Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009

MỘT NGƯỜI THẦY CỦA TÔI

Linh mục Trương Bá Cần, Tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc, nguyên tổng tuyên úy (tức người hướng dẫn tinh thần) phong trào Thanh Lao Công (Thanh niên Lao động Công giáo) miền Nam trước 30-4-1975 đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 10-7-2009. Trưa 10-7, tôi nhận được cú điện thoại từ tòa soạn báo Tuổi Trẻ khẩn khoản đề nghị tôi viết một bài ngắn dài gì cũng được về Lm Cần. Tôi lưỡng lự vì cả đêm trước mất ngủ tới sáng, chiều nay lại phải đi viếng linh cữu Lm Cần, người đặt bài lại nằn nì phải giao bài trước 5 giờ chiều, quá căng thẳng. Nhưng nghĩ lại, giữa Lm Cần và mình có mối duyên nợ đặc biệt (hồi mới lên đại học, do tình cờ mà tôi đến tá túc ở 370 Lê Văn Duyệt – CMT8 bây giờ, rồi trở thành đoàn viên phong trào TLC, được làm việc với ông, rồi bị cuốn hút vào phong trào SVHS Sài Gòn lúc nào không hay) đành không chợp mắt cả buổi trưa, viết xong bài này kịp mail cho tòa soạn TT trước 4giờ chiều. Kịp lên đường đi viếng Lm.
Bài viết đăng trên TT 11-7-2009 có tựa khác. Ở đây tôi lấy tựa có tính riêng tư hơn.

MỘT NGƯỜI THẦY CỦA TÔI

Linh mục Trương Bá Cần đã ra đi.

Nhớ đến ông, người ta nhớ đến một giai đoạn sôi nổi của phong trào đô thị chống chiến tranh xâm lược Mỹ, đòi hòa bình, đòi dân sinh dân chủ ở Sài Gòn trước 30-4-1975, một phong trào qui tụ nhiều tầng lớp khác nhau, từ trí thức, sinh viên học sinh đến công nhân lao động, chức sắc các tôn giáo trong đó có ông, một người luôn muốn nối kết Công giáo với Dân tộc, muốn người Công giáo trong khi vẫn là mình thì vẫn luôn sống trong lòng dân tộc.

Nhớ đến ông, người ta nhớ đến loạt bài báo mang tính chất nghiên cứu “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miến Bắc” đăng 3 kỳ lần đầu tiên trên tạp chí Đối Diện vào năm 1971 mà vì nó tác giả và chủ nhiệm báo phải “vác chiếu ra tòa” và lãnh án 9 tháng tù giam. Là tiến sĩ sử học Sorbonne, trong điều kiện tư liệu hiếm hoi về miền Bắc ở Sài Gòn lúc bấy giờ, ông đã cố gắng để trình bày một bức tranh chân thực hơn những gì người dân miền Nam được biết về quá trình tái thiết sau chiến tranh và sản xuất dưới bom đạn Mỹ ở miền Bắc. Loạt bài báo có thể nói đã gây một cơn sốt tìm đọc trong giới trí thức và sinh viên học sinh ở miền Nam lúc bấy giờ.

Nhớ đến ông, người ta nhớ đến việc ông cùng với các linh mục Phan Khắc Từ, Trần Thế Luân cùng tham gia cuộc đấu tranh của công nhân hang Pin Con Ó, bị bắt rồi bị thả ngoài và ngồi tuyệt thực trên lề đường Nguyễn Trãi; nhớ đến cuộc vận động đốt thẻ cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 10-1971; nhớ đến cuộc tuyệt thực của ông và một số linh mục khác để đòi trả tự do cho công nhân và sinh viên học sinh bị bắt. Mặc dù sau 30-4-1975 ông có 33 năm liên tục làm Tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc, có những công trình nghiên cứu lịch sử đáng chú ý như về Nguyễn Trường Tộ… nhớ đến ông, người ta vẫn nhớ nhất những tháng ngày ông cùng với các đồng đạo của mình hòa mình vào cuộc đấu tranh chung của người dân các đô thị miền Nam vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, không phân biệt Công giáo, Phật giáo hay không tôn giáo.

