Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007
Dân trí… không từ trên trời rơi xuống !
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2007
ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KHÔNG CHỈ DỰA VÀO GIA TĂNG ĐẦU VÀO
Những cuộc đình công diễn ra trên diện khá rộng và hầu như định kỳ, do sự phân phối thiếu công bằng thành quả của tăng trưởng kinh tế mà đồng lương không đủ sống của công nhân tại các khu công nghiệp là biểu hiện rõ ràng nhất, cho thấy sự tăng trưởng đạt được là chưa bền vững. Một nền kinh tế mà khả năng cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ là một nền kinh tế tiềm ẩn nhiều bất ổn về mặt xã hội và cả về khả năng tăng trưởng lâu dài.
Nhưng mặt khác, đồng lương công nhân thấp một phần bắt nguồn từ năng suất thấp của lực lượng nhân công nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết tại kỳ họp Quốc hội hôm 22-10 trong báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2007 và kế hoạch năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả năm 2007 ước đạt khoảng 8,5% (kế hoạch 8,2 - 8,5%), mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên, như thường lệ từ nhiều năm nay, báo cáo đánh giá rằng năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như từng ngành, từng doanh nghiệp vẫn còn thấp.
Quả thật, nền kinh tế những năm qua tuy có tăng trưởng cao nhưng chủ yếu là do tăng các yếu tố đầu vào, đặc biệt là các luồng vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế (ODA, FDI và gần đây là vốn đầu tư gián tiếp, chủ yếu vào thị trường chứng khoán), còn phần do năng suất lao động mang lại không đáng kể. Nếu lấy hệ số ICOR (hiểu nôm na là phải bỏ vào bao nhiêu đồng vốn để làm ra một đồng giá trị tăng thêm; hệ số càng cao thì hiệu quả nền kinh tế càng thấp) làm thước đo hiệu quả của nền kinh tế, thì tình hình không có gì đáng lạc quan. Bởi nếu như cách nay hơn 10 năm, hệ số ICOR của Việt Nam là 3,39 (năm 1995) thì năm 2006 hệ số này đã lên tới gần 6, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 3,6 lên 7,28.
Làm cách nào để thoát ra khỏi vòng lẩn quẩn: năng suất thấp dẫn đến đồng lương thấp; đến lượt nó đồng lương thấp, không đủ sống, lại tác động trở lại làm năng suất sụt giảm ? Đã đến lúc, để có được sự thay đổi về chất trong tăng trưởng, để tăng trưởng không chỉ dựa vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào như bơm thêm vốn, giữ mức lương công nhân quá thấp, chưa nói đến việc phải loại bỏ lãng phí và tham nhũng, cần làm sao để tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc tăng năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám trong mỗi sản phẩm, dịch vụ làm ra. Muốn vậy, không có con đường nào khác ngoài việc thật sự tập trung cho phát triển khoa học công nghệ và giáo dục, nhất là giáo dục đại học để cho ra một lực lượng nhân công có tay nghề, một lực lượng trí thức có khả năng góp chất xám vào sự phát triển kinh tế xã hội. Vấn đề là, để làm được điếu ấy, chúng ta có đủ dũng cảm và quyết tâm làm một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học và trong tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ hay không. Bởi nói gì thì nói, đó vẫn là hai vấn đề bức xúc lớn cả đối với giới chuyên môn lẫn dư luận xã hội rộng rãi hiện nay.
(Đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 22-10-2007)
Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2007
Thập diện mai phục
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2007
“AN TOÀN LÀ BẠN…” VÀ LỐI TƯ DUY BIỀN NGẪU
Cái lối văn có vần có điệu, cái lối văn biền ngẫu cả trong khẩu hiệu chính trị, lẫn trong tuyên truyền kinh tế hay văn hoá, thậm chí trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ vốn đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực xây dựng, xem ra đã ăn sâu vào đầu chúng ta, vào “văn hoá” của chúng ta. Nhưng, thử ngẫm kỹ mà xem, những “câu văn” có vần có điệu ấy, những “câu văn” nghe bùi tai và dễ nhớ ấy, chẳng hạn như câu “an toàn là bạn, tai nạn là thù”, liệu có nói được chính xác điều cần phải nói trong những lĩnh vực đòi hỏi sự ngắn gọn và chính xác ?
