Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010

LÀM SÓI


Vì sao một bé gái 14 tuổi lại nghĩ đến việc tự đặt cho mình cái biệt danh dữ dằn: “ sói”, rồi cầm đầu một băng nhóm, đa số vẫn còn trong tuổi vị thành niên, chuyên thực hiện những hành vi tội ác mà trước nay chỉ những kẻ tội phạm già đời, chai sạn mới có gan thực hiện: bắt cóc, cướp của, hãm hiếp tập thể rồi quay phim nhằm khống chế, buộc nạn nhân bán thân để trở thành cỗ máy kiếm tiền cho cả bọn?
Khi tự đặt cho mình cái tên My “sói”, cô bé tuổi 14 đã nghĩ gì trong đầu?
Chúng ta không biết. Nhưng, bằng cách tự khoác lên mình cái lốt sói ở tuổi 14, có vẻ như cô bé đã tự xác định cho mình một cách thế tồn tại trong xã hội này: phải trở thành sói với kẻ khác. Cái biệt danh “sói” vang lên vừa như là cái nhìn, là sự tổng kết, đánh giá hoặc là sự phán xét của cô bé về xã hội, rằng: không làm gì có tình yêu, tình thương, không làm gì có chuyện “người yêu người, sống để yêu nhau” trong xã hội mà rất nhiều khi người ta đối xử với nhau như sói; vừa như một tuyên ngôn sống từ đó trở đi của cô bé: vậy thì, để tồn tại trong xã hội, ta - My “sói” cũng sẽ đối xử với mọi người như sói.
Cái nhìn của cô bé về xã hội khởi đầu từ gia đình. Chưa đầy một tuổi, cha mẹ ly dị, sống với ông bà đến 11 tuổi, ông bà theo nhau qua đời, chỗ nương tựa cuối cùng không còn, cô bé hoàn toàn bơ vơ. Đến sống với bố khi bố đã có gia đình riêng, rồi với mẹ khi mẹ đã ly dị đời chồng thứ hai, cô bé cũng không sống nổi. Tìm đâu ra tình yêu thương? Hẳn cô bé đã nhìn cuộc đời qua sự thiếu vắng tình yêu đó. Và thế là bắt đầu chuỗi ngày bỏ nhà đi hoang, kết bè kết nhóm và trượt dần vào con đường phạm tội.
Còn nhà trường, thầy cô? Chúng ta không có thông tin về những ngày My “sói” cắp sách đến trường cho đến lớp 7. Nhưng, với những gì chúng ta biết về nhà trường hiện nay, về cuộc sống đầy lo toan của thầy cô thì, dù có muốn, họ cũng chẳng thể nào có đủ tâm lực và thời gian làm tròn vai trò của những nhà giáo dục thực thụ, biết chăm lo cho sự trưởng thành nhân cách của từng đứa học trò chứ không chỉ là người truyền đạt như một cái máy một số kiến thức. Thật khó mà hình dung có bàn tay nào đó tận tụy, chịu thương chịu khó dìu dắt từng bước đi cho những học sinh “cá biệt” như My “sói”. Ngoài cuộc sống vật chất của gia đình phải lo, những thành tích thi đua phải đạt, việc bỏ công sức chăm lo cho sự trưởng thành nhân cách của những học sinh như My “sói” chưa chắc đã được ghi nhận như là một thành tích. Và, ở tuổi của mình, My “sói” chắc hẳn cũng đã nhìn xã hội qua nhà trường ấy, một nhà trường không dung nạp được cô bé.