Với tôi và một số người khác, những thanh niên mới bước chân vào đại học, mới bước những bước đầu tiên vào đời trong những năm tháng ấy, trong một môi trường sống không thiếu điều kiện để hư hỏng nếu muốn hư hỏng, phải nói, được biết ông và làm việc với ông là một may mắn. Ông là người thầy của chúng tôi trong giai đoạn đầi tiên, một người thầy vừa giản dị vừa nghiêm khắc, người đầu tiên gieo vào đầu óc chúng tôi tình tự dân tộc, luôn hướng chúng tôi đến những điều tốt đẹp và không chấp nhận cho chúng tôi sống không có lý tưởng. Trong cuốn sách tự thuật “50 năm nhìn lại” mới xuất bản năm 2008, ông kể: Tháng 10-1971, nhằm phản đối cuộc bầu cử độc diễn củ Nguyễn Văn Thiệu, một số sinh viên, học sinh công giáo đã tham gia xuống đường đốt xe Mỹ. Một số lén sử dụng căn phòng của ông trong giáo xứ Vườn Xoài (trên đường Lê Văn Sỹ hiện nay) để chế tạo bom xăng lúc ông không có mặt, cảnh sát phát hiện, kéo đến lập biên bản, người ta gọi ông về để chứng kiến. Có người tỏ vẻ trách móc ông, ông đã nói như quát: “Anh em thanh niên làm bom xăng đốt xe Mỹ, để đuổi Mỹ về nước cho đất nước hòa bình, cho nhân dân khỏi khỏ. Điều chúng ta không dám làm, anh em trẻ dám làm, sao gọi là xấu hổ?”. Ông là vậy, không ồn ào, nhưng không kém quyết liệt khi cần.

Trên con đường đến với dân tộc và góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, tất nhiên có người đi xa, có người đi gần, nhưng tôi nghĩ, dù không phải lúc nào cũng đồng ý với ông, trong lớp chúng tôi, sẽ chẳng ai quên được ông, người giúp chúng tôi biết giữ “đạo làm người”, như ông hay nói mỗi khi đối diện với cảnh sát chế độ Sài Gòn trong các cuộc đấu tranh.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009

650 chữ sao mà khó!

Mục “Ý kiến” trên TBKTSG chỉ khoảng 650 chữ, dài hơn thì không lọt vô khung, ngắn hơn thì thừa diện tích, trình bày không đẹp. Chỉ 650 chữ hàng tuần, nhưng sao mà khó!

Cái khó đầu tiên là đề tài. Viết cái gì tuần này cho mục “Ý kiến” lắm khi là một cơn ác mộng nho nhỏ đối với ba, bốn cây “bỉnh bút” trong toà soạn (mục này ký tên chung là Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhưng do ba, bốn người luân phiên viết). Viết cái gì để đáp ứng đúng điều mà độc giả đang trông đợi được đọc tuần này (chứ không phải điều gì khác, cũng không phải tuần nào khác, lúc nào khác)? Nói cách khác, vấn đề đặt ra phải “rơi” đúng thời điểm. Và tìm cho ra vấn đề không phải là dễ. Nó đòi hỏi người viết và cả toà soạn phải bắt mạch được tâm lý, nhu cầu, sự mong đợi hay bức xúc của người đọc ở từng thời điểm cụ thể. “Nhạy” hay không là ở chỗ đó. “Ăn” hay không là ở chỗ đó. Người đọc, hay xã hội nói chung, đang băn khoăn, mong đợi một tiếng nói góp phần lý giải một hiện tượng nào đó, thúc đẩy giải quyết một vấn đề nào đó mà bài báo lại đi nói chuyện đâu đâu thì đó là cách làm cho người đọc sớm xa rời tờ báo.

