Bên ngoài, giữa dòng người tiến về phía cửa đền, một cô gái trẻ người Âu, chân trần, tay cầm đôi giày, vừa đi vừa nhún nhảy phơi phới, nhẹ nhàng như vừa tự giải thoát khỏi chốn trầm luân. Đến bên cột đá của vua Asokha (A Dục) cạnh ngôi đền, cô quỳ xuống, đốt hương. Giữa bốn bề hương khói cô gái trông thật thanh thoát. Tôi bấm máy ghi lại hình ảnh này mà lòng cũng thấy vui vui, nhẹ nhàng.
Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009
Ghi ở Lumbini
Bên ngoài, giữa dòng người tiến về phía cửa đền, một cô gái trẻ người Âu, chân trần, tay cầm đôi giày, vừa đi vừa nhún nhảy phơi phới, nhẹ nhàng như vừa tự giải thoát khỏi chốn trầm luân. Đến bên cột đá của vua Asokha (A Dục) cạnh ngôi đền, cô quỳ xuống, đốt hương. Giữa bốn bề hương khói cô gái trông thật thanh thoát. Tôi bấm máy ghi lại hình ảnh này mà lòng cũng thấy vui vui, nhẹ nhàng.
Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009
Thủ tướng sửa lưng Phó thủ tướng!
Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2009
Nghe như ở thời Trung cổ
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009
Sốt ruột
Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009
ĐỪNG ĐỂ ĐẮC TỘI VỚI MAI SAU
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009
NỖI NIỀM LÝ SƠN
Chỉ mất khoảng một tiếng đồng hồ để đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi ra đảo Lý Sơn. Đảo nằm cách đất liền chỉ khoảng 15 hải lý (gần 28km), chưa bằng khoảng cách đường bộ Sài Gòn – Biên Hoà, nhưng với người không quen đi biển vẫn có cảm giác thật xa, trong khi dân Lý Sơn, với những con thuyền gỗ mong manh, vượt khoảng cách gầp mười lần để ra khơi đánh cá.
Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009
TỪ ISRAEL NGHĨ VỀ VIỆT NAM
Đó là lời ca ai oán của dân Do Thái thuở bị lưu đày sang Babylon. Zion là một ngọn núi nằm bên ngoài thành Jerusalem và được xem như một biểu tượng của đất nước Do Thái (cũng từ đó phong trào phục quốc của người Do Thái cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có tên là phong trào Zion, chủ nghĩa Zion).
Nhưng kiếp nạn của dân Do Thái chưa phải đã hết sau khi trở về từ Babylon. Từ thế kỷ thứ II sau CN, sau khi cuộc nổi dậy cuối cùng chống đế quốc La Mã bị đè bẹp, dân Do Thái bắt đầu thời kỳ gọi là Diaspora, bị lưu tán khắp nơi trong gần 2000 năm, cho đến tận năm 1948 khi họ tái lập được nhà nước của mình. Trong thời kỳ Diaspora dài dằng dặc ấy, người Do Thái sống cảnh lưu đày, bị cô lập trong những khu ghetto khép kín ở các đô thị khắp châu Âu, nhưng vẫn cố gắng duy trì cộng đồng tôn giáo, văn hóa, lối sống, tập quán của mình và nuôi hy vọng một ngày trở về Đất hứa, trở về núi Zion. Cuối cùng, nương theo thời thế và cục diện thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II, với phong trào phục quốc Zion làm nòng cốt, ước mơ trở về quê hương của họ đã trở thành hiện thực. Các đế quốc từng chinh phục mảnh đất Israel hưng thịnh rồi suy tàn, các triều đại đến rồi đi, chỉ có khát vọng tái lập quốc của dân tộc Do Thái là vẫn dai dẳng qua bao nhiêu thế kỷ dù họ bị lưu tán, bị tàn sát như 6 triệu người Do Thái đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức quốc xã, 15 triệu trẻ em Do Thái bị chết trong những cuộc tàn sát (pogroms) khắp châu Âu. Như vậy, xét về mặt bị đọa đày và khổ đau vì bị mất nước, bị bắt làm nô lệ cho người ngoài, giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam, xem ra chưa biết ai bị đày đọa, khổ đau hơn ai.
Ngoài ra, trong lịch sử và Kinh thánh của người Do Thái cũng có nhiều câu chuyện khá gần với lịch sử và truyền thuyết của dân tộc Việt Nam: câu chuyện chàng David nhỏ bé nhưng thông minh đánh bại người khổng lồ Goliath khiến ta liên tưởng đến câu chuyện Phù Đổng từ một cậu bé vươn vai thành một dũng sĩ đánh bại giặc Ân xâm lược nước ta; hay câu chuyện tình bi thảm giữa Samson, người hùng của dân Do Thái và Delilah, một phụ nữ ngoại tộc (người đã ăn cắp được bí mật về sức mạnh phi thường của Samson trong cuộc chiến chống bộ tộc Philistines thù địch khiến cuối cùng Samson phải trả giá bằng chính mạng sống của mình còn dân Do Thái thì bị ngoại nhân thống trị) có cái gì đó giống như câu chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu và bí mật về chiếc nỏ thần bị Trọng Thủy đánh cắp, dẫn đến việc An Dương Vương mất nước và Mỵ Châu bị vua cha chém (*).

Nếu Việt Nam từng bị mất nước, bị rơi vào vòng nô lệ trong 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm bị Pháp đô hộ, hai lần bị chia cắt lâu dài và trải qua nhiều cuộc kháng chiến gian khổ chống xâm lược thì dân Do Thái nhiều lần bị bắt làm nô lệ không phải ngay trên đất nước mình mà bị lưu đày khỏi quê hương đến những đất nước xa lạ. Nếu dân tộc Việt Nam có thể tự hào vì nhiều lần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của mình thì người Do Thái cũng từng kiên cường chống xâm lược La Mã cho đến khi nhà nước của họ bị diệt vong, nhưng họ vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ý chí phục quốc cho đến ngày thành công.
Gần hơn, nếu Việt Nam giành lại được độc lập năm 1945 từ tay thực dân Pháp thì Israel cũng tuyên bố độc lập vào năm 1948,sau khi nổi dậy chống chính quyền ủy trị của Anh. Cái khác là, trong khi Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước thì Israel, bị bao vây giữa những nước Ả rập thù địch, đã buộc phải dựa vào cái ô che chắn của cường quốc mạnh nhất thế giới và sự ủng hộ về nhân lực, tài chính, chất xám của cộng đồng Do Thái ở khắp nơi trên thế giới để tập trung xây dựng tiềm lực quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật để trở thành một quốc gia phát triển như ngày nay, với thu nhập bình quân đầu người trên 27.000 đôla (năm 2008), đứng hàng thứ 25 trên thế giới, theo World Bank.
Israel hằng năm vẫn nhận được 3 tỉ đôla viện trợ Mỹ và 500 triệu đôla của nước Đức như một sự đền bù cho những khổ đau mà Đức quốc xã đã gây ra cho người Do Thái trong Thế chiến II. Tuy vậy, đó không phải là tất cả. Dù lúc nào cũng phải căng mình ra đối phó với các quốc gia Ả rập láng giềng, gần như ở trong trạng thái chiến tranh thường trực, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi chứ không có “rừng vàng biển bạc” như Việt Nam (trước đây), kinh tế Israel vẫn phát triển với những ngành mũi nhọn như công nghệ viễn thông liên lạc, công nghệ máy tính, chế tác kim cương, nông nghiệp công nghệ cao. Viện công nghệ Technion ở thành phố cảng Haifa là một viện nghiên cứu công nghệ cao nổi tiếng quốc tế của Israel với hai giáo sư của trường từng đoạt giải Nobel hóa học, được thành lập từ năm 1912, tức 36 năm trước ngày nhà nước Israel được thành lập. Còn Đại học Hebrew ở Jerusalem đã được những người Do Thái theo phong trào Zion thai nghén từ năm 1884, đặt viên đá đầu tiên vào năm 1918 và khai trương năm 1925, tức 23 năm trước khi thành lập nhà nước Israel. Trong hội đồng quản lý đầu tiên của trường có tên của những nhà khoa học lừng danh như Albert Einstein, Sigmund Freud, Martin Buber… Trường có hai người đoạt giải Noel kinh tế, hai người tốt nghiệp từ trường này đoạt giải Nobel hóa học,một người đoạt Nobel vật lý.