Còn xã hội? Nếu có quan tâm đến những gì diễn ra trong xã hội, ở tuổi của mình, hẳn cô bé cũng sẽ không thiếu dịp để thất vọng trước không ít thực tế đi ngược với những gì người lớn tìm cách làm cho cô bé tin. Thực tế, cái xã hội gần gụi nhất mà cô bé tiếp xúc, gia nhập và nhanh chóng trở thành một trong những đầu đàn là những băng nhóm thanh thiếu niên kiếm sống, lừa đảo, phạm tội nơi các quán internet. Và thế là, để tồn tại trong môi trường ấy, My “sói” đã không ngần ngại trở thành sói với những cô bé cùng trang lứa. Hãy nghe My “sói” giải thích vì sao cô bé có thể, và phải, trở thành sói. Tại nhà tạm giữ Công an quận Đống Đa, Hà Nội, khi phóng viên báo Gia đình & Xã hội hỏi: "Cháu bé thế này thì làm sao để chỉ cần "hô" một câu là cả băng nhóm lao vào thi hành mệnh lệnh? Nhìn các bạn gái khác bị đánh đập, hãm hiếp, cháu có nghĩ đến một ngày nào đó sẽ có kẻ làm như vậy với cháu không?", My đáp: "Con sợ lắm chứ, nhưng phải giấu nỗi sợ vào trong để chẳng ai nhận ra. Có như thế thì bọn nó mới sợ mình cô ạ!". Và: “Con tự coi mình là đứa trẻ lạc loài. Phải bằng mọi cách để tự làm chủ đời mình, nhất thiết con phải "xù lông" lên thì mới tồn tại được…”
Con ngựa hoang chưa chịu vết thù nào trên lưng trừ vết thương tâm lý do gia đình bất hạnh, đã lạnh lùng gây những vết thù trên lưng những con ngựa khác. Không tin có tình yêu thương trong xã hội, không tin vào bất cứ thứ gì ngoài việc phải làm cho kẻ khác sợ mình để đạt được mục đích, cô bé “tuổi khăn quàng đỏ” - như ta thường nói - đã “giấu nỗi sợ vào trong”, “xù lông” lên làm sói để săn mồi và để những con sói khác không thể hại đến mình.
Câu hỏi đặt ra: với chiều hướng phát triển như hiện nay của xã hội, với khoảng cách quá lớn giữa lời nói và việc làm của người lớn (hãy nghĩ tới vụ Sầm Đức Xương và Nguyễn Trường Tô ở Hà Giang), với những cú sốc gia đình ngày càng tăng mà trẻ nhỏ phải hứng chịu, phải chăng chúng ta rồi sẽ còn phải chứng kiến sự xuất hiện của những con sói vị thành niên tiềm tàng khác?

