Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Sốt ruột


“Đọc báo cáo năm 2008 và năm 2009, chúng tôi thấy có nhiều đoạn hoàn toàn trùng khớp với nhau, đều ghi ngày 19.10. Có nhiều số liệu rất đáng buồn”, một đại biểu Quốc hội nhận xét khi thảo luận báo cáo của Chính phủ về tình hình và phương hướng kinh tế xã hội tại kỳ họp đang diễn ra.
Một đại biểu khác nêu: “Nhiều việc, nhiều sự kiện nêu ra cứ giống nhau từ năm này qua năm khác. Ta phân tích cho an lòng nhau chứ thực sự chưa phải cái Quốc hội cần”.
Một đại biểu khác đặt vấn đề: nói về thành tích lo cho dân nghèo, Chính phủ khẳng định tổng số chi cho an sinh xã hội năm 2009 này ước khoảng 22.470 tỉ đồng, tăng 62% so với 2008, “nhưng khi đọc lại tài liệu năm 2008 cho thấy, bốn tháng đầu năm chi cho an sinh xã hội 16 ngàn tỉ, như vậy chỉ tăng mấy phần trăm. Rõ ràng có nhiều con số, số liệu không đúng, không chính xác”. Có đại biểu tỏ ý nghi ngờ: báo cáo Chính phủ nói “triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” thì làm sao có thể thực hiện trong năm 2010 được?” Một đại biểu khác phàn nàn về những con số “màu hồng” trong thành tích chống tham nhũng hoặc tỷ lệ giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo tới hơn 80% trong khi thực tế, theo ông, khác xa, và một số đại biểu còn đặt vấn đề phải xem lại hiệu quả của ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh.
Nhiều đại biểu đặt vấn đề vì sao kế hoạch tái cơ cấu kinh tế phải đợi đến năm 2011 mới triển khai mà không phải là ngay từ năm 2010, khi thách thức do suy giảm kinh tế đặt ra đã không nhanh chóng được biến thành cơ hội cơ cấu lại nền kinh tế như báo cáo của Chính phủ cũng thừa nhận, khi kinh tế trong nước và thế giới có thể vừa thoát khỏi suy giảm và giá cả hàng hoá nguyên liệu trên thế giới chưa tăng quá cao,…
Có lẽ chưa bao giờ như ở kỳ họp này, nhiều đại biểu Quốc hội lại thẳng thắn bày tỏ sự sốt ruột như vậy về một số vấn đề lớn trong nhận định tình hình và phương hướng phát triển kinh tế xã hội hiện nay và sắp tới.
Sốt ruột cũng phải, bởi lấy thí dụ vấn đề tái cơ cấu kinh tế hay chuyển đổi mô hình tăng trưởng, vấn đề đã được nhiều chuyên gia kinh tế đặt ra từ một số năm trước chứ không phải đợi đến khi kinh tế thế giới và trong nước suy giảm như hiện nay. Chỉ cần nhìn hệ số ICOR tăng đều đặn từ năm này qua năm khác trong khi ta vẫn vui mừng trước con số tăng trưởng; chỉ cần nghe nguồn than đá, nguồn dầu lửa sắp cạn kiệt, trong khi phát triển thuỷ điện ồ ạt như hiện nay dẫn đến hậu quả là rừng bị tàn phá ngày càng nhiều, lũ dữ ngày càng dữ hơn, sản xuất và đời sống nhân dân vùng hạ lưu các con sông ngày càng bất trắc hơn, và ngay cả một việc tưởng chừng đơn giản như ồ ạt móc cát dưới các lòng sông lên đem xuất khẩu cũng mang lại những hậu quả khôn lường… thì ai cũng có thể nhận thấy: mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác cạn kiệt tài nguyên, gia tăng đầu vào để đạt con số tăng trưởng cao đã đến giới hạn cuối cùng của nó. Tiếp tục tăng trưởng theo mô hình này sẽ không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia giàu tài nguyên nhưng chọn con đường phát triển sai lầm ở nhiều châu lục cũng đã chứng minh điều đó.
Vậy thì tại sao một nỗ lực thực sự nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vẫn bị trì hoãn từ năm này sang năm khác? Tại sao nền kinh tế vẫn cứ tiếp tục tăng trưởng theo bề rộng, như một quán tính? Lực kéo nào đã kìm hãm nền kinh tế, không cho nó bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn, chất lượng hơn? Mặt khác, chuyển đổi mô hình tăng trưởng không thể tách rời các lĩnh vực, thiết chế khác như giáo dục, bởi chính nền giáo dục chất lượng cao sẽ cung cấp cho nền kinh tế nguồn nhân lực chất lượng cao. Cùng với công nghệ, đó là cơ sở cho chất lượng tăng trưởng, cho hàm lượng chất xám cao trong mỗi sản phẩm làm ra, nhờ đó mà nền kinh tế từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào việc gia tăng đầu vào và bán tài nguyên thô để tăng trưởng. Nhưng nhìn vào chất lượng nền giáo dục hiện tại, không thể không buồn.
Vì thế, để không phải tiếp tục sốt ruột qua nhiều kỳ họp nữa, các đại biểu Quốc hội đang đứng trước nhiệm vụ và thách thức tìm cho ra nguyên nhân mấu chốt của sự trì hoãn chuyển đổi mô hình tăng trưởng và mối liên hệ của nó với các thiết chế khác.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

