỡ tượng đài mà UBND tỉnh Quảng Nam đã cho xây dựng. Chạy theo sự hoành tráng, theo kỷ lục, theo thành tích, có bao giờ người ta tự hỏi, với số tiền 410 tỉ đồng (từ ngân sách trung ương và địa phương), người ta có thể làm gì để 40.000 bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trong cả nước được sống cuộc sống xứng đáng hơn, được chăm sóc chu đáo hơn, nhà cửa tươm tất hơn, và con cháu, người thân còn lại của các mẹ được học hành đàng hoàng, có công ăn việc làm tử tế, có tương lai vững chắc. Có sự đền ơn nào hơn sự đền ơn ấy? Có sự an ủi nào hơn sự an ủi ấy? Có sự tôn vinh nào hơn sự tôn vinh ấy? Nhưng, mải chạy theo sự hoành tráng, người ta đã quên mất con người. Mải chạy theo xây dựng tượng đài bằng đá để đua tranh về chiều cao và chiều dài với tượng đài ở đâu đó, người ta đã quên những “tượng đài sống” bằng xương bằng thịt, những “tượng đài sống” nhỏ thó, hom hem, nhiều người bệnh tật, cô đơn, có lẽ chẳng còn sống được bao lâu.
          Có lẽ không ở đâu như đất nước ta, một đất nước triền miên kháng chiến, có những bà mẹ tình nguyện dâng hiến hết đứa con này đến đứa con khác cho Tổ quốc, cho kháng chiến. Một hiện tượng có lẽ là độc nhất vô nhị. Nhiều nhà kiến trúc, nhà mỹ thuật - bằng con mắt chuyên môn - đã phát biểu ý kiến của họ về tượng đài, nhấn mạnh đến tâm thức của người Việt, đến tinh thần lẽ ra cần toát ra từ tượng đài một người mẹ: gần gũi, thân thuộc thay vì hoành tráng mà nặng nề, khô cứng. Có lẽ điều đó cũng phù hợp với tính cách những người mẹ Việt Nam, ngay cả những người mẹ anh hùng: vĩ đại và cao cả, nhưng cũng rất thầm lặng, không chút phô trương. Thế thì tiêu chí lớn nhất Việt Nam hay lớn nhất Đông Nam Á, được nêu lên như một giá trị của tượng đài, phỏng có ý nghĩa gì?
          Nhưng đâu phải chỉ có tượng đài này, đâu phải chỉ có những công trình mỹ thuật chạy theo quy mô và sự hoành tráng mà bỏ quên con người. Nhiều đại quy hoạch, đại dự án, đại công trình khác cũng đã được xúc tiến nhân danh sự phát triển, nhân danh tăng trưởng kinh tế, nhân danh sự đi tắt đón đầu và cả đời sống người dân mà bỏ qua hoặc xem nhẹ việc xem xét thấu đáo đến chất lượng của công trình, dự án, quy hoạch và tác động nhiều mặt của chúng đến cuộc sống người dân, những người dân đang sống sờ sờ với những gương mặt, những số phận, những mơ ước nhỏ nhoi cụ thể chứ không phải người dân như một khái niệm chung chung, trừu tượng, mơ hồ. Thay vì là người thụ hưởng đích thực của những quy hoạch, dự án, công trình ấy, họ lại trở thành những kẻ chịu đựng khốn khổ của những ước mơ hoành tráng trong đó họ chẳng có vai trò gì, chẳng có tiếng nói gì.
          Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng không phải là công trình duy nhất muốn đạt cho được tiêu chí hoành tráng (và tất nhiên, đi kèm là kinh phí xây dựng lớn từ ngân sách). Ngoài những nghi ngờ (không phải tất cả mọi trường hợp đều được chứng minh) về những tính toán chia chác lợi ích, những món lại quả từ kinh phí thi công những dự án, công trình lớn, liệu còn có nguyên nhân nào khác đằng sau tâm lý thích hoành tráng này? Phải chăng đó là tâm lý tự ti, thấy người khác có cái gì đó to hơn mình, cao hơn mình thì cũng muốn mình phải có cái gì đó to hơn, cao hơn mà không xét đến khả năng của mình? Phải chăng đó là tâm lý bắt chước máy móc mà không xét đến điều kiện cụ thể của mình? Và biết đâu cũng có thể do bệnh thành tích của không ít quan chức các cấp, bởi thành tích gắn liền với chiếc ghế hiện tại và tương lai của họ?