Điều đó cho thấy tầm nhìn của người Do Thái và việc họ đặt trọng tâm phát triển vào đâu trong một đất nước ít tài nguyên thiên nhiên lại nằm trong vòng vây của những láng giềng thù địch. Cũng cần nói thêm, dù ở trong tình trạng chiến tranh thường trực và phải thường xuyên đối phó với những cuộc tấn công khủng bố, Israel vẫn là một nước dân chủ đại nghị.
(*) Theo Cựu ước (Kinh thánh của người Do Thái), Samson được Chúa ban cho sức mạnh phi thường nhằm giải thoát dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Philistines. Sức mạnh của Samson nằm ở bảy mớ tóc trên đầu mà Samson đã hứa với Chúa sẽ không bao giờ cắt. Nhưng vì chiều lòng Delilah, Samson đã tiết lộ bí quyết sức mạnh của mình cho vợ, bị vợ lén cắt bảy mớ tóc lúc ngủ và vì thế mất hết sức mạnh và bị quân địch bắt. Cuối cùng, khi bị giải ra trước công đường, Samson, lúc này tóc đã bắt đầu mọc lại, đã giật sập công đường, giết nhiều quân địch và cùng chết dưới đống đổ nát. Câu chuyện tình Samson – Delilah đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật ở phương Tây và đã hai lần được dựng thành phim.
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009
ĐẾN ISRAEL, NGHE SÓNG LỚP PHẾ HƯNG CỦA LỊCH SỬ
Tôi cũng sẽ viết thêm một phần tiếp theo: "Từ Israel nghĩ về Việt Nam", do lịch sử hai nước có quá nhiều điểm tương đồng nhưng trình độ phát triển thì quá chênh lệch.
ĐẾN ISRAEL, NGHE SÓNG LỚP PHẾ HƯNG CỦA LỊCH SỬ
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
(Bà Huyện Thanh Quan – Chùa Trấn Bắc)
Có nhiều cách đi du lịch Israel: đi để nhìn, thấy và cảm nhận những điều mới lạ; đi để tìm hiểu những thế mạnh kinh tế-kỹ thuật của đất nước này, chẳng hạn nền nông nghiệp công nghệ cao hay công nghiệp chế tác kim cương của họ; đi như một tín đồ hành hương về Đất thánh. Tôi chọn cách đi như một người muốn hiểu về lịch sử đầy biến động của miền đất này…
Có lẽ không đâu như ở Israel, một mảnh đất nhỏ hẹp, khô cằn ven Địa Trung Hải và ở rìa của bán đảo Ả rập, diện tích chỉ 20.330km2 (bằng khoảng 1/16 diện tích Việt Nam), khách tham quan lại có cảm nhận đậm đặc đến thế - đậm đặc như nước muối Biển Chết mà người ta có thể thả người trên đó, không sợ bị chìm - về lớp lớp thời gian và lịch sử, về sóng lớp phế hưng của những đế quốc, những nền văn minh, những triều đại chen lấn nhau, xô đẩy nhau, giành giật lẫn nhau, chồng chất lên nhau, đến rồi đi mà dấu tích để lại vẫn còn đó đến nay. Trên mảnh đất nhỏ hẹp này, hầu như đi đến đâu, đụng vào đâu ta cũng gặp phải lịch sử, một lịch sử mà ta có cảm giác rất rõ rệt vẫn còn cất tiếng thì thầm, vang vọng từ nhiều ngàn năm trước.
Nói đến những sóng lớp phế hưng của lịch sử, đầu tiên phải kể đến Jerusalem mà cả nhà nước Israel và Palestine hiện đều coi là thủ đô của mình. Có một Jerusalem mới đang được xây dựng và mở rộng ở phía Tây thành cổ. Và một Jerusalem cổ, một bảo tàng sống về những thời đại đã qua mà vẫn còn để lại ảnh hưởng, chi phối ở tầng sâu những biến động hiện tại trên mảnh đất này. Từ khoảng năm 1000 trước Công nguyên (CN), sau cuộc hành trình đằng đẵng 40 năm từ chốn lưu đày ở Ai Cập trở về, người Do Thái đã thành lập nhà nước của họ và chính David, người hùng đánh bại Goliath của bộ tộc Philistines, đã đánh chiếm Jerusalem để lập nên kinh đô của 12 bộ tộc Do Thái. Nhưng rồi họ lại phân liệt thành hai nhà nước, nhà nước phía Bắc với tên gọi Israel và nhà nước phía Nam với tên gọi Judah, cả hai lần lượt bị tiêu diệt vào năm 722 trước CN và năm 586 trước CN, dân Do Thái một lần nữa bị lưu đày, phân tán. Jerusalem qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực khác nhau, từ Babylone, Ba Tư đến Hy Lạp, La Mã, Hồi giáo Ả rập rồi các đoàn quân Thập tự chinh Thiên Chúa giáo…, cuối cùng là đế quốc Ottoman-Thổ từ cuối thế kỷ XVI đến tận năm 1917, khi đế quốc Anh được Hội Quốc liên ủy trị vùng đất này. Những bức tường thành cao ngất và hoành tráng bao quanh thành cổ Jerusalem ngày nay là tác phẩm của quốc vương Suleiman (biệt danh The Magnificent) của đế quốc Ottoman-Thổ vào nửa sau thế kỷ XVI.

Trong thành cổ, trên đỉnh Núi Đền thờ (The Temple Mount), tâm điểm của Jerusalem, là ngôi đền Hồi giáo Golden Dome với cái mái vòm bằng nhôm giát vàng nổi bật trên nền trời Jerusalem và nổi tiếng với sự tích Tiên tri Mohammed cưỡi ngựa bay lên trời từ một tảng đá nay nằm bên trong đền thờ (từ đó nó còn có tên là đền thờ Dome of the Rock), còn người Do Thái thì lại tin là trên tảng đá đó tổ phụ Abraham của họ đã trói và đặt con trai mình là Isaac để sẵn sàng giết và hiến tế cho Thượng đế của họ. Đền thờ được xây dựng vào năm 709 sau CN bởi một quốc vương Hồi giáo trên chính cái nền của ngôi đền thờ thiêng liêng và là biểu tượng của Do Thái giáo và nhà nước Do Thái cổ. Ngôi đền này hai lần được xây dựng rồi bị phá hủy, đầu tiên do Solomon, một minh quân kế tục vua David, cho xây dựng vào thế kỷ thứ X trước CN và bị đế quốc Babylone phá hủy vào năm 586 trước CN. Ngôi đền thứ hai được những người Do Thái trở về từ nơi lưu đày ở Babylone xây dựng cũng tại vị trí cũ vào năm 516 trước CN để rồi lại bị đế quốc La Mã san bằng vào năm 70 sau CN. Ngày nay, những gì còn lại của đền thờ Jerusalem của người Do Thái chỉ là một bức tường nằm dười chân Núi Đền thờ mà du khách thường đi đến đó sau khi đi qua giáo đường Hồi giáo Dome of the Rock. Đó chính là Bức tường phía Tây hay Bức tường Than khóc (Wailing Wall) mà người theo Do Thái giáo xem là nơi thiêng liêng nhất và là nơi họ đến để than khóc cho ngôi đền thờ bị phá hủy, cho sự mất nước và lưu đày, cũng như để cầu xin cả những lợi lộc vật chất cho cuộc sống trần gian của họ.

Trong khi đó, ngôi đền Hồi giáo Dome of the Rock được xây dựng trên nền ngôi đên thờ của Do Thái giáo và tồn tại đến nay cũng từng bị biến thành nhà thờ và nơi trú đóng của các đạo quân Thập tự chinh vào thế kỷ XI-XII. Kết cục của lớp lớp biến động lịch sử này là thành cổ Jerusalem hiện được chia thành bốn khu vực do người Hồi giáo, người Do thái giáo, người Thiên chúa giáo và người Armenia (đến đây từ thời đế quốc Byzantine thống trị vùng đất này) kiểm soát.