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

CHẲNG CÒN GÌ THIÊNG ?


(Nhân Ủy ban Kiểm tra trung ương vừa kết luận có sai phạm trong vụ xây tượng đài Điện Biên Phủ, đăng lại một bài đã đăng ngày 10/4 năm nay).

Phiên tòa xử vụ “rút ruột” tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ (gọi một cách vắn tắt) đã phải tạm ngưng để điều tra, làm rõ thêm những số liệu chưa thống nhất về mức độ bị “rút ruột”, những cáo buộc đưa và nhận hối lộ,v.v… Bản án vẫn chưa được tuyên. Tuy nhiên, với những gì mà các bị cáo đã khai tại phiên tòa, và với hiện trạng tượng đài đang bị vây bọc giữa lô nhô giàn giáo để dậm vá, sửa chữa sau gần 6 năm khánh thành, một người bình thường không thể không đặt câu hỏi: Vì sao điều ấy (việc rút ruột) lại có thể xảy ra với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như công trình tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, một chiến thắng được xem là “chấn động địa cầu”, kết quả của cuộc kháng chiến cam go và đầy hy sinh của toàn dân tộc? Phải chăng, với những người trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới việc “rút ruột” này, lịch sử chẳng là cái gì, và chẳng có cái gì là thiêng liêng cả? Bởi, với một người bình thường, “ăn” vào lịch sử, “ăn” cả vào những cái được coi là thiêng liêng, chỉ nghĩ đến thôi đã phải rụt tay lại. Vậy nhưng vẫn có người “ăn” được. Phải chăng hiện tượng “ăn được chỗ nào là ăn” đã phổ biến đến mức, ngay cả với một công trình mang ý nghĩa lịch sử thiêng liêng như tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, người ta cũng không chừa?
Mà họ, những người toa rập với nhau để “rút ruột” tượng đài, nào phải đâu là những công dân bình thường? Họ là những người có vai vế, có địa vị xã hội, có học thức, là phó giám đốc sở văn hóa thông tin, phó giáo sư, tiến sĩ, giám đốc công ty mỹ thuật… Tức những người thường rao giảng về cái đẹp và lẽ ra phải bảo vệ cái đẹp; hiểu biết lịch sử và lẽ ra phải góp phần tôn vinh lịch sử, chí ít cũng phải hiểu được đâu là cái thiêng liêng không thể tơ hào, không thể xâm phạm.
Nhân vụ án này, nhiều người đã nói đến chuyện niềm tin. Phải, nhớ lại 6 năm trước, khi tượng đúc xong và được vận chuyển về Điện Biên vào kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, báo chí đã tường thuật háo hức như thế nào, công chúng đã quan tâm theo dõi như thế nào để rồi sau đó ít lâu mới hay niềm tin của mình đã bị “rút ruột” như thế nào. Quả thật, đây là một đòn đánh vào niềm tin của người dân vào những giá trị thiêng liêng, cao đẹp. Ở đây, chuyện ăn gian chính xác bao nhiêu tấn đồng không quan trọng bằng chuyện niềm tin bị đánh cắp. Mà khi niềm tin bị đánh cắp, khi người ta -  nhất là người trẻ - cảm thấy không còn tin được nữa, kể cả vào những cái vốn được coi là thiêng liêng, thì hậu quả xã hội sẽ khôn lường. Những điều thiêng liêng khác, chẳng hạn như mạng sống con người, cũng sẽ bị coi rẻ. Việc người ta lấy mạng nhau chỉ vì một va quẹt nhỏ trên đường, việc học sinh đâm chết bạn trong lớp chỉ vì một xích mích nhỏ - những sự việc như thế xảy ra ngày càng nhiều - phải chăng phản ánh sự chới với, mất niềm tin đó?
Và điều nghịch lý là, trong khi có những cái cần giải thiêng để con người sống theo lý tính hơn là chỉ theo cảm tính và niềm tin mù quáng, thì không được giải thiêng; ngược lại, có những điều thiêng liêng cần gìn giữ, bảo vệ thì có người, lẽ ra phải góp phần gìn giữ, bảo vệ lại chẳng coi ra gì và tìm cách “ăn” cả vào đấy. Trách sao ta không tránh khỏi phải chứng kiến những đảo lộn đau lòng.

Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2010

KỲ VỌNG ODA ?