Có đề tài rồi, viết như thế nào là cái khó thứ hai. Chính ở chỗ này thể hiện quan điểm, chính kiến đúng đắn hay sai lạc, sâu sắc hay hời hợt của một tờ báo trước những vấn đề đang đặt ra, trước những câu hỏi chưa có lời giải đáp, những ý kiến còn trái chiều, những luồng suy nghĩ còn phân vân. Cũng chính vì thế mà mục xã luận hay ý kiến của các tờ báo thường được nhiều người tìm đọc tuy không phải là loại bài hấp dẫn nhất, và nó cũng góp phần tạo nên uy tín của một tờ báo. Cái khó ở đây là trước một sự kiện, một hiện tượng hay vấn đề đặt ra, phải nắm được bản chất sâu xa của nó để có thể đề xuất với người đọc một cách nhìn, cách lý giải hợp lý, hợp quy luật khách quan, góp phần thúc đẩy sự việc chuyển biến, xã hội phát triển. Điều này càng khó khi nền kinh tế, và xã hội nói chung, đang chuyển đổi từ hình thái này sang hình thái khác, từ cơ chế vận hành này sang cơ chế vận hành khác, từ bao cấp, phi thị trường sang thị trường, từ thị trường hoang dã sang thị trường văn minh hơn.

Cái khó tiếp theo là cách thể hiện. Có quan điểm đúng rồi, còn phải lập luận sao cho thuyết phục. Lôgich, chặt chẽ, cô đọng, ngắn gọn nhưng đầy đủ, đó là những yêu cầu của mục xã luận hay ý kiến. Ở đây đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối của thông tin, sự chuẩn xác của ngôn ngữ, của từng từ “đặt xuống”. Chính vì vậy mà để viết ra 650 chữ có khi phải suy nghĩ lao lung, phải kiểm tra lại từng nguồn tin, nguồn tư liệu liên quan đến đề tài, đảm bảo tuyệt đối không để xảy ra sai sót. Về hành văn, ở đây không có chỗ cho sự dông dài, sự màu mè. Những chi tiết đắt giá, thường rất cần ở những thể loại khác, ở đây lại chỉ được sử dụng hết sức chọn lọc, khi nó góp phần gia tăng sức nặng của lập luận. Nhiều phóng viên có sở trường viết những thể loại khác như phóng sự, tường thuật, kể cả phân tích, bình luận dài, khi được đề nghị tham gia viết mục “Ý kiến” cũng không khỏi cảm thấy khó khăn, lúng túng.

Nhiều độc giả phản hồi cho biết họ thích mục “Ý kiến” trên TBKTSG. Phải nói rằng, dù hết sức cố gắng, toà soạn biết không phải lúc nào mình cũng đáp ứng được mong đợi của bạn đọc. Có nhiều đề tài chưa được đề cập, vì lý do này hoặc lý do khác. Có nhiều ý kiến “chưa tới”, chưa thật thấu đáo, sâu sắc, thuyết phục. Có nhiều ý tưởng, vì nhiều lý do, chưa được triển khai đến cùng. Có điều, toà soạn vẫn luôn tâm niệm: 650 chữ hàng tuần của mục “Ý kiến” phải luôn nhắm đúng điều mà bạn đọc mong đợi và phải góp phần thúc đẩy cuộc sống, thúc đẩy hiện thực tốt hơn lên.

Bài này viết về cái khó của 650 chữ, nhưng đã dài hơn 800 chữ. Vì vậy, xin phép độc giả được khép lại tại đây.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009

Ngoại giao? Ngoại giao cho ai?