Ngoài ngôi đền Dome of the Rock và Bức tường Than khóc, trong thành cổ, nằm kề bên nhau, sát vách nhau, hoặc cái trên cái dưới là vô số những di tích, những địa điểm lịch sử mà cái này thì thuộc Thiên chúa giáo, cái kia thuộc Chính thống giáo, cái này của Hồi giáo, cái kia của Do thái giáo. Như những chặng đường Via Dolorosa, con đường khổ nạn mà người ta tin là Jesus đã vác thập giá đi qua để đến chỗ bị đóng đinh trên núi Sọ, nay phải ngoằn ngoèo xuyên qua những con phố dốc, nhỏ hẹp, với san sát hai bên là những cửa hàng buôn bán mà đa số là của người Ả rập theo đạo Hồi. Hay như nhà thờ Mộ Thánh (Holy Sepulcher) ở cuối con đường khổ nạn, trên đồi Golgotha (tức núi Sọ), nơi mà người ta tin là địa điểm dựng cây thập giá và có ngôi mộ táng Jesus, năm tôn giáo cùng chia nhau cai quản năm phần trong đó, phần thì do Chính thống giáo Hy Lạp quản lý, phần sát bên lại do Công giáo La Mã hoặc Chính thống giáo Armenia quản lý… Bản thân nhà thờ được xây dựng lần đầu từ thế kỷ thứ IV sau CN, dưới thời đế quốc La Mã, nhưng sau đó bị phá hủy nhiều lần và chỉ được xây dựng lại từ thế kỷ XII, khi quân Thập tự chinh chiếm Jerusalem, và tồn tại đến nay.
Tương tự như vậy, với những địa danh, di tích khác như Bethlehem, nơi có nhà thờ Giáng sinh xây dựng bên trên hang đá nơi Jesus ra đời, nay nằm dưới sự kiểm soát của người Palestine. Muốn đến Bethlehem để thăm nhà thờ Giáng sinh rồi từ đó trở về khu vực do Israel kiểm soát, người ta phải vượt qua chốt kiểm soát nghiêm ngặt đặt tại một cửa ngõ của bức tường cao ngất và dài cả trăm cây số, mà nghe nói phía Israel dựng lên chỉ trong một đêm, nhằm ngăn các phần tử khủng bố từ khu vực của người Palestine xâm nhập vào khu vực do Israel kiểm soát. Hay Jericho, đô thị cổ xưa nhất trên thế giới,nơi Jesus từng đến rao giảng, nay chỉ còn lại ít phế tích bên cạnh đô thị mới, cũng nằm dưới sự cai quản của người Palestine. Cả Bethlehem và Jericho đều nằm ở bờ Tây sông Jordan, khu vực tranh chấp giữa Israel và nước láng giềng Jordan, dù thực tế Israel đang kiểm soát về mặt quân sự vùng đất này từ sau cuộc chiến tranh 6 ngày vào năm 1967.

Nhưng nói đến sóng lớp phế hưng, không thể không nhắc đến thành cổ Akko (hay Acre), cảng cổ Jaffa (hay Yafo), Masada - cứ điểm cuối cùng của những người Do Thái kháng chiến chống đế quốc La Mã, hay Caesarea – một thành cổ ven Địa Trung Hải do vua Herod the Great của Do Thái xây dựng dưới thời đế quốc La Mã đô hộ.
Nằm ở phía bắc thành phố cảng Haifa, Akko là một trong những cảng thị cổ xưa nhất có cư dân ở liên tục từ 1500 năm trước Công nguyên (CN) cho đến nay. Akko đầu tiên là một cảng thị của người Phoenicians, sau đó đã qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực, nhiều triều đại. Người Assyrians chiếm đóng cảng thị này vào khoảng năm 700 trước CN. Vào năm 332 trước CN, nó bị Alexander đại đế sáp nhập vào đế quốc Hy Lạp. Kế đến bị Ptolemy của Ai Cập chiếm đóng và đổi tên thành Ptolemais, để sau đó lại trở thành một thuộc địa của đế quốc La Mã khi La Mã thống trị cả vùng Địa Trung Hải. Đến năm 395 sau CN, khi đế quốc La Mã phân liệt thành đế quốc phía Tây với Rome là trung tâm và đế quốc phía Đông với Bysance (nay là Istanbul, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) là trung tâm, Akko về tay đế quốc Đông La Mã. Đến năm 638 Akko rơi vào tay người Ả rập và nằm dưới sự cai trị của người Ả rập cho đến thế kỷ XII. Tiếp đó là các đoàn quân Thập tự chinh, những người xây dựng nên cả một thành lũy kiên cố và rộng lớn mà người ta thấy còn tồn tại đến nay. Ngay cả Napoléon vào năm 1799 cũng tìm cách đặt chân lên Akko nhưng cuối cùng bị đẩy lùi. Năm 1917 Akko cũng như toàn bộ vùng đất bấy giờ được gọi là Palestine nằm dưới quyền ủy trị của nước Anh và chỉ được giao lại cho Israel khi nhà nước này được thành lập vào năm 1948. Akko nay được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại.

Cũng là một cảng thị sầm uất như Akko trước đây nhưng ra đời trước cả Akko, cảng cổ Jaffa nằm ở phía nam Tel-Aviv và là một phần của Tel-Aviv ngày nay. Jaffa gắn liền với truyền thuyết trong Kinh thánh về trận Đại hồng thủy, khi một người con của Noah, người sống sót qua trận hồng thủy, quyết định định cư tại đây, và với truyền thuyết Hy Lạp về câu chuyện tình giữa Perseus và nàng Andromeda xinh đẹp, theo đó chàng Perseus trên con ngựa trắng có cánh đã từ trên trời bay xuống cứu nàng Andromeda, con gái của nhà vua thành Jaffa đang bị vua cha trói vào một tảng đá trên cảng để tế thủy thần. Là cửa ngõ chính nhập khẩu hàng hóa cho thủ đô Jerusalem xưa kia, Jaffa từng bị đánh chiếm, phá hủy rồi xây dựng lại ít nhất 15 lần trong lịch sử 4.000 năm tồn tại của mình bởi những thế lực, những đế quốc muốn làm chủ vùng đất ven biển Địa Trung Hải này, từ Ai Cập đến đế quốc Ottoman-Thổ, từ Napoleon đến quân Anh. Ngày nay Jaffa là một thành phố du lịch nổi bật với những ngôi nhà cổ xây bằng đá màu vàng như mật ong, những biển số nhà bằng gốm xanh da trời tuyệt đẹp, những con tàu sơn nhiều màu sắc thả neo ngoài cảng và những xưởng sáng tác của các nghệ sĩ.

