Thứ Ba, 23 tháng 10, 2007

ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KHÔNG CHỈ DỰA VÀO GIA TĂNG ĐẦU VÀO

Những cuộc đình công diễn ra trên diện khá rộng và hầu như định kỳ, do sự phân phối thiếu công bằng thành quả của tăng trưởng kinh tế mà đồng lương không đủ sống của công nhân tại các khu công nghiệp là biểu hiện rõ ràng nhất, cho thấy sự tăng trưởng đạt được là chưa bền vững. Một nền kinh tế mà khả năng cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ là một nền kinh tế tiềm ẩn nhiều bất ổn về mặt xã hội và cả về khả năng tăng trưởng lâu dài.

Nhưng mặt khác, đồng lương công nhân thấp một phần bắt nguồn từ năng suất thấp của lực lượng nhân công nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tại kỳ họp Quốc hội hôm 22-10 trong báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2007 và kế hoạch năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả năm 2007 ước đạt khoảng 8,5% (kế hoạch 8,2 - 8,5%), mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên, như thường lệ từ nhiều năm nay, báo cáo đánh giá rằng năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng ngành, từng doanh nghiệp vẫn còn thấp.

Quả thật, nền kinh tế những năm qua tuy có tăng trưởng cao nhưng chủ yếu là do tăng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là các luồng vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế (ODA, FDI và gần đây là vốn đầu tư gián tiếp, chủ yếu vào thị trường chứng khoán), còn phần do năng suất lao động mang lại không đáng kể. Nếu lấy hệ số ICOR (hiểu nôm na là phải bỏ vào bao nhiêu đồng vốn để làm ra một đồng giá trị tăng thêm; hệ số càng cao thì hiệu quả nền kinh tế càng thấp) làm thước đo hiệu quả của nền kinh tế, thì tình hình không có gì đáng lạc quan. Bởi nếu như cách nay hơn 10 năm, hệ số ICOR của Việt Nam là 3,39 (năm 1995) thì năm 2006 hệ số này đã lên tới gần 6, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 3,6 lên 7,28.

Làm cách nào để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn: năng suất thấp dẫn đến đồng lương thấp; đến lượt nó đồng lương thấp, không đủ sống, lại tác động trở lại làm năng suất sụt giảm ? Đã đến lúc, để có được sự thay đổi về chất trong tăng trưởng, để tăng trưởng không chỉ dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như bơm thêm vốn, giữ mức lương công nhân quá thấp, chưa nói đến việc phải loại bỏ lãng phí và tham nhũng, cần làm sao để tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm, dịch vụ làm ra. Muốn vậy, không có con đường nào khác ngoài việc thật sự tập trung cho phát triển khoa học công nghệ và giáo dục, nhất là giáo dục đại học để cho ra một lực lượng nhân công có tay nghề, một lực lượng trí thức có khả năng góp chất xám vào sự phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề là, để làm được điếu ấy, chúng ta có đủ dũng cảm và quyết tâm làm một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học và trong tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ hay không. Bởi nói gì thì nói, đó vẫn là hai vấn đề bức xúc lớn cả đối với giới chuyên môn lẫn dư luận xã hội rộng rãi hiện nay.

(Đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 22-10-2007)