Không biết ai là người đầu tiên nảy ra cái ý gọi đoạn đường Nguyễn Văn trỗi-Nam kỳ khởi nghĩa là “con đường ngoại giao”, ý muốn nói đây là đoạn đường “bộ mặt” của TPHCM dưới mắt du khách từ sân bay Tân Sơn Nhứt đi vào trung tâm thành phố. Đoạn đường dài chỉ 3,8 km, từ ngã tư Nguyễn Văn Trỗi-Hoàng Văn Thụ đến ngã tư Nam kỳ khởi nghĩa-Võ Thị Sáu, khởi công mở rộng, nâng cấp từ tháng 12-2005 đến nay, sau ba năm rưỡi vẫn ngổn ngang lô cốt, đất đá, ổ gà, bụi mù mỗi sáng mỗi chiều. “Con đường ngoại giao”, mỉa mai thay, đã trở thành con đường phản ngoại giao, bôi bác ngoại giao bậc nhất.
Năm 2007, trước sự kêu ca của dư luận, một quan chức Sở Giao thông vận tải hứa đầu năm 2009 sẽ hoàn thành đoạn đường 3,8km này. Lúc ấy, nghĩ đến thời hạn đầu 2009 mới xong, mọi người đã thấy quá đỗi bực bội. Nhưng rồi, trước những lời giải thích, biện minh về những nguyên nhân chậm trễ, nào là giải phóng mặt bắng chậm, nào là cac ngành chậm di dời công trình ngầm, nào là tiến độ nâng cấp đoạn đường phụ thuộc vào tiến độ công trình đặt cống thuộc dự án vệ sinh môi trường Nhiêu Lộc-Thị Nghè, dư luận cũng chẳng còn cách nào hơn là chấp nhận và chờ đợi. Vậy mà bây giờ năm 2009 đã qua được một nửa, đoạn đường ngắn vẫn ngổn ngang, nhếch nhác và không ai biết bao giờ sẽ xong. Quan chức chịu trách nhiệm lại giải thích. Vẫn chừng ấy lý do, không có gì mới.
“Con đường ngoại giao”! Tại sao phải là “ngoại giao”? Tại sao phải là “bộ mặt”? Chẳng lẽ những con đường không phải là « ngoại giao », không phải là « bộ mặt » thì chất lượng được phép kém hơn, được chăng hay chớ ? Còn nếu hiểu ngoại giao là lịch sự với người khác thì tại sao không « lịch sự » trước hết với dân cho dân nhờ, bằng cách thi công chóng vánh, đạt chất lượng ? Bao giờ thì các quan chức bỏ được cái tư duy, cái tâm lý « ngoại giao », « bộ mặt » đó để mỗi công trình phục vụ người dân phải là một công trình với chất lượng cao nhất, cả về mặt thi công lẫn sử dụng ? Và với một « con đường ngoại giao » mà chất lượng thi công như thế thì người dân có thể trông đợi gì ở những con đường không phải là « ngoại giao », là « bộ mặt » ?
Hơn 800 tỉ đồng đầu tư và ba năm rưỡi (cho tới nay) cho việc mở rộng một đoạn đường đã có sẵn nền đường, dài chưa đến 4 cây số, cái mà người dân có được cho tới nay là một đoạn đường lởm chởm, là những lô cốt choán gần hết mặt đường ở nhiều đoạn, không biết còn tồn tại đến bao giờ, là những lề đường cao một cách khó hiểu, là một chiếc cầu Công lý xây không thể nào xấu hơn, là đất đá bụi bặm tung toé...Và khi hoàn tất chưa chắc đã bớt nạn kẹt xe.
Dư luận kêu ca thì cũng đã kêu ca hết mức rồi. Giải thích thì quanh đi quẩn lại cũng ngần ấy lý do. Chỉ một vấn đề chưa được đặt ra là vì sao các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị chịu trách nhiệm không hề có một cam kết nào với người dân về thời hạn thi công công trình, về chất lượng thi công và chất lượng công trình. Người dân khi quan hệ với nhà nước để thực hiện các dịnh vụ công, trong rất nhiều lĩnh vực đều phải cam kết thực hiện một số điều kiện, và nếu người dân không thực hiện đúng sẽ bị trừng phạt ngay. Người sản xuất kinh doanh ngay thẳng thử mà không đóng thuế đúng hạn cho nhà nước xem, sẽ bị hỏi « hỏi thăm » ngay. Ấy vậy mà ở đây người ta đang dùng tiền đóng thuế của dân (có vay ODA rồi người dân cũng sẽ phải đóng thuế để trả thôi) để thi công các công trình mà không hề có một cam kết nào với người dân. Người dân thì chịu đựng thiệt hại ngày này qua ngày khác (ô nhiễm, ùn tắc giao thông, mất cơ hội buôn bán), cón quan chức liên quan thì làm như không thấy, không nghe, không hay biết. Bao giờ người ta biết cam kết và giữ đúng cam kết với dân ?