ĐỪNG ĐỂ ĐẮC TỘI VỚI MAI SAU


Hai cơn bão số 9 và 11 năm 2009 sẽ phải được ghi nhận trong lịch sử thời tiết nước ta như là những cơn bão kèm theo lũ dữ gây thiệt hại nặng nề về người và của. Hiện tượng mới chưa từng thấy là lũ đến ngay, cấp tập cùng với bão, và thiệt hại do lũ gây ra thậm chí còn nặng nề hơn thiệt hại do bão. Riêng thiệt hại về sinh mạng, mỗi cơn bão lũ đã cướp đi hơn 100 người, cả chết và mất tích, dù trước khi đổ bộ vào nước ta bão đã di chuyển qua Biển Đông hết mấy ngày.
Lũ đến nhanh, cấp tập không chỉ do mưa từ đầu nguồn đổ xuống nhanh vì rừng bị đốn hạ nhiều mà còn vì các hồ thuỷ điện, thay vì tích nước, lại xả lũ đúng vào lúc lũ bên ngoài dâng cao. Ở Quảng Nam, trong cơn bão số 9, là hồ thuỷ điện A Vương; ở Phú Yên, trong cơn bão số 11, là hồ thuỷ điện sông Ba Hạ. Nếu ở Quảng Nam lũ chủ yếu nhấn chìm những vùng quê thì ở Phú Yên lũ nhấn chìm ngay chính thành phố thủ phủ Tuy Hoà. Phải nói thiệt hại này do thiên nhiên gây ra chỉ một phần, phần còn lại là do chính con người, do chính chúng ta gây ra.
Sau cơn bão số 9 và lũ đi kèm, dư luận và các nhà khoa học còn chưa hết báo động về nguy cơ từ hệ thống thuỷ điện dày đặc trên các con sông ở miền Trung và Tây nguyên thì cơn bão số 11 và lũ đi kèm lại ập đến. Và cả hai lần, người ta chỉ được nghe những lời giải thích, phân trần từ những đơn vị xây dựng và khai thác thuỷ điện. Nhưng nước cũng là một loại tài nguyên, giống như các loại tài nguyên khác như than, khoáng sản… và nó phải được quy hoạch và quản lý nhằm sử dụng, khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nhất trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác như sản xuất nông nghiệp, dân sinh và sự bền vững về môi trường. Ở đây ta thấy ngành điện chỉ biết đến ngành điện, do đó mà thả sức phát triển thuỷ điện mặc cho tác hại gây ra cho sự cân bằng sinh thái, cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Cũng không thể đổ lỗi cho sự phân cấp, vì phân cấp không đồng nghĩa với chia cắt, mặc cấp nào biết cấp đó, mà phân cấp bao giờ cũng được đặt trong một hệ thống thống nhất và khi sự cố xảy ra ở một cấp tác động tới cả hệ thống thì tổ chức, cá nhân đứng đầu hệ thống phải có ngay giải pháp cho cả hệ thống. Vả chăng, một con sông, dù chảy qua nhiều địa phương, làm gì có chịu phân cấp? Nước sông dù chảy qua đâu cũng chỉ một. Cho nên quy hoạch và sử dụng các dòng sông phải đặt trong một hệ thống thống nhất và trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác như đã nói ở trên.
Thuỷ điện không thể chỉ biết đến thuỷ điện. Khai thác than không thể chỉ biết moi than lên bán. Than, khoáng sản hay nước, rừng đều là những tài nguyên có hạn và việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm đòi hỏi một sự quy hoạch, quản lý thống nhất, dù thực tế hiện nay mỗi loại tài nguyên lại do một bộ chuyên ngành quản lý và chịu trách nhiệm tổ chức khai thác mà thiếu sự phối hợp chung, khiến khi tai hoạ xảy ra không biết ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Theo chúng tôi, chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quy hoạch, khai thác, sử dụng tài nguyên cũng như về sự phối hợp giữa các ngành, không ai khác hơn là bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thiên nhiên, cũng như con người, có giới hạn chịu đựng của nó. Khai thác bừa bãi thì thiên nhiên cạn kiệt hoặc quay trở lại trả đũa con người, không chỉ trong hiện tại như ta đã thấy. Vì vậy, để không di hại cho đời sau, để không đắc tội với mai sau, cần có một cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng về việc quy hoạch, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, bền vững các loại tài nguyên, trong đó có nước.