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007

Thập diện mai phục

Thập diện mai phục.
Cơ quan tôi ở số 35, bên phải, đường Nam kỳ khởi nghĩa, giữa Hàm Nghi và Nguyễn Công Trứ. Mỗi trưa tranh thủ về nhà nghỉ một tí trước khi trở vào làm đầu giờ chiều, tôi chỉ có hai chọn lựa: hoặc là chạy một đoạn đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ rồi quẹo trái qua Nguyễn Công Trứ, đến ngã tư Nguyễn Công Trứ-Pasteur lại quẹo trái qua Pasteur từ đó băng thẳng về nhà; hoặc là đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ quẹo phải, đến ngã tư Nguyễn Công Trứ-Phó Đức Chính lại quẹo phải chạy đến Lê Lợi rồi quẹo phải qua Pasteur, từ đó về nhà.
Khổ nỗi, từ khi người ta cho xe tải nặng chạy từ Hàm Nghi qua Nam kỳ khởi nghĩa để qua quận Tư thì cứ đến trưa, giờ tôi ra về, từng đoàn xe tải nặng, xe container lại nối đuôi nhau san sát trên đường Nam kỳ khởi nghĩa, đường nhanh chóng xuống cấp đã đành, mà tôi cũng chẳng còn dám quẹo trái qua Nguyễn Công Trứ nữa. Cứ nhìn từng đoàn xe tải nặng tranh nhau không chừa một kẽ hở chạy qua quận Tư là tôi đã thấy ớn cả xương sống. Mà giả thử có đánh liều băng qua được Nguyễn Công Trứ để ra Pasteur thì đến ngã tư Pasteur-Hàm Nghi lại phải một phen đụng những chiếc xe tải nặng. Nhiều khi đường Pasteur đèn xanh cũng không thể băng qua được ngã tư vì các xe tải tranh nhau đi san sát đã bít cả ngã tư, dù đèn xanh cho xe trên đường Pasteur đã bật lên.
Vậy chỉ còn cách đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Nguyễn Công Trứ thì quẹo phải. Khốn nỗi, từ mấy tuần nay cái ngã tư Phó Đức Chính-Nguyễn Thái Bình mà tôi vẫn phải băng qua để ra đến Lê Lợi lại bị rào chắn gần hết ngã tư để đào hố đặt cống thoát nước gì đó, thành thử hai nẻo về nhà nẻo nào cũng kẹt. Chen chúc mãi mới về được đến nhà, đầu giờ chiều theo đường Nam kỳ khởi nghĩa trở lại cơ quan, đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Hàm Nghi lại một phen kinh hoàng. Từng đoàn xe tải, xe container dài ngoằng quẹo từ Hàm Nghi qua Nam kỳ khởi nghĩa để qua quận Tư tranh nhau từng centimet đường ở ngay cái ngã tư ấy với từng đoàn xe buýt nối đuôi nhau san sát như một bức tường dài từ phía quảng trường Quách Thị Trang theo đường Hàm Nghi qua, khiến cho cả ngã tư kẹt cứng dưới nắng nóng. Xe gắn máy giỏi luồn lách là thế mà đến đây nhiều chiếc cũng chịu. Không ít lần tôi chứng kiến những cảnh ú tim khi một vài chiếc gắn máy cố luồn lách suýt bị xe container hay xe buýt cán.
Đúng là thập diện mai phục. Cả một thành phố bị thập diện mai phục. Nói thế không ngoa, bởi không chỉ loanh quanh gần cơ quan tôi mà hầu như đi đường nào, lối nào xa hơn khu vực này cũng có thể gặp những chỗ kẹt xe như vậy.