Còn Masada gần Biển Chết, nay là một di sản văn hóa nhân loại, là chứng tích của một thời Herod The Great, vua Do Thái, với lối sống xa hoa và ưa thích hoành tráng, đã cho xây dựng cả một lâu đài nguy nga với đầy đủ những tiện nghi đế vương trên một đỉnh núi giữa sa mạc khô cằn. Masada cũng là nơi những người Do Thái chống đế quốc La Mã dùng làm điểm kháng cự cuối cùng để rồi tự sát tập thể trước khi nó rơi vào tay quân La Mã vào năm 73 sau CN. Ngày nay, Masada trở thành một biểu tượng của ý chí bảo vệ lãnh thổ của người Israel, nơi mà các tân binh nam nữ Israel đến luyện tập và hô vang lời thề: “Chúng ta sẽ không để Masada thất thủ một lần nữa”. Trong khi đó, Caesarea bên bờ Địa Trung Hải từng là một đô thị sầm uất được Herod xây dựng nhằm tôn vinh hoàng đế La Mã Augustus Caesar. Chính tại đây đã xảy ra cuộc thảm sát hàng chục ngàn người Do Thái và khơi mào cho cuộc nổi dậy chống quân La Mã chiếm đóng. Đến năm 639 Caesarea rơi vào tay quân Ả rập để đến đầu thế kỷ XII lại vào tay quân Thập tự chinh và cuối cùng bị người Hồi giáo phá hủy. Những gì còn lại hiện nay là một đường dẫn nước đồ sộ trên cao (aqueduct) và một hí trường kiểu La Mã…

Còn nhiều nữa những chứng tích về sự hưng phế của các đế quốc, các triều đại xô đẩy nhau trên mảnh đất này, mảnh đất mà du khách nhìn thấy chủ yếu là sỏi đá khô cằn nhưng người Do Thái coi là miền Đất hứa, “miền đất chảy sữa và mật ong”. Phải chăng vì vị trí địa chiến lược của nó, nằm ven Địa Trung Hải, giữa Bắc Phi và Nam Âu, giữa thế giới phương Tây và thế giới Ả rập, mà vùng đất này đã trở thành sân khấu cho sự giành giật qua lại giữa tất cả các đế quốc nổi lên trong và ngoài vùng? Nhìn những chứng tích của những thời đã qua trên mảnh đất nhỏ hẹp này rồi nhìn sóng biển Địa Trung Hải vỗ vào bờ như hàng ngàn năm nay sóng vẫn vỗ, du khách không rứt khỏi được ý nghĩ: những đế quốc ấy, những triều đại ấy, những thế lực ấy, trong thời hưng thịnh của mình đã không bao giờ nghĩ sẽ có ngày diệt vong, nhưng rồi chúng đã bị lịch sử, như sóng biển hết lớp này đến lớp khác cuốn đi. Đế quốc nào, triều đại nào rồi cũng có lúc suy tàn, chỉ khác là chúng đi vào lịch sử như thế nào mà thôi. Chỉ có Địa Trung Hải ngàn năm nay vẫn thế; biển Chết ngàn năm nay vẫn thế, dù gần đây nó có co lại mỗi năm khoảng 1 mét vuông do nước từ sông Jordan đổ vào ít hơn. Hay biển Galilee (thực ra là một hồ nước ngọt) ngàn năm nay vẫn thế, chỉ khác là ven hồ, những thành phố mới, những khu nghỉ mát mới đua nhau mọc lên.
(*) Tour du lịch Israel do công ty du lịch Hương Băng Travel tổ chức thường xuyên, vừa mang tính hành hương vừa mang tính lịch sử-văn hóa.
Địa chỉ công ty: 48/46 Hồ Biểu Chánh, phường 11, quận Phú Nhuận. Văn phòng giao dịch công ty: 402/9A Lê Văn Sỹ, phường 14 quận 3, TPHCM.
ĐT: 399.733.69 – Email: huongbang-td@vnn.vn –
Web: http://www.huongbangtravel.com
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009
MỘT NGƯỜI THẦY CỦA TÔI
Bài viết đăng trên TT 11-7-2009 có tựa khác. Ở đây tôi lấy tựa có tính riêng tư hơn.
MỘT NGƯỜI THẦY CỦA TÔI
Linh mục Trương Bá Cần đã ra đi.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến một giai đoạn sôi nổi của phong trào đô thị chống chiến tranh xâm lược Mỹ, đòi hòa bình, đòi dân sinh dân chủ ở Sài Gòn trước 30-4-1975, một phong trào qui tụ nhiều tầng lớp khác nhau, từ trí thức, sinh viên học sinh đến công nhân lao động, chức sắc các tôn giáo trong đó có ông, một người luôn muốn nối kết Công giáo với Dân tộc, muốn người Công giáo trong khi vẫn là mình thì vẫn luôn sống trong lòng dân tộc.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến loạt bài báo mang tính chất nghiên cứu “25 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miến Bắc” đăng 3 kỳ lần đầu tiên trên tạp chí Đối Diện vào năm 1971 mà vì nó tác giả và chủ nhiệm báo phải “vác chiếu ra tòa” và lãnh án 9 tháng tù giam. Là tiến sĩ sử học Sorbonne, trong điều kiện tư liệu hiếm hoi về miền Bắc ở Sài Gòn lúc bấy giờ, ông đã cố gắng để trình bày một bức tranh chân thực hơn những gì người dân miền Nam được biết về quá trình tái thiết sau chiến tranh và sản xuất dưới bom đạn Mỹ ở miền Bắc. Loạt bài báo có thể nói đã gây một cơn sốt tìm đọc trong giới trí thức và sinh viên học sinh ở miền Nam lúc bấy giờ.
Nhớ đến ông, người ta nhớ đến việc ông cùng với các linh mục Phan Khắc Từ, Trần Thế Luân cùng tham gia cuộc đấu tranh của công nhân hang Pin Con Ó, bị bắt rồi bị thả ngoài và ngồi tuyệt thực trên lề đường Nguyễn Trãi; nhớ đến cuộc vận động đốt thẻ cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 10-1971; nhớ đến cuộc tuyệt thực của ông và một số linh mục khác để đòi trả tự do cho công nhân và sinh viên học sinh bị bắt. Mặc dù sau 30-4-1975 ông có 33 năm liên tục làm Tổng biên tập tuần báo Công giáo và Dân tộc, có những công trình nghiên cứu lịch sử đáng chú ý như về Nguyễn Trường Tộ… nhớ đến ông, người ta vẫn nhớ nhất những tháng ngày ông cùng với các đồng đạo của mình hòa mình vào cuộc đấu tranh chung của người dân các đô thị miền Nam vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, không phân biệt Công giáo, Phật giáo hay không tôn giáo.
Với tôi và một số người khác, những thanh niên mới bước chân vào đại học, mới bước những bước đầu tiên vào đời trong những năm tháng ấy, trong một môi trường sống không thiếu điều kiện để hư hỏng nếu muốn hư hỏng, phải nói, được biết ông và làm việc với ông là một may mắn. Ông là người thầy của chúng tôi trong giai đoạn đầi tiên, một người thầy vừa giản dị vừa nghiêm khắc, người đầu tiên gieo vào đầu óc chúng tôi tình tự dân tộc, luôn hướng chúng tôi đến những điều tốt đẹp và không chấp nhận cho chúng tôi sống không có lý tưởng. Trong cuốn sách tự thuật “50 năm nhìn lại” mới xuất bản năm 2008, ông kể: Tháng 10-1971, nhằm phản đối cuộc bầu cử độc diễn củ Nguyễn Văn Thiệu, một số sinh viên, học sinh công giáo đã tham gia xuống đường đốt xe Mỹ. Một số lén sử dụng căn phòng của ông trong giáo xứ Vườn Xoài (trên đường Lê Văn Sỹ hiện nay) để chế tạo bom xăng lúc ông không có mặt, cảnh sát phát hiện, kéo đến lập biên bản, người ta gọi ông về để chứng kiến. Có người tỏ vẻ trách móc ông, ông đã nói như quát: “Anh em thanh niên làm bom xăng đốt xe Mỹ, để đuổi Mỹ về nước cho đất nước hòa bình, cho nhân dân khỏi khỏ. Điều chúng ta không dám làm, anh em trẻ dám làm, sao gọi là xấu hổ?”. Ông là vậy, không ồn ào, nhưng không kém quyết liệt khi cần.
Trên con đường đến với dân tộc và góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, tất nhiên có người đi xa, có người đi gần, nhưng tôi nghĩ, dù không phải lúc nào cũng đồng ý với ông, trong lớp chúng tôi, sẽ chẳng ai quên được ông, người giúp chúng tôi biết giữ “đạo làm người”, như ông hay nói mỗi khi đối diện với cảnh sát chế độ Sài Gòn trong các cuộc đấu tranh.
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009
650 chữ sao mà khó!
Mục “Ý kiến” trên TBKTSG chỉ khoảng 650 chữ, dài hơn thì không lọt vô khung, ngắn hơn thì thừa diện tích, trình bày không đẹp. Chỉ 650 chữ hàng tuần, nhưng sao mà khó!
Cái khó đầu tiên là đề tài. Viết cái gì tuần này cho mục “Ý kiến” lắm khi là một cơn ác mộng nho nhỏ đối với ba, bốn cây “bỉnh bút” trong toà soạn (mục này ký tên chung là Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhưng do ba, bốn người luân phiên viết). Viết cái gì để đáp ứng đúng điều mà độc giả đang trông đợi được đọc tuần này (chứ không phải điều gì khác, cũng không phải tuần nào khác, lúc nào khác)? Nói cách khác, vấn đề đặt ra phải “rơi” đúng thời điểm. Và tìm cho ra vấn đề không phải là dễ. Nó đòi hỏi người viết và cả toà soạn phải bắt mạch được tâm lý, nhu cầu, sự mong đợi hay bức xúc của người đọc ở từng thời điểm cụ thể. “Nhạy” hay không là ở chỗ đó. “Ăn” hay không là ở chỗ đó. Người đọc, hay xã hội nói chung, đang băn khoăn, mong đợi một tiếng nói góp phần lý giải một hiện tượng nào đó, thúc đẩy giải quyết một vấn đề nào đó mà bài báo lại đi nói chuyện đâu đâu thì đó là cách làm cho người đọc sớm xa rời tờ báo.
