Thứ Ba, 23 tháng 9, 2008

Muốn đối thoại, phải hiểu đúng ý người đối thoại

Không bàn khởi nguyên sự việc đúng hay sai (và thực tế tôi cũng chẳng thích cái kiểu đòi đất như vậy), nhưng tách một số từ khỏi văn cảnh phát biểu của một người, cố ý hiểu sai tinh thần phát biểu của người ấy rồi tất cả cùng xúm lại lên án người ấy (ở đây là ông Ngô Quang Kiệt, TGM Hà Nội), hơn nữa lại về một chủ đề quá ư nhạy cảm, liệu báo chí truyền thông đã khách quan, trung thực với ngòi bút của mình? (Tất nhiên tôi hiểu, báo chí phải làm theo chỉ đạo). Ngoài ra, tấm hộ chiếu là do một nhà nước cấp, một nhà nước với một dân tộc là khác nhau, một nhà nước thì hữu hạn còn dân tộc thì trường tồn, cho nên cầm tấm hộ chiếu do một nhà nước cấp mà người ta thấy xấu hổ thì không đồng nghĩa với việc người ta xấu hổ về dân tộc mình, phản bội dân tộc mình. Ở đây tôi cũng không bàn chuyện ông Kiệt cảm thấy "nhục nhã" khi cầm tấm hộ chiếu của nhà nước Việt Nam hiện tại là đúng hay sai, tôi chỉ muốn nói phải hiểu đúng ý ngưới phát biểu, tiền đề cho mọi cuộc đối thoại. Quy chụp không phải là cách để thu phục lòng người, mà nhà nước ta hơn lúc nào hết rất cần thu phục lòng người.
Đụng tới những chuyện nhạy cảm như thế này, chỉ mong mọi người giữ được sự khách quan, để cho cảm tính và định kiến chi phối sẽ chẳng có lợi cho ai, cả cho dân tộc này.

Về vấn đề này, có blog của Vũ Hoàng Linh (http://blog.360.yahoo.com/blog-LHs64Q8nc6oA.KIg0brqXw--?cq=1) mà tôi đoán chắc không phải là một người Công giáo, khá hay, thể hiện một thái độ và một phương pháp khách quan, trung thực rất đáng trọng.

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2008

Hình ảnh quốc gia!!!

Hết Nhật khởi tố công ty PCI của họ đến Mỹ khởi tố công ty Nexus của họ vì đã hối lộ quan chức Việt Nam để đổi lấy hợp đồng. Việt Nam thì ngoài một vài tuyên bố yếu ớt, chẳng thấy có hành động gì nhằm điều tra sự việc. Chẳng lẽ việc nước ngoài khởi tố công dân của họ đưa hối lộ quan chức Việt Nam chưa đủ là "dấu hiệu" tham nhũng để ít nhất là tiến hành điều tra.
Hết vụ tham nhũng này đến vụ tham nhũng khác, thật "đẹp" cho hình ảnh quốc gia!

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2008

Không còn là thì tương lai

Việc một số hãng tàu nước ngoài mới đây từ chối vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu qua sông Thị Vải đến cảng Gò Dầu cho doanh nghiệp trong các khu công nghiệp nằm dọc đoạn sông này, vì theo họ, nước sông ô nhiễm nặng khiến vỏ tàu bị ăn mòn, đã cho thấy tác hại nghiêm trọng của nạn ô nhiễm môi trường đối với không chỉ đời sống người dân mà ngay cả đối với sản xuất. Hậu quả của ô nhiễm không còn là câu chuyện ở thì tương lai, với người phải trả giá là con cháu chúng ta theo như cách nói quen thuộc lâu nay, mà đã xảy ra nhãn tiền, ngay trước mắt người đang sống hôm nay. Điều trớ trêu là chính các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp lại trở thành nạn nhân của nạn ô nhiễm do chính mình gây ra. Một câu hỏi đặt ra: với cách thức sản xuất không màng tính đến hệ quả đối với môi trường của khá đông doanh nghiệp hiện nay, liệu những gì sản xuất ra có đủ bù đắp thiệt hại gây ra cho môi trường sống và chi phí để giải quyết hậu quả ô nhiễm ?