Rồi lại còn cảnh này nữa: nhiều bữa mới sáng ra mọi người đổ xô ra đường đi làm hoặc đúng giờ trưa nhiều người về nhà hoặc đi đâu đó ngoài văn phòng, lại thấy mấy anh công viên cây xanh chặn đường chặn xá để tỉa cành cây. Tỉa cành để nhánh cây khỏi rớt trúng người đi đường trong mùa mưa gió thì tốt rồi, nhưng sao lại phải làm đúng vào những giờ ấy? Rồi còn cảnh những chiếc xe rác chen chúc giữa hàng đoàn xe gắn máy, cũng đúng vào giờ tan tầm. Sao không thể bố trí xe rác đi vào những giờ khác, khi đường ít xe cộ hơn? Còn những công trình che chắn, choán gần hết mặt đường khắp nơi, có cách gì đẩy nhanh hơn không? Sao chúng cứ kéo dài tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác? Những ngã tư thường xuyên bị kẹt xe nặng như Hàm Nghi-Nam kỳ khởi nghĩa, liệu có cách nào điều tiết giao thông tốt hơn không?
Những câu hỏi đại loại như vậy cứ quay quắt trong đầu, bởi vì đó chẳng phải là những ý tưởng to tát hay mới mẻ gì, chúng không quá khó thực hiện và cũng góp phần không nhỏ làm giảm đi nạn kẹt xe, nhưng không hiểu sao những người có nhiệm vụ quản lý giao thông ở thành phố này lại không thể làm? Những người quản lý đang ở đâu? Họ có trách nhiệm với cuộc sống người dân không? Sao không ai ra tay làm một cái gì cụ thể, thiết thực, mà chỉ thấy thỉnh thoảng “nhá” ra một tin, nào là sẽ “phạt nguội”, nào là sẽ lắp đặt camera tự động ghi hình các vi phạm để xử phạt? Súng bắn tốc độ ồn ào một dạo, camera ghi hình, những phương tiện hiện đại là cần, nhưng có vẻ như người ta đang sính những thứ “đồ chơi” đó hơn là việc nghiên cứu cặn kẽ, khoa học để tổ chức lại giao thông sao cho thật hợp lý (ngoài việc chuyển một số đường vốn nhỏ thành đường một chiều). Hay là việc sắm những thứ đồ chơi đó còn mang lại những thứ gì khác nữa?
Trong khi chờ đợi câu trả lời không biết có bao giờ đến chăng cho những câu hỏi mình tự đặt ra, mỗi trưa mỗi chiều, trên đường mệt mỏi vì khói bụi và kẹt xe để về nhà, tôi chỉ còn biết khẩn cầu: hỡi những nhà quản lý đang tìm cách “quản” đủ mọi thứ, kể cả nhật ký trên mạng (blog), xin hãy “quản” giùm người dân cái nạn thập diện mai phục này. Người ta đòi “quản” nhiều thứ, sao cái nạn này không ai nhảy ra đòi “quản” nhỉ?
P.S: Viết bài này xong mới tình cờ đọc được một chỉ đạo của Thường trực UBND TPHCM nghiêm cấm việc tổ chức đi cứu trợ riêng lẻ các nạn nhân vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ, do báo Tuổi Trẻ đăng từ ngày 8-10. Chỉ đạo cụ thể như sau: - “Thống nhất giao Ủy ban MTTQ TP.HCM làm đầu mối tiếp nhận các nguồn tiền - hàng do các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, cá nhân vận động và tổ chức đoàn đi thăm hỏi, động viên, hỗ trợ những gia đình bị nạn. Nghiêm cấm việc tổ chức đi thăm hỏi riêng lẻ”. Vì sao cái cần phải quản, mà quản cho tốt, người ta không chịu làm, lại cứ đi nhảy vào đòi quản những cái không thuộc chức năng Nhà nước thế nhỉ ?