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

“TẶC” NGÀY CÀNG NHIỀU!

Thủy hỏa đạo tặc. Đạo tặc là cụm từ đầu tiên trong đó có “tặc” mà ngày lớn lên, đi học, tôi cũng như nhiều người được biết tới. Đạo tặc - trộm cướp - được ông bà ta đặt ngang với lụt lội và hỏa hoạn, những mối họa lớn cho con người. Mặt khác, khi bàn về nguyên nhân của nạn đạo tặc, ông bà ta cũng có cái nhìn rất xã hội: bần cùng sinh đạo tặc, nghĩa là nghèo đói sinh ra trộm cướp.
          Lớn lên chút nữa, bắt đầu làm quen với sử sách, tôi được nghe tới hai từ dâm tặc. Dâm tặc gắn liền với hôn quân bạo chúa, với tham quan ô lại, với cường hào ác bá, với những giai đoạn hỗn quan hỗn quân, nhất là trong sử sách Trung Hoa. Những tên dâm tặc, những đôi gian phu dâm phụ nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa, hầu như ai cũng biết, đó là những Lao Ái - Triệu Cơ, những Tây Môn Khánh - Phan Kim Liên trong Thủy Hử và Kim Bình Mai. Truyện kiếm hiệp Kim Dung sau này cũng không thiếu những tên dâm tặc như Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo Giang hồ.
          Cùng với hai từ dâm tặc, tôi cũng bắt đầu biết đến từ hải tặc qua những truyện hoặc phim phiêu lưu mạo hiểm. Nói đến hải tặc, trí óc tôi bao giờ cũng hình dung ra những con tàu giương cờ đen vẽ đầu lâu và hai khúc xương trắng hếu bắt chéo nhau, những con tàu đi trong đêm bất ngờ cặp mạn những con tàu buôn và những tên cướp biển dữ dằn xông lên tàu cướp giết. Hai từ hải tặc cũng được nhắc đến qua tin tức thời sự nhưng không nhiều như bây giờ. Rồi cùng với hải tặc là không tặc, những tên cướp máy bay được biết đến qua phim ảnh cũng như tin tức thời sự nhưng khá hiếm hoi.
          Kho từ vựng liên quan đến “tặc” của tôi cách đây khoảng 30 - 40 năm chỉ có thế. Thế rồi bỗng dưng “tặc” xuất hiện ngày càng nhiều và trong đủ mọi lĩnh vực. Đầu tiên là lâm tặc kể từ khi nạn phá rừng rộ lên và kéo dài đến tận bây giờ, sau khi nước ta đã “cơ bản hoàn thành việc phá rừng” như dân gian nói đùa. Hết lâm tặc đến đinh tặc, một căn bệnh trầm kha mà cả nhà nước với bao nhiêu phương tiện trong tay lẫn cả xã hội dường như bó tay. Đến nay thì theo tin báo chí, đinh tặc không còn nhắm vào xe gắn máy mà cả xe hơi, không chỉ hoạt động ở ngoại thành mà còn tiến vào nội thành. Bọn người vô lương tâm không chỉ làm cho nạn nhân của chúng tốn tiền tốn của, bị chặt chém, mà có lúc còn khiến nạn nhân gặp tai nạn do bị xẹp lốp, mất tay lái.