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

NGƯỜI THẦY TIẾNG VIỆT CỦA TÔI


Đó là thầy Vũ Tất Thắng. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in gương mặt vừa nghiêm nghị vừa thanh tú, với đôi mắt to, sáng và sống mũi cao, mái tóc húi cao của thầy; nhớ chiếc áo dài the đen mà thầy mặc mỗi khi vào lớp, trong khi những người thầy khác hồi học đại học sau này tôi lại không còn nhớ nổi một gương mặt nào.
Năm 1961, sau khi thi đậu tiểu học ở Phước Tuy (Bà Rịa bây giờ), tôi bắt đầu vô học trường dòng Phanxicô ở Thủ Đức, theo chương trình Pháp, bắt đầu từ lớp huitième (lớp 8). Tiếng Việt được coi như một sinh ngữ, cùng với tiếng Anh (khi học lên cinquième - lớp 5). Tôi chỉ học tiếng Việt với thầy Thắng đâu 2-3 năm gì đó từ lớp 8, nhưng nhờ thầy mà tôi yêu tiếng Việt, học tốt ngữ pháp tiếng Việt, yêu thơ văn Việt Nam, mặc dù tôi cũng rất thích thơ văn tiếng Pháp. Cùng với Stendhal, Flaubert, Maupassant, Baudelaire, Alain Fournier, G. Apollinaire, J. Prévert…tôi yêu Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, yêu văn chương Tự lực Văn đoàn, yêu Thơ mới, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê… Hồi ấy chúng tôi ở nội trú trong trường, chỉ đến chiều thứ bảy là được ra ngoài đi chơi, và thường là lấy xe lam từ Thủ Đức về Sài Gòn chơi. Mỗi lần như vậy tôi thường la cà ở các hàng sách báo trên lề đường Lê Lợi và tìm mua sách báo, tạp chí cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. Tôi nhớ hồi ấy tôi đã mê và bỏ tiền mua những tuyển tập thơ tiền chiến của Xuân Diệu (Thơ thơ), Huy Cận (Lửa thiêng), Chế Lan Viên (Điêu tàn)…cũng như tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tất cả in trên giấy hoa tiên rất đẹp, rất trang trọng. Tất nhiên tôi cũng mua và đọc cả những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở miền Nam thời ấy cũng như các nhà văn nước ngoài khác, ngoài Pháp, qua loại sách Livre de poche được nhập khẩu và bán ở Sài Gòn lúc bấy giờ.
Trở lại với thầy Thắng. Chính chiếc áo dài the đen thầy mặc và giọng giảng bài truyền cảm của thầy đã truyền cho tôi tình yêu tiếng Việt và văn chương Việt Nam. Cho đến một ngày, thầy xuất hiện trong lớp trong bộ quân phục để từ giã chúng tôi. Thầy phải đi quân dịch. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì về thầy nữa mà trong lòng bao giờ cũng thầm cảm ơn thầy đã dạy cho tôi biết yêu tiếng Việt. Sau 30-4-1975, tôi cố nghe ngóng tin tức về thầy mà không nắm được gì, không biết thầy còn sống hay đã mất. Lâu lâu rồi, tôi lại nghe một bạn học cũ nói thầy còn sống nhưng gặp chuyện đau buồn về gia đình. Tôi nghe mà thương cho thầy, nhưng vẫn không biết thầy ở đâu.
Có ai tình cờ đọc được những dòng này và biết thầy ở đâu, làm ơn chỉ giùm tôi, tôi vô cùng biết ơn.

VỀ HƯU !