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2007

“AN TOÀN LÀ BẠN…” VÀ LỐI TƯ DUY BIỀN NGẪU

Mỗi ngày đi ngang qua nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM đang xây trên đường Nam kỳ khởi nghĩa, khoảng giữa đưởng Tú Xương và Điện Biên Phủ, người đi đường thấy một băng-rôn treo ngay ở mặt tiền toà nhà, tuy nhỏ nhưng cũng đủ đập vào mắt: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”. Không rõ ở công trường xây dựng cầu cần Thơ người ta có treo khẩu hiệu này không, nhưng không chỉ ở công trường xây dựng nhà khách văn phòng Quốc hội tại TPHCM mà hầu như tại công trường xây dựng nào người ta cũng có thể bắt gặp khẩu hiệu trên. Phải chăng vì nó có vần có điệu, khiến người ta dễ nhớ nên người ta ưa ?

Cái lối văn có vần có điệu, cái lối văn biền ngẫu cả trong khẩu hiệu chính trị, lẫn trong tuyên truyền kinh tế hay văn hoá, thậm chí trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ vốn đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực xây dựng, xem ra đã ăn sâu vào đầu chúng ta, vào “văn hoá” của chúng ta. Nhưng, thử ngẫm kỹ mà xem, những “câu văn” có vần có điệu ấy, những “câu văn” nghe bùi tai và dễ nhớ ấy, chẳng hạn như câu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, liệu có nói được chính xác điều cần phải nói trong những lĩnh vực đòi hỏi sự ngắn gọn và chính xác ?

Trước hết, nó quá nặng ảnh hưởng của ngôn ngữ chính trị. Ai cũng biết, một trong những bài học đầu tiên của những người hoạt động cách mạng bí mật trước đây là phải biết phân biệt: ta – bạn – thù. “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có lẽ bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ chính trị đó. Nhưng trong thi công xây dựng, an toàn không chỉ là bạn, bởi bạn thì có bạn thân bạn sơ, bạn có lúc chơi lúc nghỉ. Lỡ một hôm nào, một lúc nào, người công nhân xây dựng hoặc anh kỹ sư phụ trách thi công hoặc anh giám sát buồn tình không thèm chơi với “bạn” thì sao ? Đó chẳng phải là nguồn gốc của thảm hoạ hay sao, như ở công trường xây dựng cầu Cần Thơ mà ai cũng biết ? Không, an toàn không chỉ là “bạn” muốn chơi thì chơi, muốn nghỉ thì nghỉ; an toàn trong thi công là đòi hỏi đầu tiên, tuyệt đối, không thể nhân nhượng. Do đó, nói “an toàn là bạn” nghe thì hay đấy, kêu đấy, có vần có điệu đấy, nhưng hoàn toàn không nói lên được tính chất nghiêm ngặt, chính xác của đòi hỏi. Thay vì nói có vần có điệu như vậy, người ta chỉ cần nói ngắn gọn “an toàn trên hết” (safety first), có phải là chính xác, mạnh mẽ hơn không ?

Nhưng khổ nỗi, chúng ta đã quá quen với thứ tư duy biền ngẫu, đối xứng, có trên có dưới, có tả có hữu, có trong có ngoài, có chủ quan có khách quan… mất rồi. Vậy nên, sau “an toàn là bạn”, ắt phải có “tai nạn là thù”. “Nạn” vần với “bạn”, “bạn” đối với “thù”, còn gì hay hơn, xuôi tai hơn, dễ nhớ hơn ? Nhưng thử hỏi, nếu không coi an toàn là trên hết, là đòi hỏi tuyệt đối, không thể nhân nhượng, để rồi tai nạn xảy ra, liệu người công nhân, người kỹ sư phụ trách thi công có còn sống để mà nhận ra ai là bạn, ai là thù ? Chỉ cần tắc trách, lơi lỏng ở một khâu nào đó, một chi tiết nào đó, “thù” đã cướp đi sinh mạng của họ trước khi họ kịp nhận ra nó. Cho nên ở những lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực thi công xây dựng (tôi nghĩ tới việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai mà rùng mình), những câu khẩu hiệu có vần có điệu hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu làm cho người ta nhận thức rõ, chính xác vấn đề để có biện pháp phù hợp. Vần điệu nghe xuôi tai nhưng chưa chắc đã làm người ta chú ý. Cũng như một gương mặt tròn trịa, một gương mặt Thuý Vân chưa chắc đã làm người ta nhớ lâu.

Xa hơn, lối tư duy, lối văn biền ngẫu, đối xứng không chỉ có trong nhiều khẩu hiệu ở ta. Nó còn đi vào cả những văn kiện chính thức của không ít tổ chức và những bài diễn văn trang trọng của không ít quan chức với lối nói đối xứng, liệt kê đủ cả thành tích - tồn tại, khách quan - chủ quan, trực tiếp - gián tiếp, trên - dưới, trong - ngoài…có vần có điệu, nghe thì sướng, xuôi tai, nhưng cái chính yếu nhất, cái tư tưởng hay thông điệp cốt lõi thì lại chẳng thể, hay rất khó, tìm ra.