Chưa ai tính ra một cách tương đối đầy đủ những con số này. Chưa ai tính ra con số thiệt hại từ các cơn lũ quét, lũ ống xảy ra ngày càng dày do rừng bị triệt hạ; chưa ai tính ra những con số thiệt hại về người và của do sản xuất hóa chất gây ra cho những “làng ung thư”; chưa ai tính ra những thiệt hại mà nông dân nuôi tôm cá bên những con sông, những dòng kênh bị nước thải công nghiệp giết chết, phải hứng chịu; chưa ai tính ra những chi phí chữa bệnh, phục hồi sức khỏe mà người dân nạn nhân của ô nhiễm công nghiệp và ô nhiễm đô thị phải bỏ ra. Ngay như đề xuất cứu sông Thị Vải bằng cách đào một con kênh dài 14-16 kilômét nối từ con sông này qua sông Đồng Nai của Cảng vụ Bà Rịa Vũng Tàu và tỉnh Đồng Nai không biết sẽ tiêu tốn hết bao nhiêu tiền và liệu có giải quyết được căn cơ tình trạng ô nhiễm hay không.

Thiết tưởng đã đến lúc phải tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu về môi trường để cả xã hội cũng như doanh nghiệp có đầy đủ thông tin và ý thức được một cách rõ ràng cái giá phải trả cho việc tăng trưởng mà hy sinh môi trường, cũng như tăng cường năng lực và quyền hạn cho Thanh tra môi trường và Cục Cảnh sát môi trường trong việc xử lý kiên quyết hơn các vi phạm. Bởi, chẳng hạn với sông Thị Vải, từ nhiều năm nay báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để báo động về mức độ ô nhiễm của con sông này nhưng mọi việc đâu vẫn hoàn đấy và tình trạng ô nhiễm chỉ ngày càng tồi tệ hơn. Cách đây ba năm, vào tháng 12- 2005, một số hộ dân thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nuôi tôm cá bên con sông này, sau một đêm thức dậy, đã trở nên trắng tay vì cá tôm chết trắng do nước sông, thiệt hại cả trăm triệu đồng mỗi hộ. Báo chí đưa tin rồi mọi việc sau đó lại rơi vào im lặng. Không thể tiếp tục duy trì tình trạng doanh nghiệp sản xuất được lợi còn nông dân và những thành phần khác phải gánh chịu hậu quả. Đó là chưa nói, đến một lúc nào đó chính những doanh nghiệp này cũng có thể phải gánh chịu hậu quả do chính mình gây ra, như việc hãng tàu nước ngoài từ chối vận chuyển hàng vào cảng Gò Dầu nói ở trên.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2008