Có đề tài rồi, viết như thế nào là cái khó thứ hai. Chính ở chỗ này thể hiện quan điểm, chính kiến đúng đắn hay sai lạc, sâu sắc hay hời hợt của một tờ báo trước những vấn đề đang đặt ra, trước những câu hỏi chưa có lời giải đáp, những ý kiến còn trái chiều, những luồng suy nghĩ còn phân vân. Cũng chính vì thế mà mục xã luận hay ý kiến của các tờ báo thường được nhiều người tìm đọc tuy không phải là loại bài hấp dẫn nhất, và nó cũng góp phần tạo nên uy tín của một tờ báo. Cái khó ở đây là trước một sự kiện, một hiện tượng hay vấn đề đặt ra, phải nắm được bản chất sâu xa của nó để có thể đề xuất với người đọc một cách nhìn, cách lý giải hợp lý, hợp quy luật khách quan, góp phần thúc đẩy sự việc chuyển biến, xã hội phát triển. Điều này càng khó khi nền kinh tế, và xã hội nói chung, đang chuyển đổi từ hình thái này sang hình thái khác, từ cơ chế vận hành này sang cơ chế vận hành khác, từ bao cấp, phi thị trường sang thị trường, từ thị trường hoang dã sang thị trường văn minh hơn.
Cái khó tiếp theo là cách thể hiện. Có quan điểm đúng rồi, còn phải lập luận sao cho thuyết phục. Lôgich, chặt chẽ, cô đọng, ngắn gọn nhưng đầy đủ, đó là những yêu cầu của mục xã luận hay ý kiến. Ở đây đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối của thông tin, sự chuẩn xác của ngôn ngữ, của từng từ “đặt xuống”. Chính vì vậy mà để viết ra 650 chữ có khi phải suy nghĩ lao lung, phải kiểm tra lại từng nguồn tin, nguồn tư liệu liên quan đến đề tài, đảm bảo tuyệt đối không để xảy ra sai sót. Về hành văn, ở đây không có chỗ cho sự dông dài, sự màu mè. Những chi tiết đắt giá, thường rất cần ở những thể loại khác, ở đây lại chỉ được sử dụng hết sức chọn lọc, khi nó góp phần gia tăng sức nặng của lập luận. Nhiều phóng viên có sở trường viết những thể loại khác như phóng sự, tường thuật, kể cả phân tích, bình luận dài, khi được đề nghị tham gia viết mục “Ý kiến” cũng không khỏi cảm thấy khó khăn, lúng túng.
Nhiều độc giả phản hồi cho biết họ thích mục “Ý kiến” trên TBKTSG. Phải nói rằng, dù hết sức cố gắng, toà soạn biết không phải lúc nào mình cũng đáp ứng được mong đợi của bạn đọc. Có nhiều đề tài chưa được đề cập, vì lý do này hoặc lý do khác. Có nhiều ý kiến “chưa tới”, chưa thật thấu đáo, sâu sắc, thuyết phục. Có nhiều ý tưởng, vì nhiều lý do, chưa được triển khai đến cùng. Có điều, toà soạn vẫn luôn tâm niệm: 650 chữ hàng tuần của mục “Ý kiến” phải luôn nhắm đúng điều mà bạn đọc mong đợi và phải góp phần thúc đẩy cuộc sống, thúc đẩy hiện thực tốt hơn lên.
Bài này viết về cái khó của 650 chữ, nhưng đã dài hơn 800 chữ. Vì vậy, xin phép độc giả được khép lại tại đây.
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009
Ngoại giao? Ngoại giao cho ai?
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009
NGƯỜI THẦY TIẾNG VIỆT CỦA TÔI
VỀ HƯU !
Thứ Ba, 26 tháng 5, 2009
The Age và Tuổi Trẻ
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/05/090526_nick_mckenzie_interview.shtml
Trông Nick McKenzie còn khá trẻ và chỉ mới gia nhập The Age từ 2006, vậy mà đã làm được cuộc điều tra này và buộc cơ quan điều tra Úc phải vào cuộc. Vậy là giỏi. Nhưng cũng đừng quên là nhà báo này và đồng nghiệp của họ được luật pháp Úc bảo vệ khi thực hiện nhiệm vụ của họ. Báo chí nước ta thì khác (trong bài anh phóng viên này cũng có nhận xét một câu về báo chí Việt Nam). Mấy năm trước Tuổi Trẻ từng làm quyết liệt vụ này, thanh tra vào cuộc, cũng có kết luận. Nhưng rồi sau đó TT cũng như các báo khác buộc phải im. Sự khác nhau là ở chỗ đó. Và có lẽ chính sự khác nhau đó làm cho công cuộc chống tham nhũng ở ta xem ra không có mấy kết quả. Hết PCI, giờ đến Securency.
Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2009
NGUYỄN TRUNG DÂN, NGUYỄN THANH HƯNG VÀ PHÉP THỬ VỀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA.
Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2009
THẦM LẶNG MÀ KHÔNG THỂ THIẾU
Trên mạng, tôi đọc thấy nhiều đồng nghiệp ở một số báo mới được phân công làm thư ký tòa soạn nêu lên sự lúng túng của mình khi đảm nhận công việc này, không biết phải bắt đầu công việc từ đâu, làm công tác tòa soạn là làm những gì. Ở các lớp dạy vế báo chí ở Việt Nam, hình như công việc này cũng không hoặc ít được nói tới. Là người có ít nhiều kinh nghiệm về công việc này, tôi muốn chia sẻ với các bạn đồng nghiệp và cũng mong được chỉ giáo nếu có gì chưa đúng, chưa đầy đủ.
Làm toà soạn một tờ báo, như người ta thường nói, là làm công việc “bếp núc”. Công việc “bếp núc” là công việc thầm lặng - nhưng không thể thiếu - để cho ra đời những tác phẩm báo chí hoàn chỉnh, với chất lượng cao nhât có thể, để khi tờ báo đến tay người đọc, họ sẽ cảm thấy sản phẩm được chăm chút như khi ta ngồi trước một món ăn ngon lại được trình bày đẹp đẽ, tươm tất trên bàn ăn. Khác với viết văn, nhà văn một mình đối diện với trang giấy (hoặc chiếc máy vi tính) và thấp thoáng xa xa là người đọc, một bài báo là một công trình tập thể đúng nghĩa, bởi bên cạnh phóng viên luôn có bộ máy toà soạn giúp sức, từ khâu biên tập, hoàn chỉnh bản thảo, bổ sung tư liệu khi cần và nâng chất lượng bài báo cho đến khâu trình bày, in ấn sao cho tạo được hiệu quả cao nhất nơi người đọc.
Chính vì vậy mà William G.Connolly, một biên tập viên có tiếng của tờ New York Times, nói: “ Không thể có một tờ báo tuyệt vời nếu không có những phóng viên tuyệt vời. Nhưng cũng không thể có một tờ báo tuyệt vời nếu không có những biên tập viên chuyên nghiệp, giỏi nghề và dày dạn kinh nghiệm”.
Ở đây chúng tôi không muốn bàn về những khía cạnh kỹ thuật của công việc biên tập mà người đọc có thể tìm thấy ở nhiều cuốn sách và tài liệu khác về báo chí mà chỉ muốn nêu lên vài đúc kết từ thực tiễn, về công tác toà soạn nói chung, về những chức năng và hoạt động của một toà soạn, cũng như những đòi hỏi về phẩm chất, năng lực chuyên môn đối với người làm việc ở bộ phận không thể thiếu này của một toà báo.