Những ngày này, mọi kỳ vọng phát triển dường như đang được dồn hết cho viện trợ phát triển chính thức (ODA). Không thể phủ nhận, trong điều kiện đất nước còn nghèo, xuất phát điểm để phát triển rất thấp, ODA đã đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong vài thập niên qua, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, bên cạnh những cái lợi mà ai cũng thấy, sự quá lệ thuộc vào ODA cũng đem đến nhiều bất lợi như nhiều nhà phân tích đã chỉ ra (phải dành tiền để trả nợ lâu dài, sự lệ thuộc về giao thầu thi công, mua thiết bị, công nghệ, chi phí cao cho chuyên gia… và những nhượng bộ khác).
Ngoài ra, điều quan trọng không kém nhưng ít được nhắc tới là việc quá nhấn mạnh đến vai trò của ODA trong phát triển sẽ khiến chúng ta bỏ quên việc khai thác, bồi bổ nội lực trong dân. Nội lực được hiểu không chỉ là nguồn lực vật chất mà còn là tri thức và kỹ năng khoa học, công nghệ. Không chăm lo bồi bổ, khai thác nguồn nội lực này, về lâu dài đất nước có nguy cơ phụ thuộc bên ngoài về mọi mặt.
Một điều quan trọng khác là hiệu quả sử dụng ODA. Chính phủ và một số nhà tài trợ cho tới nay vẫn khẳng định Việt Nam sử dụng hiệu quả vốn vay ODA. Tuy nhiên, một số vụ tham nhũng liên quan đến ODA mà ai cũng biết và những số liệu khác khiến chúng ta không thể chủ quan. Một nghiên cứu về quản lý và sử dụng ODA của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương mới đây đã đi đến kết luận: “Tuy công tác thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ qua đã đạt được những kết quả tích cực, song vẫn còn tồn tại những hạn chế và bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả và tác động của ODA đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo của đất nước”.
Vẫn theo nghiên cứu này, những hạn chế và bất cập trong việc quản lý và sử dụng ODA thể hiện ở một số mặt chủ yếu, trong đó đáng kể nhất là sự chậm trễ trong việc giải ngân. Tỷ lệ giải ngân/ vốn cam kết có xu hướng ngày càng giảm sút trong những năm gần đây. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỷ lệ vốn ODA giải ngân/vốn ODA cam kết trong các năm từ 2006 đến 2009 đạt tương ứng là: 40,2%; 40,1%; 38,1% và 37,2%. Sự chậm trễ này diễn ra ở nhiều dự án quan trọng và ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương. Tại Hội nghị CG giữa kỳ diễn ra tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) mới đây, WB đã chỉ ra 10 dự án “đặc biệt có vấn đề” về tiến độ giải ngân, thuộc sự quản lý của các bộ khác nhau. “Tình trạng giải ngân chậm đã không chỉ ảnh hưởng tới cân đối ngân sách chung và kế hoạch phát triển của các ngành, mà còn làm mất đi những lợi thế về chi phí vốn, lãng phí chi phí cơ hội của vốn ODA, lãng phí nguồn vốn giá rẻ như ODA”, công trình nghiên cứu nói trên khẳng định. Ngoài ra, còn có những bất cập về chính sách thu hút và sử dụng ODA, những bất cập trong quản lý nhà nước về vốn ODA, khu vực tư nhân chưa thể tiếp cận được nguồn vốn này trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước giải ngân rất thấp.
Tất cả những điều trên nhắc chúng ta rằng, trong khi tranh thủ nguồn ngoại lực ODA cho công cuộc phát triển đất nước, cần luôn nhớ nó không phải là “của trời cho”, vô điều kiện, có thể sử dụng phung phí, và cần luôn nhớ việc bồi bổ, khai thác nguồn nội lực mới là kế sách phát triển lâu dài.