Những điều khó hiểu quanh vụ PCI


Quanh vụ scandal công ty tư vấn Nhật PCI được cho là đã hối lộ quan chức Việt Nam để giành được hợp đồng tư vấn hai dự án lớn ở TPHCM, có nhiều điều khó hiểu quanh phản ứng của phía Việt Nam. Nói “được cho là” bởi tòa án Nhật cũng như tòa án Việt Nam chưa xử những người liên quan, tuy thật ra viện công tố Nhật đã khởi tố, bắt giam những người liên quan ở PCI và những người này đã thú nhận khá nhiều vi phạm (pháp luật Nhật) cũng như khai ra tên quan chức Việt Nam mà họ nói họ đã đưa hối lộ.
Điều khó hiểu về phía Việt Nam là:
1) Cho tới nay, cơ quan điều tra vẫn chưa vào cuộc mặc dù lãnh đạo Việt Nam vẫn luôn tuyên bố coi chống tham nhũng là một ưu tiên hàng đầu và ban chỉ đạo chống tham nhũng có đủ ban bệ từ cấp trung ương tới tỉnh thành. Điều mà người dân mong đợi là mỗi khi nghe có nguồn tin báo xảy ra tham nhũng ở đâu đó, cơ quan điều tra nhanh chóng vào cuộc, còn kết quả điều tra sau đó cho thấy nghi vấn đúng hay không là chuyện khác, nhưng điều mong đợi đó đã không xảy ra. Trung ương chỉ yêu cầu TPHCM kiểm tra, báo cáo, và kết quả là Sở Kế hoạch Đầu tư và Ban quản lý dự án đại lộ Đông Tây TPHCM – chính cái ban quản lý mà người lãnh đạo của nó bị người của công ty PCI khai là nhận 820.000 USD tiền mặt trao tay để được tạo điều kiện trúng thầu – báo cáo rằng việc tổ chức đấu thầu đã diễn ra theo đúng luật pháp Việt Nam.
2) Rất nhanh chóng, ngay từ khi những thông tin về vụ này mới lộ ra trên báo chí, lãnh đạo TPHCM đã có công văn gửi trung ương đề nghị không cho báo chí nói gì về vụ này. Tại sao lãnh đạo TPHCM phải làm như vậy? Giả sử việc nhận tiền của PCI chỉ liên quan tới một vài cá nhân tầm tầm nào đó, lãnh đạo TP sẽ hoàn toàn có lợi khi để cơ quan pháp luật điều tra tới nơi tới chốn, có mất cũng chỉ mất vài người mà TP lại ghi điểm và được tiếng kiên quyết chống tham nhũng. Nhưng xét mức độ phản ứng nhanh chóng của TP trong việc đề nghị trung ương cấm báo chí nói về vụ việc, có lẽ giả định trên là sai. Một giả định khác là lãnh đạo TPHCM sợ nếu vụ này nổ lớn ra sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công đại lộ Đông Tây và hầm Thủ Thiêm mà TP đang rất cần. Nhưng sợ như vậy e rằng là không hiểu về cơ chế làm việc của nước ngoài: với họ, ai sai thì người ấy chịu trách nhiệm, còn công việc thì vẫn cứ phải tiến hành, không phải như ở ta, một trưởng phòng đi vắng là cả phòng tê liệt; mặt khác, dù báo chí Việt Nam không đề cập (vì không được phép), liệu có thể cấm báo chí Nhật, báo chí nước ngoài đề cập, liệu có thể bịt mắt được dân Nhật là những người đóng thuế để chính phủ của họ có tiền cho vay ODA? Thế thì vì sao lãnh đạo TP phải mau chóng đề nghị trung ương bịt miệng báo chí vậy? Một câu hỏi cho tới nay chưa có câu trả lời và có lẽ sẽ chẳng bao giờ có câu trả lời trừ phi mọi chuyện được làm sáng tỏ tới cùng.
3) Tin báo chí đưa nói là ông Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng ngoại giao trả lời báo chí về vụ này, nhưng thực ra đọc hết bản tin nào có thấy tờ báo nào đặt câu hỏi nào? Thực chất đó là một bài viết của ông Sơn đưa cho TTXVN đăng nhưng khoác áo một cuộc trả lời báo chí. Chuyện thường tình ở xứ ta. Bản tuyên bố của ông Sơn thể hiện quan điểm của chính phủ Việt Nam về nghi vấn PCI hối lộ quan chức Việt Nam. Ở đây thôi không bàn về các nội dung khác trong tuyên bố của ông Sơn mà chỉ muốn nhấn mạnh một điều khó hiểu: là nhà ngoại giao, ông Sơn chẳng lẽ thiếu hiểu biết về thể chế chính trị và định chế báo chí của các nước phương Tây (về mặt thể chế chịnh trị Nhật cũng không khác các nước phương Tây) đến mức có thể đề nghị đại sứ Nhật tại Việt Nam và chính phủ Nhật yêu cầu báo chí Nhật thôi không đề cập đến vụ này mà đợi đến khi có kết luận cuối cùng rồi hãy đưa tin, kẻo làm tổn hạy quan hệ giữa hai nước (!?). Nhật làm gì có ban tuyên giáo và bộ thông tin “vạch lề phải cho báo chí” để ra lệnh cho báo chí làm chuyện đó. Báo chí là của tư nhân, về nguyên tắc là độc lập và chỉ chịu trách nhiệm trước độc giả (và tất nhiên cả luật pháp). Họ còn phê phán cả thủ tướng nữa là! Chưa nói như ở Mỹ (Bill Clinton) hay Pakistan gần bên ta (Musharaf), tổng thống của họ còn có thể bị quốc hội luận tội như chơi!