Làm toà soạn là làm gì, hay chức năng của một toà soạn
Tuỳ tờ báo lớn hay nhỏ, toà soạn có những hình thức tổ chức khác nhau. Nếu một tờ báo hay tạp chí quá nhỏ (theo nghĩa ít nhân viên), có khi nhóm chủ trương tờ báo hay tạp chí vừa là người đề ra chủ trương biên tập, đề ra đề tài từng số báo, tự mình viết và đặt cộng tác viên viết bài, vừa làm công tác toà soạn, biên tập và trình bày, đưa đi in. Một tờ báo quy mô trung bình trở lên thường tách toà soạn thành bộ phận riêng, chuyên nghiệp. Và có những tờ báo lớn (hiểu theo nghĩa đông nhân viên), ngoài toà soạn với nhiều biên tập viên và nhiều thư ký toà soạn được phân công phụ trách những mảng khác nhau dưới sự điều động của một tổng thư ký, còn có các ban chuyên môn về nội dung như chính trị-xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hoá-văn nghệ, thể thao, quốc tế… Ở những tờ báo như vậy, toà soạn thường họp với các trưởng ban mỗi ngày (nếu là nhật báo) hoặc hàng tuần (nếu là tuần báo) để quyết định nội dung số báo sắp ra và rút kinh nghiệm về số báo vừa ra. Nhưng dù tổ chức theo mô hình nào, toà soạn cũng phải đảm đương các chức năng chính sau đây:
- Là gạch nối giữa bộ phận chủ trương biên tập (ban biên tập) với các bộ phận còn lại của tờ báo:
Toà soạn là người triển khai ý tưởng, chỉ đạo của bộ phận chủ trương biên tập cho phóng viên; tìm kiếm, gợi ý và chấp nhận hoặc bác bỏ những đề tài do phóng viên đề xuất trên cơ sở nó phù hợp hay không với chủ trương biên tập, có đáp ứng hay không sự chờ đợi của người đọc. Toà soạn còn là người đôn đốc phóng viên săn tìm trong thực tế cuộc sống những đề tài hay, mới, phù hợp với chủ trương của tờ báo. Toà soạn còn là gạch nối, là người phối hợp giữa các bộ phận khác nhau trong quy trình sản xuất một tờ báo: bộ phận trình bày, tư liệu, quảng cáo...
- Là cầu nối giữa tờ báo với độc giả:
Là người có khả năng nắm bắt nhu cầu, khẩu vị của người đọc, biết người đọc cần gì, toà soạn là người trình bày bộ mặt của tờ báo cho bạn đọc, dọn đúng món ăn người đọc đang cần, những thông tin mà đa số người đọc đang tìm kiếm, trông đợi để người đọc mỗi ngày hay mỗi tuần, mỗi tháng giở tờ báo ra như tìm thấy người tri âm tri kỷ, không cần nói mà hiểu được mình, “gãi đúng chỗ ngứa” của mình. Toà soạn còn phải là người thường xuyên lắng nghe phản hồi từ độc giả để điều chỉnh nội dung và hình thức tờ báo nếu xét thấy cần, để đính chính, sửa chữa những sai sót, để tờ báo ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người đọc, nhất là những bạn đọc trung thành của tờ báo.
- Là trung tâm thu nhận và xử lý thông tin của tờ báo:
Toà soạn là nơi thu nhận và xử lý mọi nguồn thông tin. Phóng viên là người “đi chợ”, mang thông tin về cho toà soạn “chế biến”. Nhưng ngoài thông tin do phóng viên mang về, toà soạn còn phải có cách “đi chợ” của riêng mình. Bằng những nguồn tin khác nhau, những kênh thông tin khác nhau (phản hồi của bạn đọc, thông tin từ các cơ quan chức năng, từ cộng tác viên, từ các nguồn tư liệu), toà soạn phải nắm được tình hình tổng quát để vừa có thể kiểm tra lại thông tin từ phóng viên, tránh cho phóng viên lỗi chủ quan, phiến diện, vừa bổ sung những gì phóng viên còn thiếu và nâng chất lượng tin tức, bài viết của phóng viên sao cho đạt tới cái đích mà toà soạn cho rằng tin tức hoặc bài báo phải đạt tới.
- Là người hoàn thiện, nâng cao chất lượng, giá trị bài viết:
Là khâu cuối cùng trong quy trình sản xuất một tờ báo, toà soạn là nút chặn cuối cùng đối với mọi sai sót có thể xảy ra trong suốt cả quy trình. Bằng kiến thức, kinh nghiệm, nghiệp vụ của mình, toà soạn và các biên tập viên phải làm tròn trách nhiệm chính này của mình. Muốn làm được như vậy, phải đặt tinh thần trách nhiệm đối với người đọc, đối với tờ báo lên trên hết. Phải đề cao tính nguyên tắc và không nhân nhượng trước bất kỳ một nghi vấn hay “lợn cợn” nào. Không chỉ là nút chặn cuối cùng đối với mọi sai sót, toà soạn còn là người nâng cao chất lượng tờ báo bằng cách sửa chữa, thêm bớt, cắt gọt nếu bài quá dài dòng, bổ sung tư liệu, số liệu, hình ảnh, bảng biểu, đồ thị,đặt lại tít tựa, kể cả viết lại tin, bài nếu thấy cần thiết. Tất cả nhằm làm cho tin, bài rõ ràng, mạch lạc, hấp dẫn đối với người đọc.
- Là người làm công tác cộng tác viên và xây dựng những
cây bút cho tờ báo:
Hơn ai hết, toà soạn phải là người nắm được nhu cầu của người đọc và hiểu được tờ báo của mình cần gì để có thể đáp ứng nhu cầu của người đọc. Và nếu chỉ dựa vào lực lượng phóng viên của mình, một tờ báo sẽ khó lòng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người đọc, nhất là khi gặp phải những đề tài đòi hỏi kiến thức và sự phân tích chuyên sâu. Một toà soạn giỏi phải là một toà soạn tổ chức được lực lượng cộng tác viên hùng hậu để khi cần là có thể nhờ cậy. Hơn nữa, sự đóng góp của cộng tác viên còn mang lại cho tờ báo sự phong phú trong giọng điệu, tính đáng tin cậy trong phân tích khi đó là phân tích của chuyên gia trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực. Do đó, toà soạn phải bỏ thời gian, công sức để tập hợp, chăm sóc lực lượng cộng tác viên của mình.
Bên cạnh đó toà soạn còn là người góp phần xây dựng những cây bút, những tên tuổi cho một tờ báo bằng chính công việc nâng cao chất lượng bản thảo phóng viên; trên cơ sở biết thế mạnh, sở trường của từng phóng viên mà xây dựng, phát huy những cây bút có uy tín trong từng lĩnh vực và biết giới thiệu, “lăng-xê” đúng lúc tên tuổi của các cây bút của tờ báo cùng với những sản phẩm tốt nhất của họ. Thực tế là nhiều người đọc chủ yếu đọc một bài báo hoặc một tờ báo chỉ vì tên tuổi của một vài tác giả mà họ thích hoặc họ tin cậy, và một toà soạn giỏi là một toà soạn biết phát huy các cây bút tên tuổi của mình.
Như vậy, toà soạn không chỉ là người lo “đầu ra” (khâu biên tập, trình bày) của một tờ báo, càng không phải là người chỉ làm công việc biên tập kỹ thuật (cắt gọn, sửa chữa chính tả, câu chữ) như nhiều người lầm tưởng. Toà soạn là người lo từ “đầu vào” đến “đầu ra” của một tờ báo, là người vạch kế hoạch nội dung, đế tài, chỉ đạo, giúp sức cho phóng viên thực hiện và cuối cùng là hoàn chỉnh sản phẩm của phóng viên, cộng tác viên trước khi đưa nó đến tay bạn đọc.
Bốn trong một, hay những yêu cầu đối với người làm toà soạn
Người làm toà soạn có thể nói là bốn con người trong một con người. Cụ thể, họ phải là:
- Nhà tâm lý xã hội:
Người làm báo nói chung luôn phải nhạy cảm với nhu cầu, tâm lý của người đọc, do đó có thể nói người làm báo phải là một nhà tâm lý xã hội, nhà tâm lý trong truyền thông. Nhưng hơn ai hết, là người đứng ở khâu cuối của quy trình sản xuất một tờ báo đồng thời lại là người đầu tiên đọc tờ báo trước khi nó đến tay độc giả, người làm toà soạn càng phải là một nhà tâm lý truyền thông để biết người đọc cần gì, muốn gì, và cố gắng đưa đến cho họ “món ăn” mà họ cần.