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

MUỐN GIÁM SÁT, PHẢI CÓ NĂNG LỰC GIÁM SÁT

TBKTSG số 28-2007 đăng chuyền đề “Để nâng cao chất lượng làm luật”. Dựa vào ý kiến của nhiều luật sư và chuyên gia thuộc nhiều ngành khác nhau và dựa trên thực tế nhiều luật ban hành thiếu tính khả thi hoặc thiên vị lợi ích của cơ quan hành pháp, cũng là người soạn thảo luật, mà xem nhẹ lợi ích của xã hội (ví dụ cụ thể và mới nhất là dự thảo luật về hội), chuyên đề đã đặt vấn đề giới hạn độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp và tăng cường năng lực soạn thảo luật của cơ quan lập pháp cũng như trao quyền soạn thảo dự án luật cho các tổ chức và đoàn thể xã hội.

Sau khi báo ra, chuyên đề đã lập tức nhận được sự phản hồi từ nhiều chuyên gia luật pháp, chứng tỏ nó đã “gãi đúng chỗ ngứa”, đặt đúng vấn đề bức xúc và vẫn đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau lâu nay. Tất nhiên, hai ba bài viết trong một chuyên đề và những bài trao đổi lại sau đó chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề đặt ra cũng như chưa thể đưa đến sự đồng thuận. Dù sao nó cũng cho thấy tầm mức quan trọng của vấn đề và đào sâu thêm được những khía cạnh có liên quan. Với số báo này, chúng tôi tạm kết thúc cuộc trao đổi ở đây và mong rằng nó sẽ còn được tiếp tục ở những diễn đàn khác để có thể đi đến một sự thống nhất nào đó, một sự thống nhất rất quan trọng để phát triển hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Để tạm đúc kết, phải nói rằng trong các ý kiến phát biểu trực tiếp hoặc được trích dẫn trong chuyên đề, không có ý kiến nào đòi xóa bỏ quyền soạn thảo và trình dự án luật của cơ quan hành pháp mà chỉ đặt vấn đề, để nâng cao chất lượng làm luật, cần hạn chế bớt độc quyền này đồng thời tăng cường khả năng soạn thảo và trình dự án luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức, đoàn thể xã hội. Điểm thứ hai: có sự thừa nhận chung về những sự bất cập trong quy trình làm luật hiện nay, vì độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp khó tránh khỏi dẫn đến chỗ soạn thảo luật chỉ nhắm thuận tiện cho công việc quản lý nhà nước mà không chú ý thích đáng đến lợi ích của các tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên, đến giải pháp thì các ý kiến lại có sự khác biệt. Có ý kiến cho rằng, cơ quan hành pháp vẫn phải là nơi soạn thảo luật chủ yếu và có thể ngăn ngừa sư lạm quyền của cơ quan soạn thảo bằng các chốt chặn trong quy trình soạn thảo và thông qua một dự luật, nhất là bằng vai trò phản biện và giám sát của Quốc hội. Có ý kiến ngược lại, cho rằng cần tăng cường khả năng và quyền soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội và các tổ chức, đoàn thể xã hội.

Xét thực tiễn làm luật ở nước ta, chúng tôi cho rằng vẫn cần mở rộng quyền và khả năng soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức và đoàn thể xã hội, tuy nhiên điều quan trọng nhất không phải là ai soạn thảo luật mà là quy trình soạn thảo như thế nào để thu hút được sự đóng góp có giá trị của xã hội; và quy trình giám sát, phản biện và thông qua tại Quốc hội như thế nào để luật được thông qua thật sự có chất lượng. Nhưng muốn Quốc hội đóng được vai trò giám sát, phản biện và quyết định với đầy đủ sự thông hiểu thì mỗi đại biểu phải có đủ năng lực làm việc đó. Câu hỏi đặt ra là: với đa số đại biểu không phải là chuyên trách, mọi đại biểu dân cử của ta phải chăng đã có đầy đủ khả năng này, và làm thế nào để đạt tới đó?