Vậy là mình về hưu. Bảy tháng trước khi đến hạn nghỉ hưu chính thức. Là theo đề nghị của chính minh, bởi nếu muốn tiếp tục làm nhiệm vụ tổng thư ký tòa soạn cho đến đầu 2010 thì cũng được. Nhưng bỗng dưng tới tuổi này lại cảm thấy ham chơi quá nên xin hưu sớm quách cho khỏe, để còn đi chơi đi bời ! Dường như về già người ta ham chơi hơn thì phải !
Có mấy anh em, nhất là mấy em gái trong tòa soạn, nghe mình nghỉ hưu tỏ vẻ ngạc nhiên. « Còn trẻ sao hưu sớm thế? Anh mà ra đường còn khối cô mê ! » Trời đất, không biết nói đùa hay nói thật, nghe thì cũng thấy sướng thầm trong bụng nhưng mà đã 60 cái xuân xanh rồi, tóc đã lốm đốm bạc rồi, xương cốt đã bắt đầu rơ, bắt đầu ê ẩm rồi, còn trẻ cái nỗi gì ! Nhưng mà kể cũng lạ, hồi còn trẻ, nhất là lúc còn học trung học, mình toàn bị tụi bạn gọi là « ông già », đến giờ già thiệt thì hầu như ai cũng bảo còn trẻ (so với cái tuổi 60 của mình, và so với một số anh em khác tuổi thực trẻ hơn) !
Về hưu có cảm giác gì ? Cảm giác đầu tiên là nhẹ nhõm, lâng lâng. Như cất được một cái gánh nặng gì đó ! Từ đây khỏi phải lo kế hoạch, kế hiếc, khỏi phải lo để xảy ra sai sót gì cho cơ quan nhé ! Từ đây có nhiều thì giờ đi du lịch, du hí hơn nhé ! Không sướng sao được. Chợt nhớ lại bài tạp văn « Buổi sáng thật thà » của Nguyễn Ngọc Tư nói về cái cảm giác luyến tiếc chiếc ghế, luyến tiếc quyền hành của một ông già về hưu, bèn thành khẩn soát xét lại trong từng đường tơ kẽ tóc, từng tế bào xem mình có cái cảm giác luyến tiếc ấy không. Phải thành thật mà nhận rằng không hề có. Vậy là vui.
Tất nhiên mình cũng dè chừng chuyện chơi bời một hồi có khi rồi cũng chán. Mấy anh bạn về hưu trước mình truyền lại kinh nghiệm như vậy. Nên chơi thì chơi, mình cũng chuẩn bị kế hoạch để « sống tích cực », như người ta nói, để trí óc khỏi mụ đi, để khỏi rơi vào chỗ trầm cảm do biếng nhác, không làm gì. Này nhé, mình sẽ ký họp đồng với tờ báo hiện tại làm một chân biên tập gì đó, nếu còn rảnh và thấy thích hợp thì sẽ hợp đồng làm công việc gì khác nữa với một tờ báo khác. Lại còn có vài công ty muốn mình làm việc cho họ. Chỉ sợ không có sức, và công việc không biết có thú vị không thôi. Ngoài ra còn phải để thì giờ viết blog và đi chơi nữa chứ. Càng về già càng ham chơi mà !
Chợt nghĩ, không hiểu sao nhiều người ham bám ghế dữ vậy (tất nhiên cái ghế tổng thư ký tòa soạn một tờ báo thì không thể so với những cái ghế to hơn, béo bở hơn ở những ngành nghề khác, nhưng dù sao thì cũng là một cái ghế !). Có lẽ quyền lực, quyền hành là thứ gì đó có sức quyến rũ ghê gớm nên có khi cái ghế cũng không béo bở gì cho lắm mà người ta cũng không dễ từ bỏ. Lại có những người tuy không hám địa vị hay quyền lợi nhưng thành thật tin rằng, không có họ ngồi ở cái ghế họ đang ngồi thì thế giới sẽ sụp đổ, mọi thứ sẽ đảo lộn, sẽ hỏng bét. Họ không bao giờ nghĩ rằng, không có họ ở đó, mọi thứ có khi còn tốt đẹp hơn, chưa biết chừng.
Mình thì tự bản chất, mình nhận thấy vậy, đã không ham địa vị, quyền hành (năm 1997, đang làm tổng thư ký tòa soạn Tuổi Trẻ, vì bất đồng, mình đã xin nghỉ ngang, chuyển qua TBKTSG, thời gian đầu chỉ làm thư ký tòa soạn), có lẽ vì vậy mà về hưu trước thời hạn, với mình cũng là chuyện rất ư bình thường.
Nhớ lại, những năm ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết, mình từng nghĩ, thậm chí ước sống đến 45, chết là đẹp. Vậy mà bây giờ đã sống đến 60, hưu là vừa.