HIỆN ĐẠI HÓA VÀ CÁI BẰNG DỎM


Là giám đốc sở, nếu ông không biết cái bằng tiến sĩ mà ông đã bỏ 17.000 đôla để mua từ cái công ty “Đại học Nam Thái Bình Dương” ấy là bằng dỏm thì điều ấy chứng tỏ ông rất thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, và như vậy liệu có xứng đáng làm giám đốc sở văn hóa ở đất nước đang muốn xây dựng “xã hội học tập” này?
          Là giám đốc sở, nếu ông biết đó là bằng dỏm mà vẫn mập mờ đánh lận con đen, báo với tổ chức như đó là bằng thiệt và dùng nó để thăng quan tiến chức thì ông đã gian dối với tổ chức và với mọi người, và càng không xứng làm giám đốc sở văn hóa ở đất nước ngàn năm văn hiến này.
          Là giám đốc sở văn hóa mà làm như ông, sao có thể trách học sinh cứ đến mùa thi lại chạy đến các “chợ phao”, sao có thể dẹp được các “chợ luận văn” phục vụ cho những kẻ muốn có bằng mà không muốn học?
          Và nếu không bị phát hiện, hẳn rồi ông cũng sẽ được mời, với tư cách tiến sĩ, tham gia hoặc đứng đầu hội đồng khoa học này, ủy ban thẩm định kia và đưa ra những lời vàng ngọc về đủ thứ giá trị, trong khi cái giá trị căn bản là sự trung thực, tấm bằng thiệt và tri thức thiệt thì ông không có.
          Đó là nói riêng về ông giám đốc sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Phú Thọ. Nhưng, như mọi người đều biết, sử dụng bằng cấp dỏm hoặc bằng thiệt mà học dỏm đâu chỉ có ông giám đốc sở VHTTDL ở Phú Thọ. Không ít quan chức ở nhiều địa phương khác cũng đã và đang bỏ tiền mua bằng cấp để có điều kiện tiến thân cao hơn hoặc ít nhất cũng để chứng tỏ “giá trị” của mình. Chính ông giám đốc này cho biết có một số cán bộ ở Hà Nội, Thái Nguyên cũng “học” để lấy bằng như ông.
Giải thích về hiện tượng hay vấn nạn này, nhiều người đã phân tích về tâm lý sính bằng cấp, sính ngoại của người Việt Nam; về nghịch lý bằng cấp và chức vụ (được “cơ cấu” trước, có chức trước rồi mới lo “chạy” bằng); về quy trình tuyển chọn, đề bạt quan chức . Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nó còn nói lên một cái gì đó sâu xa hơn vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội Việt Nam. Đó là, trong khi chúng ta hô hào hiện đại hóa thì cái tâm lý xã hội thâm căn cố đế của chúng ta, kể cả trong  bộ máy công quyền vẫn chuộng hình thức, hư học, hư danh hơn là thực chất, thực học; chuộng bằng cấp, dù là bằng cấp dỏm, hơn là tri thức thiệt, năng lực thiệt. Hà Nội chẳng đã từng dự định buộc 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ đó sao?
Nhưng làm sao có thể hiện đại hóa đất nước, hiện đại hóa xã hội bằng tri thức dỏm, bằng cấp dỏm, bằng những thứ hư danh? Có thể bỏ 17.000 đôla để mua cái bằng dỏm nhưng làm sao có thể bỏ tiền để mua tri thức thiệt nhằm hiện đại hóa đất nước nếu không đổ mồ hôi, sôi nước mắt học, học và học? Rồi đất nước sẽ đi về đâu, nền học thuật nước nhà sẽ đi về đâu nếu đất nước đầy rẫy những ông tiến sĩ có bằng dỏm hoặc bằng thật mà học dỏm? Hiện đại hóa chắc chắn là không, mà đất nước sẽ ngày càng đi đến chỗ lụn bại vì làm gì có tri thức thiệt, tầng lớp trí thức thiệt để tiến hành hiện đại hóa? Bởi hiện đại hóa, nhất là hiện đại hóa xã hội, là sự thay đổi từ bên trong, trên nền tảng tri thức tiếp thu được chứ làm gì có thứ hiện đại hóa vay mượn, càng không thể có thứ hiện đại hóa dựa trên tri thức dỏm, bằng cấp dỏm mua được bằng tiền.
Nền tảng tri thức của một đất nước, một xã hội như cái vốn để phát triển. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy nó còn quan trọng hơn tài nguyên và những nguồn lực vật chất khác. Nghĩ tới một ngày nào đó người chủ của đất nước này kiểm tra lại lưng vốn của mình nhằm chuẩn bị đầu tư lớn và nhận ra, thay vì những đồng tiền vàng lại chỉ là một mớ giấy lộn, lúc ấy chắc chỉ còn biết khóc ròng. Để không có cái ngày ấy, đã đến lúc xã hội chúng ta cần đoạn tuyệt với cái tâm lý chuộng hư danh, hình thức để theo đuổi những giá trị thực, bắt đầu bằng học thiệt, tri thức thiệt, bằng cấp thiệt.