“Không có Thánh Gióng”!

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, đã nói một cách hình ảnh như vậy khi đề cập đến các doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cam kết WTO hiện nay (Hậu WTO: Doanh nghiệp “xung kích trong bị động” - VietnamNet 21-8-2007).

Bà cho rằng 95% doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong số đó phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, rất ít doanh nghiệp vừa. Các doanh nghiệp nhỏ, đa số mới thành lập, thiếu và yếu đủ mặt, từ vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ năng quản trị đến cơ hội tiếp cận thị trường. Sau khi đất nước đã gia nhập WTO, môi trường cạnh tranh vẫn chưa được cải thiện là bao, vì vậy mà theo bà, sau hơn 20 năm đổi mới hầu như không có doanh nghiệp nhỏ nào vươn lên thành doanh nghiệp lớn được. Không có “doanh nghiệp Thánh Gióng”! Mà môi trường cạnh tranh, theo bà, phụ thuộc vào Nhà nước. “Không thể bảo doanh nghiệp cạnh tranh đi, khi không cho họ môi trường”, bà nói. Dẫn con số chỉ 8% doanh nghiệp Việt Nam hiểu biết và tận dụng được cơ hội do hội nhập mang lại sau 12 năm đất nước hội nhập khu vực và thế giới, bà đặt dấu hỏi liệu sau 12 năm Việt nam trở thành thành viên WTO, tình hình có lặp lại như vậy ?

Qủa thật, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ ra đời trong quá trình đổi mới, sinh sau đẻ muộn nên không có các lợi thế về đất đai mặt bằng, cơ hội tiếp cận tín dụng, cơ hội kinh doanh hoặc cả những lợi thế vô hình như các mối quan hệ mà những doanh nghiệp nhà nước lớn đã nắm từ trước. Tuy nhiên, nếu như có được môi trường kinh doanh bình đẳng và thông thoáng, một số doanh nghiệp đi sau vẫn có thể làm nên chuyện. Đáng tiếc, về môi trường cạnh tranh, có ai không giật mình, chẳng hạn, trước con số gây sốc mà Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đưa ra mới đây về lượng thời gian mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thành các thủ tục về thuế: 245 ngày/năm ? Hoặc như việc tham vấn ý kiến doanh nghiệp về các chính sách, quy định liên quan đến kinh doanh mà bà Lan cho rằng còn rất hạn chế: “Hỏi nhiều, nghe ít, tiếp nhận càng ít hơn nữa”.

Dễ hiểu là trong điều kiện như vậy làm sao có được những “doanh nghiệp Thánh Gióng”, những doanh nghiệp làm ta ít nhiều liên tưởng đến những Microsoft, những Yahoo!, những Google – dù là ở quy mô nhỏ hơn ?

Thế nên, trở lại vấn đề doanh nghiệp và WTO, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào Nhà nước với tư cách là người tạo lập sân chơi bằng phẳng, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng. Và các cam kết WTO, do đó, cần phải trở thành một sức ép không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả đối với bộ máy quản lý, buộc nó phải chuyển đổi cung cách quản lý nhanh hơn, mới hơn, mở hơn.

Mà không riêng trong lĩnh vực kinh doanh, trong tất cả các lĩnh vực khác từ quản lý giáo dục đến quản lý văn hóa, quản lý báo chí... cam kết WTO phải trở thành ngọn roi thúc bộ máy quản lý nhanh chóng chuyển đổi cho phù hợp với qúa trình hội nhập.