Tất nhiên, trong điều kiện xã hội Việt Nam, nơi mà ý kiến của người này người nọ chứ không phải luật pháp thường có tiếng nói cuối cùng; nơi mà báo chí chưa được đóng vai trò như nó vốn phải có trong những xã hội phát triển; nơi mà ảnh hưởng phong kiến trong nếp nghĩ, tập quán, cách hành xử còn nặng nề thì báo chí không phải lúc nào cũng có thể làm tròn thiên chức của mình là phục vụ người đọc. Ngược lại báo chí cũng bị ảnh hưởng bởi những tập tính xấu của xã hội, chẳng hạn:
- Sự cảm tính, chủ quan, nói lấy được, bất chấp sự hợp lý hay không hợp lý (đối nghịch với tính khách quan, duy lý, khoa học).
- Dễ bị cuốn theo dư luận và/hoặc ý kiến quan phương (đối
nghịch với đầu óc độc lập và tinh thần thượng tôn pháp luật).
- Vừa tự tôn dân tộc ( điển hình là khi phỏng vấn người nước
ngoài, nhiều phóng viên thường hỏi những câu mớm ý để người ta ca tụng dân tộc mình, đất nước mình, con người Việt Nam mình), nhưng lại vừa tự ti dân tộc, thường thấy ai đó có tiếng thì luôn muốn họ phải có “dây mơ rễ má” gì đó với Việt Nam.
- Thiếu phân biệt đời sống công cộng và đời sống riêng tư, dẫn
đến tình trạng xâm phạm đời sống riêng tư cá nhân; thậm chí đôi lúc tỏ ra nhỏ nhen khi bươi móc chuyện đời tư, đặc biệt nếu người được đề cập bị tình nghi vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án.
- Vừa bỏ rơi những nhu cầu thông tin chính đáng của người đọc
(không loại trừ do chỉ đạo không được đưa cái này, cái kia vì lý do “nhạy cảm”), lại vừa chạy theo cái dễ dãi, thương mại hóa rẻ tiền.
Trong một môi trường xã hội, môi trường văn hoá, môi trường
báo chí như vậy, toà soạn rất dễ bị áp lực chiều theo não trạng đang chi phối trong xã hội, và giữ cho một tờ báo được “đàng hoàng” theo những tiêu chuẩn phổ biến của báo chí hiện đại là điều không dễ. Tuy vậy thực tế đã chỉ ra rằng độc giả rất tinh tường, có thể qua mắt được một số ít người chứ không thể qua mắt được hàng triệu độc giả, trong đó có những độc giả có thể là bậc thầy của người làm báo.về mặt này hoặc mặt khác. Muốn giữ cho tờ báo có được tính khả tín của mình, toà soạn phải luôn đặt mình dưới cái nhìn nghiêm khắc của người đọc để luôn giữ mình, không rơi vào chỗ dễ dãi với chính mình và để luôn tự hỏi: Người đọc cần gì? Người đọc được lợi ích gì khi đưa (hoặc không đưa) tin, bài này. Nếu một tin, bài đáng lẽ phải đưa vì nó có lợi cho người đọc mà lại không đưa vì một lý do nào đó, phải nhớ rằng mình đang mắc nợ với người đọc.
- Nhà ngôn ngữ:
Một hiện tượng ngôn ngữ thường thấy là một tít báo hay có khi được cả xã hội dùng lại sau đó, khi người ta đứng trước một sự kiện hay một hiện tượng tương tự. Điều đó cho thấy sức mạnh của ngôn ngữ. Một từ dùng hay, dùng ‘đắt” trong một bài báo có tác dụng làm cho
người đọc thấm thía và nhớ đến bài báo rất lâu. Ngược lại, một bài báo dù chứa đựng nhiều thông tin hay nhưng viết dở, lủng củng, cẩu thả, sử dụng ngôn ngữ không “đắt”, sẽ khiến người đọc chóng quên. Chính vì vậy mà người làm toà soạn (nhất là thư ký toà soạn) không chỉ là người phải biết viết đúng tiếng Việt mà còn phải là người nắm vững kho tàng tiếng Việt, những cái tinh tế của tiếng Việt để sử dụng sao cho vừa chuẩn, vừa “đắt”, nhờ đó mà nâng cao giá trị một bài báo. Đó là cả một nghệ thuật. Ở khía cạnh này, có thể nói người làm toà soạn cũng là một nhà ngôn ngữ trong tiếng mẹ đẻ của mình. Tuy nhiên, cũng phải đề phòng xu hướng ngược lại, xu hướng “văn học hoá” báo chí, hy sinh tính chính xác, tính sáng sủa, rõ ràng của văn phong báo chí cho sự “làm dáng” văn học. Trong trường hợp này, theo chúng tôi, thà cứ viết một cách rõ ràng, dễ hiểu còn hơn là cố làm cho ra vẻ “văn học”.
- Nhà mỹ thuật:
Người làm toà soạn cũng là người trình bày bộ mặt tờ báo với
độc giả. Một bộ mặt đẹp hay một bộ mặt xấu xí, nhem nhuốc phụ thuộc vào khâu trình bày và in ấn. Do đó thư ký toà soạn phải làm việc rất chặt chẽ với hoạ sĩ trình bày (hay giám đốc mỹ thuật). Ở nhiều tờ báo nước ngoài, với sự giúp đỡ của máy tính, thư ký toà soạn có xu hướng làm luôn cả công việc trình bày, ít ra là trên đại thể. Ở ta thì bộ phận trình bày hay mỹ thuật nói chung vẫn còn tách khỏi bộ phận biên tập mặc dù vẫn nằm dưới sự chỉ đạo của thư ký toà soạn, do đó việc thư ký toà soạn làm việc chặt chẽ với bộ phận trình bày là hết sức cần thiết để bảo đảm tính hợp lý trong việc sắp xếp vị trí các tin bài theo một trật tự thông tin nhất định dựa trên tầm quan trọng của mỗi tin, bài; đảm bảo tính mỹ thuật của từng bài báo, từng trang báo, từng cái tít, từng tấm ảnh, và tổng thể tờ báo. Điều này đòi hỏi thư ký toà soạn phải là người có con mắt mỹ thuật. Tất nhiên, mỹ thuật trong trình bày báo khác với mỹ thuật trong hội hoạ. Muốn gì thì muốn vẫn phải tuân thủ nguyên tắc rõ ràng, sáng sủa, tính hợp lý trong sắp xếp tin bài nào ở vị trí nào. Cần tránh một hiện tượng thường thấy là lạm dụng màu sắc, font chữ, cỡ chữ khiến người đọc bị rối mắt, tờ báo nhìn tưởng đẹp mà khó đọc, và vô hình trung gây hiệu ứng ngược.
- Luật gia:
Người làm toà soạn còn phải là người có kiến thức pháp luật và
những vấn đề pháp lý ở mức độ nhất định để tránh cho tờ báo và cả cho chính phóng viên phải đối diện với luật pháp, với những vụ kiện tụng và những rắc rối pháp lý nảy sinh khi đưa tin không chính xác do không kiểm tra kỹ sự việc hoặc do ham chi tiết giựt gân mà rơi vào chỗ vu khống, xúc phạm danh dự, đời tư cá nhân. Muốn vậy, thư ký toà soạn và biên tập viên phải luôn nhớ những quy định pháp luật liên quan đến ngành nghề và luôn phải kiểm tra tính hợp lý của các sự kiện.Chỉ riêng việc kiểm tra tính hợp lý của sự kiện nhiều khi cũng đã có thể giúp phóng viên và tờ báo tránh được những rắc rối có thể nảy sinh. Về một khía cạnh nào đó, vì vậy, có thể coi người làm toà soạn cũng phải là một luật gia.