Trước hết, nó quá nặng ảnh hưởng của ngôn ngữ chính trị. Ai cũng biết, một trong những bài học đầu tiên của những người hoạt động cách mạng bí mật trước đây là phải biết phân biệt: ta – bạn – thù. “An toàn là bạn, tai nạn là thù” có lẽ bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ chính trị đó. Nhưng trong thi công xây dựng, an toàn không chỉ là bạn, bởi bạn thì có bạn thân bạn sơ, bạn có lúc chơi lúc nghỉ. Lỡ một hôm nào, một lúc nào, người công nhân xây dựng hoặc anh kỹ sư phụ trách thi công hoặc anh giám sát buồn tình không thèm chơi với “bạn” thì sao ? Đó chẳng phải là nguồn gốc của thảm hoạ hay sao, như ở công trường xây dựng cầu Cần Thơ mà ai cũng biết ? Không, an toàn không chỉ là “bạn” muốn chơi thì chơi, muốn nghỉ thì nghỉ; an toàn trong thi công là đòi hỏi đầu tiên, tuyệt đối, không thể nhân nhượng. Do đó, nói “an toàn là bạn” nghe thì hay đấy, kêu đấy, có vần có điệu đấy, nhưng hoàn toàn không nói lên được tính chất nghiêm ngặt, chính xác của đòi hỏi. Thay vì nói có vần có điệu như vậy, người ta chỉ cần nói ngắn gọn “an toàn trên hết” (safety first), có phải là chính xác, mạnh mẽ hơn không ?
Nhưng khổ nỗi, chúng ta đã quá quen với thứ tư duy biền ngẫu, đối xứng, có trên có dưới, có tả có hữu, có trong có ngoài, có chủ quan có khách quan… mất rồi. Vậy nên, sau “an toàn là bạn”, ắt phải có “tai nạn là thù”. “Nạn” vần với “bạn”, “bạn” đối với “thù”, còn gì hay hơn, xuôi tai hơn, dễ nhớ hơn ? Nhưng thử hỏi, nếu không coi an toàn là trên hết, là đòi hỏi tuyệt đối, không thể nhân nhượng, để rồi tai nạn xảy ra, liệu người công nhân, người kỹ sư phụ trách thi công có còn sống để mà nhận ra ai là bạn, ai là thù ? Chỉ cần tắc trách, lơi lỏng ở một khâu nào đó, một chi tiết nào đó, “thù” đã cướp đi sinh mạng của họ trước khi họ kịp nhận ra nó. Cho nên ở những lĩnh vực đòi hỏi sự chính xác cao độ như lĩnh vực thi công xây dựng (tôi nghĩ tới việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân tương lai mà rùng mình), những câu khẩu hiệu có vần có điệu hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu làm cho người ta nhận thức rõ, chính xác vấn đề để có biện pháp phù hợp. Vần điệu nghe xuôi tai nhưng chưa chắc đã làm người ta chú ý. Cũng như một gương mặt tròn trịa, một gương mặt Thuý Vân chưa chắc đã làm người ta nhớ lâu.
Xa hơn, lối tư duy, lối văn biền ngẫu, đối xứng không chỉ có trong nhiều khẩu hiệu ở ta. Nó còn đi vào cả những văn kiện chính thức của không ít tổ chức và những bài diễn văn trang trọng của không ít quan chức với lối nói đối xứng, liệt kê đủ cả thành tích - tồn tại, khách quan - chủ quan, trực tiếp - gián tiếp, trên - dưới, trong - ngoài…có vần có điệu, nghe thì sướng, xuôi tai, nhưng cái chính yếu nhất, cái tư tưởng hay thông điệp cốt lõi thì lại chẳng thể, hay rất khó, tìm ra.
Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007
MUỐN GIÁM SÁT, PHẢI CÓ NĂNG LỰC GIÁM SÁT
TBKTSG số 28-2007 đăng chuyền đề “Để nâng cao chất lượng làm luật”. Dựa vào ý kiến của nhiều luật sư và chuyên gia thuộc nhiều ngành khác nhau và dựa trên thực tế nhiều luật ban hành thiếu tính khả thi hoặc thiên vị lợi ích của cơ quan hành pháp, cũng là người soạn thảo luật, mà xem nhẹ lợi ích của xã hội (ví dụ cụ thể và mới nhất là dự thảo luật về hội), chuyên đề đã đặt vấn đề giới hạn độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp và tăng cường năng lực soạn thảo luật của cơ quan lập pháp cũng như trao quyền soạn thảo dự án luật cho các tổ chức và đoàn thể xã hội.
Sau khi báo ra, chuyên đề đã lập tức nhận được sự phản hồi từ nhiều chuyên gia luật pháp, chứng tỏ nó đã “gãi đúng chỗ ngứa”, đặt đúng vấn đề bức xúc và vẫn đang có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau lâu nay. Tất nhiên, hai ba bài viết trong một chuyên đề và những bài trao đổi lại sau đó chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề đặt ra cũng như chưa thể đưa đến sự đồng thuận. Dù sao nó cũng cho thấy tầm mức quan trọng của vấn đề và đào sâu thêm được những khía cạnh có liên quan. Với số báo này, chúng tôi tạm kết thúc cuộc trao đổi ở đây và mong rằng nó sẽ còn được tiếp tục ở những diễn đàn khác để có thể đi đến một sự thống nhất nào đó, một sự thống nhất rất quan trọng để phát triển hệ thống pháp luật và nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Để tạm đúc kết, phải nói rằng trong các ý kiến phát biểu trực tiếp hoặc được trích dẫn trong chuyên đề, không có ý kiến nào đòi xóa bỏ quyền soạn thảo và trình dự án luật của cơ quan hành pháp mà chỉ đặt vấn đề, để nâng cao chất lượng làm luật, cần hạn chế bớt độc quyền này đồng thời tăng cường khả năng soạn thảo và trình dự án luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức, đoàn thể xã hội. Điểm thứ hai: có sự thừa nhận chung về những sự bất cập trong quy trình làm luật hiện nay, vì độc quyền soạn thảo luật của cơ quan hành pháp khó tránh khỏi dẫn đến chỗ soạn thảo luật chỉ nhắm thuận tiện cho công việc quản lý nhà nước mà không chú ý thích đáng đến lợi ích của các tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên, đến giải pháp thì các ý kiến lại có sự khác biệt. Có ý kiến cho rằng, cơ quan hành pháp vẫn phải là nơi soạn thảo luật chủ yếu và có thể ngăn ngừa sư lạm quyền của cơ quan soạn thảo bằng các chốt chặn trong quy trình soạn thảo và thông qua một dự luật, nhất là bằng vai trò phản biện và giám sát của Quốc hội. Có ý kiến ngược lại, cho rằng cần tăng cường khả năng và quyền soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội và các tổ chức, đoàn thể xã hội.
Xét thực tiễn làm luật ở nước ta, chúng tôi cho rằng vẫn cần mở rộng quyền và khả năng soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội cũng như của các tổ chức và đoàn thể xã hội, tuy nhiên điều quan trọng nhất không phải là ai soạn thảo luật mà là quy trình soạn thảo như thế nào để thu hút được sự đóng góp có giá trị của xã hội; và quy trình giám sát, phản biện và thông qua tại Quốc hội như thế nào để luật được thông qua thật sự có chất lượng. Nhưng muốn Quốc hội đóng được vai trò giám sát, phản biện và quyết định với đầy đủ sự thông hiểu thì mỗi đại biểu phải có đủ năng lực làm việc đó. Câu hỏi đặt ra là: với đa số đại biểu không phải là chuyên trách, mọi đại biểu dân cử của ta phải chăng đã có đầy đủ khả năng này, và làm thế nào để đạt tới đó?