          Vài ba chục năm nay thì kho từ vựng liên quan đến “tặc” đã phát triển không ngừng: từ “cát tặc” hay “sa tặc” – những kẻ khai thác trộm cát dưới sông, đến “quặng tặc”, “vàng tặc”, “than tặc” – những kẻ khai thác trộm khoáng sản, mỏ vàng, mỏ than, hay gần đây là “sưa tặc” – những kẻ cưa trộm cây sưa trên hè phố, tài sản chung của cộng đồng, để bán thu lợi riêng, “nghêu tặc” – những kẻ ăn cướp nghêu trong bãi nuôi của người khác như vụ hàng ngàn người tràn vào ăn cướp nghêu của một hợp tác xã nuôi nghêu ở Cà Mau mới đây, “cẩu tặc” – những kẻ chuyên môn rình mò ăn trộm chó từng dẫn đến những cái chết đau thương do người bị mất trộm chó không kìm nổi phẫn nộ ra tay bất chấp pháp luật. Thời công nghệ thông tin, máy tính ta lại có “tin tặc”, những kẻ đột nhập máy tính của người khác để ăn cắp thông tin hoặc để cài những phần mềm phá hoại.
Kho từ vựng chỉ những hành vi ăn cắp, ăn cướp cứ thế ngày càng nhiều lên theo thực tế cuộc sống xã hội, nhiều khi bất chấp những quy tắc hình thành từ ngữ mới, miễn sao thuận tiện, ngắn gọn để gọi một thực tế. Chẳng hạn, nếu lâm tặc. cát tặc, quặng tặc, sưa tặc, nghêu tặc dùng để chỉ những kẻ ăn cắp, ăn cướp gỗ rừng, cát sông, quặng mỏ. cây sưa, con nghêu… thì “đinh tặc” lại không phải là kẻ ăn cắp đinh mà là rải đinh cho người đi đường bị bể vỏ ruột xe để rồi buộc họ phải thay với giá cắt cổ. “Cẩu tặc” thì lại có nghĩa là kẻ trộm chó chứ không phải là kẻ chó má, đểu cáng như trước đó mọi người vẫn hiểu.
Tuy nhiên, có một số hành vi cũng thuộc loại ăn cắp, ăn cướp và cũng khá phổ biến hiện nay lại chưa có từ ngắn gọn để chỉ hoặc được chỉ bằng một từ nghe ra khá nhẹ nhàng. Chẳng hạn, ăn cắp văn chương, ý tưởng, luận văn của người khác vẫn được gọi là đạo văn chứ không phải là “văn tặc”; xài bằng giả, bằng dỏm cũng là hành vi ăn cắp cái không phải của mình nhưng chưa có từ ngắn gọn để gọi. Chẳng lẽ gọi đó là “bằng tặc”? Những kẻ lén lút xả thải chưa qua xử lý ra sông suối, phá hoại môi trường sống trong lành của người dân cũng là một dạng ăn cướp môi trường, nhưng chưa ai sáng tạo ra từ mới, ngắn gọn để gọi. Gọi là “môi tặc” thì nghe kỳ và dễ làm người nghe liên tưởng đến những màn gọi là “khóa môi” người đẹp mà một số báo mạng hay khoái trá đưa lên.
Song có một thứ “tặc” mới, có lẽ là “đỉnh cao” của mọi thứ “tặc”, mà các nhà sáng tạo ngôn ngữ dân gian đã kịp thời tìm ra từ ngắn gọn, thuận tiện để chỉ. Đó là từ “đức tặc” để chỉ những kẻ đạo đức giả, thối nát, vô liêm sỉ, vô đạo đức nhưng vẫn đeo bộ mặt đạo đức. Tuy hai từ “đức” và “tặc” đã từng hiện diện trong một câu nói của Khổng Tử: “Hương nguyện, đức chi tặc giả”, nhưng ghép hai từ này liền với nhau thành một danh từ để chỉ những kẻ giả hình, ăn cắp đạo đức, phá hoại lý tưởng như trong một bài viết của Bùi Văn Nam Sơn mới đây thì thực sự là một sáng tạo, dù không hoàn toàn mới.
Đến đây, một câu hỏi đặt ra: người ta nói ngôn ngữ phản ánh hiện thực, vậy trước sự phát triển tăng tốc của những từ liên quan đến “tặc” thời gian qua, chúng ta phải nghĩ gì về hiện thực cuộc sống hôm nay?