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2010

ĐÊM VÂN PHONG NGHE TIẾNG BÌM BỊP KÊU


Khoảng mười giờ đêm, trăng 17 lấp ló sau những đám mây. Ngoài kia, ngoài bãi cát ven đảo Hòn Ông, thủy triều bắt đầu âm thầm dâng. Bỗng nghe trong đêm tĩnh mịch vang lên tiếng kêu “bip, bip, bip” của những con chim bìm bịp. Tiếng kêu nghe mênh mang, gợi nhớ vùng sông nước miền Tây nhưng đây lại là ở giữa vịnh Vân Phong. Không ngờ trên đảo Hòn Ông này cũng được nghe chim bìm bịp kêu cùng con nước lớn ròng.
          Hòn Ông là một đảo nhỏ nằm cách bãi Đầm Môn chỉ khoảng 15 – 20 phút đi tàu. Trên đảo là một khu nghỉ dưỡng và trung tâm huấn luyện lặn biển nhỏ. Khu nghỉ dưỡng được xây dựng hài hòa với thiên nhiên trên đảo, với tối thiểu xi măng và tối đa vật liệu từ thiên nhiên như mái lá dừa, cột tre, cửa bằng gỗ hoặc phên tre, lối đi rải cát sỏi, không bê tông hóa. Bãi tắm được giữ hết sức sạch sẽ và cá từng đàn tung tăng trong làn nước trong xanh ngay sát bãi tắm. Từ Hòn Ông đi tàu ra gần cửa biển, lặn ngắm san hô đủ màu sắc hoặc neo tàu, nhảy xuống tắm trong nước vịnh ấm áp giữa hè thật không còn gì thú bằng. Có lẽ vì du khách lui tới còn ít nên vịnh Vân Phong cũng như Hòn Ông vẫn còn giữ được vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, sự trong lành và hệ sinh thái đặc thù, quý giá của mình. Có lẽ cũng vì vậy mà du khách còn được nghe tiếng bìm bịp kêu mỗi khi nước lên.
           Nghĩ đến đó mới thấy hú hồn khi suýt tí nữa người ta đã cấp phép cho cái dự án nhà máy thép kia ở cái vịnh có một không hai này của Việt Nam, và mừng vì cuối cùng dự án đã bị gạt bỏ. Có những hệ sinh thái một khi đã bị hủy hoại sẽ mãi mãi không thể phục hồi được nữa. Còn nhà máy thép, không có nhà máy này sẽ có nhà máy khác, không đặt ở địa điểm này sẽ đặt ở địa điểm khác, có thể ít thuận lợi hơn về mặt vận chuyển nguyên liệu, thành phẩm, nhưng so với một hệ sinh thái có thể bị mất đi vĩnh viễn thì những nhà hoạch định chính sách đã sáng suốt khi chọn bảo toàn hệ sinh thái. Chúng ta cấn phát triển, cần công nghiệp hóa, nhưng không phải với bất ký giá nào, nhất là khi cho dù trả giá nào cũng không thể phục hối một hệ sinh thái đã mất. Đó không chỉ vì trách nhiệm với hôm nay mà còn cả với thế hệ mai sau.
           Những ngày này, đi tàu trên vịnh, nhìn về phía vũng Đầm Môn người ta đã thấy một số cọc trụ lớn được đóng xuống đáy vũng, và trên bờ, vật liệu bắt đầu được tập kết. Dự án cảng trung chuyển container quốc tế bắt đầu được khởi động. So với dự án nhà máy thép, cảng trung chuyển là một dự án phát triển được nhiều người đồng tình vì lợi ích kinh tế lớn và vì nó ít gây ô nhiễm. Dự án cảng nằm trong một khu kinh tế bao gồm nhiều dự án khác, trong đó có cả du lịch. Thật tuyệt biết bao nếu những dự án phát triển này không gây tổn hại cho hệ sinh thái và môi trường vịnh Vân Phong, nếu những dự án du lịch trong nước được triển khai ở đây nhanh hơn, bài bản hơn, hiệu quả hơn. Bởi, trong khi khu nghỉ dưỡng và lặn biển Hòn Ông được xây dựng hài hòa với thiên nhiên và cảnh quan trên đảo, được người nước ngoài quản lý sạch sẽ, ngăn nắp, chu đáo thì ở phía đối diện, bên kia vịnh, trên Bãi Tây do một công ty du lịch địa phương quản lý, rác rến đã bắt đầu xuất hiện trên bãi tắm và những công trình xây dựng dường như không theo một ý đồ nào và cảnh quan nhìn vào là thấy ngay sự thiếu chăm sóc.
Đêm trên đảo Hòn Ông, nằm nghe tiếng bìm bịp kêu mênh mang cùng với tiếng sóng vỗ nhẹ vào bãi cát ngoài kia khi triều lên, bỗng thấy dâng lên nỗi nhớ quê hương, dù mình đang ở ngay trên quê hương chứ đâu xa, và rộn lên niềm ước mơ quê hương vừa giàu vừa đẹp, giàu mà không đánh mất đi những gì thiên nhiên ưu đãi cho riêng mình.