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2008

Bỏ công sang tư - rồi sao ?

Dư luận báo chí gần đây tỏ ra quan tâm nhiều, đôi lúc với giọng báo động, về hiện tượng hàng loạt công chức xin nghỉ việc để chuyển qua làm trong khu vực tư nhân. Trong số đó có không ít người giữ cương vị lãnh đạo của các sở, ban, ngành, là chuyên viên có năng lực, có bằng cấp. Có người đã gọi đó là sự “chảy máu chất xám”. Chưa vội bàn xem có nên gọi đó là “chảy máu chất xám” hay không khi chất xám chẳng chảy đi đâu ra ngoài Việt Nam mà chỉ dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác và vẫn đóng góp cho nền kinh tế, điều đầu tiên cần xem xét là nguyên nhân và ý nghĩa của hiện tượng này.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế chúng ta hiện đã là một nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế nhà nước không còn một mình một chợ. Khu vực kinh tế tư nhân, tuy còn bị lép vế trong việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển, vẫn đang ngày càng lớn mạnh, hiện đóng góp đến gần 50 % tổng sản phẩm trong nước và góp phần giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn dân số đến tuổi lao động hàng năm. Hàng tuần có hàng trăm doanh nghiệp cổ phần và tư nhân mới ra đời. Khu vực tư nhân cũng đang cần lao động có tay nghề, cần chuyên viên, cần chất xám; lại năng động hơn, sẵn sàng cạnh tranh hơn, cả trong sản xuất kinh doanh lẫn trong tuyển chọn và sử dụng nguồn nhân lực.
Trong khi đó, khu vực nhà nước, bao gồm cả cơ quan công quyền và doanh nghiệp nhà nước, một mặt hầu như không thu hút thêm lao động, mặt khác do cơ chế chính sách lại không sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có. Lương thấp, đãi ngộ không xứng đáng; ít có điều kiện được đào tạo, được thăng tiến về nghề nghiệp; môi trường làm việc thiếu sáng tạo, ít được chủ động, đó là chưa kể nạn bè phái, kèn cựa, mất đoàn kết, đấu đá nội bộ, trù dập người có năng lực và ngay thẳng trong không ít cơ quan công quyền và doanh nghiệp nhà nước khiến người trí thức, chuyên viên có lòng tự trọng phải nản lòng.
Trong bối cảnh đó, sự dịch chuyển lao động và chất xám từ khu vực công sang khu vực tư là tất yếu và lành mạnh, đem lại sự cạnh tranh trên thị trường lao động. Nó vừa có lợi cho người lao động lại vừa là động lực để các khu vực khác nhau của nền kinh tế phải tự đổi mới, tự cải tiến mới mong thu hút được người giỏi.
Tất nhiên, đó là một thách đố đối với khu vực công vốn đang trầy trật với công cuộc cải cách hành chính, cải cách và tinh giản bộ máy, nhưng đó là một sự thách đố, một sức ép cần thiết để khu vực công phải nhanh chóng thay đổi cơ chế chính sách trong công tác tổ chức nhân sự. Làm sao để bộ máy công quyền vừa gọn nhẹ vừa hiệu quả; làm sao để cơ quan công quyền không còn là nơi người ta gửi gắm con cháu không làm được việc, nơi người ta nương thân chờ thời hoặc mượn danh để chạy chọt làm ăn bên ngoài mà phải là nơi làm việc của những người có năng lực, có ý nguyện, tâm huyết phục vụ nhân dân thực sự và được trả lương tương xứng để làm việc – đó là đích đến.