Ngoài ra, báo chí nước ngoài còn thường yêu cầu người làm toà soạn phải là những “nhà ngoại giao”, vừa mềm mỏng vừa kiên quyết khi phải cắt gọt, sửa chữa, thậm chí gác, không đăng bài của phóng viên hoặc cộng tác viên. Tuy vậy, chúng tôi cho rằng không nên quá nhấn mạnh điều này mà cần nhấn mạnh đến bản lĩnh của toà soạn để có thể bảo vệ được chủ kiến của mình khi xử lý một tin, bài nào đó.
Phẩm chất của người làm toà soạn
Ngoài những phẩm chất chung của một người làm báo, theo chúng tôi, người làm công tác toà soạn, làm biên tập viên còn cần có những phẩm chất, đức tính sau:
- Biết đặt yêu cầu của người đọc và trách nhiệm với người đọc
lên trên hết:
Cần thường xuyên tự hỏi: Độc giả đang cần gì? Cái này độc giả có cần không? Nó mang lại lợi ích gì cho độc giả? Từ đó mà quyết định đăng hay không đăng một bài báo. Và khi đã quyết định đăng thì không quản công sức, khó nhọc để một bài báo đạt chất lượng cao nhất có thể, trước khi đến tay người đọc. Cũng từ đó mà điều động phóng viên, liên hệ với cộng tác viên để làm sao có được tin, bài mà toà soạn đánh giá là cần thiết cho độc giả.
- Biết đặt mình vào vị trí của người đọc để tự phản biện:
Tự đặt mình vào vị trí người đọc để tự phản biện sẽ giúp ta phát hiện ra những cái sai, cái bất hợp lý, mâu thuẫn, thiếu logic, thiếu rõ ràng, mạch lạc trong từng bài báo, từng câu chữ. Điều đó đòi hỏi người làm toà soạn phải rèn luyện đức tính cẩn trọng, chặt chẽ, tỉ mỉ.
Thường xuyên căng thẳng vì phải ứng phó với biến động thời sự, nhất là vào những phút chót, trước thời hạn giao bài cho nhà in, người làm toà soạn thường cảm thấy mệt mỏi và dễ bị cám dỗ buông xuôi, làm cho qua, được chăng hay chớ. Phải thường xuyên chống lại sự cám dỗ này, vì nếu không, chất lượng bài báo, tờ báo lập tức sẽ bị ảnh hưởng. Vì lương tâm và đạo đức nghề nghiệp, vì trách nhiệm trước người đọc, và cũng vì uy tín của chính tờ báo, làm sao có thể chấp nhận cho xuất bản một cái tin, một bài báo với đầy những hạt sạn? Làm như vậy có khác nào bán một món hàng kém chất lượng!?
- Biết hy sinh “cái tôi”:
Người làm toà soạn, làm biên tập viên phải là người biết hy sinh “cái tôi”, không tìm kiếm vinh quang cá nhân để tìm thấy niềm vui và niềm tự hào khi cả tờ báo được độc giả đánh giá cao, có uy tín trong lòng người đọc. Khi đó người làm toà soạn có thể mỉm cười tự nhủ: “À, mình cũng có đóng góp trong đó” và nhận ra công việc toà soạn cũng không phải là công việc “bạc bẽo” như người ta vẫn nghĩ.
Toà soạn và phóng viên: không thể thiếu nhau
“Công việc bạc bẽo” - nhiều người làm công tác toà soạn thường có cái cảm giác đó. Quả vậy, đọc một tờ báo, thường người đọc chỉ biết đến tên tuổi phóng viên chứ ít ai nghĩ đến, nhận ra công sức của toà soạn, của các biên tập viên, người trình bày… dù công việc của họ là không thể thiếu. Người đọc suýt soa trước một bài báo hay và thầm khen ngợi, ghi nhớ tên tuổi phóng viên chứ đâu biết, trong không ít trường hợp, bản thảo đã bị sửa chữa gần như toàn bộ và bài báo đến tay họ có công sức đóng góp mang tính quyết định của đội ngũ biên tập viên mà họ không được biết tên. Ngay chính phóng viên, nhiều người khi báo in ra rồi cũng chẳng thèm đọc lại để xem bài viết của mình đã được toà soạn sửa chữa, nâng cấp ra sao, những lỗi ngô nghê nào đã được gạt bỏ. Chính vì coi công việc toà soạn là công việc bếp núc thầm lặng, thiếu “vinh quang”, nên nhiều người làm báo thường chỉ thích làm phóng viên, vừa tự do về giờ giấc, không phải ngồi chết gí tại toà soạn, vừa có dịp đi đây đi đó nhiều hơn và dễ gặt hái vinh quang cá nhân hơn.
“Bạc bẽo” còn bởi, giữa tòa soạn, biên tập viên với phóng viên hầu như có một thứ mâu thuẫn muôn thuở. “Văn mình, vợ người”, dân gian nói vậy. Không bàn đến vế thứ hai, với vế thứ nhất, “văn mình”, hầu hết phóng viên, nhất là những người đã vào nghề lâu năm hoặc có chút tên tuổi thì bài viết của họ đúng là “số một” và họ không muốn cho ai đụng tới. Trong các toà soạn thường xảy ra cảnh phóng viên gây gổ với biên tập viên và thư ký toà soạn: Bài tôi hay thế, tại sao anh gác, không đăng? Tại sao anh cắt mất chi tiết đắt giá này của tôi? Anh cắt gọt khiến bài báo của tôi không còn là của tôi nữa! Biên tập gì mà bài báo không còn “phong cách riêng” của tôi, bài nào cũng giống bài nào! Phải công nhận rằng đôi lúc toà soạn (nhất là những người mới vào nghề) cũng phạm sai lầm (ai mà chẳng có lúc phạm sai lầm?) do không đủ tỉnh táo, do sự thúc ép của thời hạn giao bài cho nhà in. Nhưng chính vì ở chỗ đứng của mình (vừa là người đọc cuối cùng trong dây chuyền sản xuất tờ báo, vừa là người đọc như một độc giả đầu tiên trước tất cả các độc giả khác) người làm toà soạn có khả năng nhìn toàn diện hơn, khách quan hơn, tỉnh táo hơn để biết điều gì cần cho độc giả, điều gì không. Những “chi tiết đắt giá” nhiều khi là thừa và khiến độc giả không tập trung theo dõi được ý chính của bài báo. Một bài báo dài dòng sẽ khiến độc giả mỏi mệt và lắm lúc rút lại còn một nửa vẫn nói được đủ ý phóng viên muốn nói. “Phong cách riêng” lắm lúc lại là sự rối rắm trong diễn đạt khiến người đọc khó hiểu, khó nắm được ý của người viết. Một bài báo mà phóng viên cho là hay đôi khi chỉ là theo sự đánh giá chủ quan của người viết. Đứng ở vị trí của người đọc để phản biện, toà soạn có khả năng phát hiện và xử lý những cái sai, cái dở trong cả tờ báo và từng tin, bài để sao cho sản phẩm đến tay người đọc là một sản phẩm hoàn chỉnh nhất.
Thật ra, như đã nói ở đầu, một tờ báo, một bài báo đúng là một công trình tập thể, vì thế toà soạn và phóng viên luôn cần nhau. Bởi, nếu không có phóng viên, toà soạn lấy gì để “làm bếp”, để “chế biến”? Ngược lại, nếu không có toà soạn, những phát hiện của phóng viên chưa chắc đã đúng, sự đánh giá nhu cầu của người đọc từng lúc chưa chắc đã chính xác, bài viết chưa chắc đã đạt đến cái tầm cần có, diễn đạt chưa chắc đã suôn sẻ, hấp dẫn. Nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn luôn luôn tồn tại, và đó là thứ mâu thuẫn tất yếu giúp hai bên tiếp cận gần hơn với sự thật và giúp cho một bài báo đúng hơn, hay hơn. Không có sự phản biện của toà soạn, phóng viên dễ rơi vào chỗ chủ quan, phiến diện. Ngược lại, không có thực tế ngồn ngộn, cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà phóng viên mang về, những người làm toà soạn rất dễ rơi vào chỗ xơ cứng, đi theo lối mòn trong tư duy, xa rời thực tế.
Cuối cùng, trong một toà báo, phóng viên càng giỏi giang, càng chủ động thì toà soạn càng đỡ khó nhọc; ngược lại toà soạn càng có tay nghề, có kinh nghiệm thì phóng viên càng được nhờ cậy.