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009

NỖI NIỀM LÝ SƠN


Đánh cá và trồng tỏi, hành - hai nghề chính của dân đảo Lý Sơn


Chỉ mất khoảng một tiếng đồng hồ để đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi ra đảo Lý Sơn. Đảo nằm cách đất liền chỉ khoảng 15 hải lý (gần 28km), chưa bằng khoảng cách đường bộ Sài Gòn – Biên Hoà, nhưng với người không quen đi biển vẫn có cảm giác thật xa, trong khi dân Lý Sơn, với những con thuyền gỗ mong manh, vượt khoảng cách gầp mười lần để ra khơi đánh cá.
Đảo Lý Sơn vốn là một núi lửa đã tắt từ xa xưa, ít cây cối, tháng 8 khi chúng tôi ra đảo, trời nóng nực, không một hụt gió. Lý Sơn gồm hai đảo, hòn Lớn và hòn Bé, diện tích tổng cộng chỉ khoảng 10 km2 nhưng dân số lên đến trên 20.000 người, đa số tập trung ở hai xã An Vĩnh và An Hải trên hòn Lớn; xã An Bình nằm trên hòn Bé, dân chỉ mấy trăm người, trên đảo không có nước ngọt. Hòn Lớn, nơi đặt các cơ quan hành chính được xây dựng khá hoành tráng so với diện tích đảo, đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia, mỗi ngày chỉ chạy máy phát điện từ 5 giờ chiếu đến 11 giờ đêm, ưu tiên cho cơ quan nhà nước, khu vực dân cư bữa có điện bữa không. Một nhà máy nhiệt điện mới làm lễ khởi công hồi tháng 7, ít ra cũng phải đến năm 2011 mới phát điện.
Lý Sơn được coi là một trong những đảo tiền tiêu của Tố quốc. Chính từ đây, khoảng 400 năm về trước chúa Nguyễn đã tuyển binh, phu cho các Đội Hoàng Sa để ra quần đảo Hoàng Sa khai thác sản vật và đánh dấu chủ quyền quốc gia. Chính nơi đây có đình làng An Hải, có Âm Linh Tự ở xã An Vĩnh và những ngôi mộ gió - chứng tích về công cuộc khai thác Hoàng Sa từ xa xưa trong lịch sử của người dân Lý Sơn và về những con người bỏ thân trên biển cả hoặc bỏ mình trên đảo xa vì chủ quyền đất nước và vì công cuộc khai thác ấy.
Ấy vậy nhưng người dân Lý Sơn đang có nhiều nỗi niềm. Thiếu điện khiến đời sống khó khăn, nhiều dịch vụ như hậu cần nghề cá, du lịch, rồi đời sống văn hoá… không phát triển đã đành. Cái lớn nhất là công cuộc mưu sinh chủ yếu dựa vào biển và một phần dựa vào nghề trồng tỏi, hành, mè ngày càng khó khăn hơn. Tỏi, hành Lý Sơn trồng trên cát biển lấy từ dưới biển lên, nổi tiếng thơm ngon. Nhưng dân số tăng mà đất đai trên đảo không thể nở thêm, nghề trồng tỏi, trồng hành có phát triển cũng chỉ đến vậy là cùng. Chỉ còn trông vào biển. Nhưng biển gần thì ngày càng cạn kiệt cá, mực. đã Đi vòng quanh đảo một buổi sáng, chúng tôi thấy người dân kéo lưới, dùng những thanh cao su đập vào lưới cho cá cơm rơi xuống, nhìn vào lưới thấy cá chẳng bao nhiêu. Một buổi sáng khác, ngay tại cầu tàu, cũng cảnh tượng tương tự, lần này thấy cá còn ít hơn. Vậy là chỉ còn trông cậy vào biển xa.
Nhưng biển xa đang ngày càng trở thành biển dữ. Chúng tôi đã gặp những gia đình có người đi đánh bắt ở Hoàng Sa, Trường Sa, những vùng đánh bắt truyền thống của ngư dân Lý Sơn và ngư dân nhiều vùng khác của Việt Nam. Có người bị lính Trung Quốc đang chiếm giữ đảo bắn bị thương khi tới gần đảo. Có người bị bắt, được thả nhưng bị tịch thu phương tiện hành nghề, vẫn nói mạnh như tính cách rất “lỳ” của dân đi biển :” Bắt thì bắt. làm thì làm”. Nhưng phương tiện đánh bắt không còn, có “làm” chăng chỉ còn là “đi bạn”, tức đi làm công cho những người còn phương tiện đánh bắt. Có ngư dân lớn tuổi, từng bị bắt, được thả nhưng phương tiện đánh bắt không còn, con trai thì vẫn còn bị giữ, phải chạy vạy vay tiền nhiều đợt đóng tiền chuộc con nhưng đến nay con vẫn chưa về. Gia đình đông con, không còn phương tiện, vốn liếng đi biển, nay ông phải chuyển qua trồng tỏi, hành, mè nhưng đất có được chẳng bao nhiêu. Chiếc tủ chè trong gian nhà khách nhìn thẳng ra biển, nơi những gia đình giàu có thường chưng những bộ đồ trà quý giá, ông chưng toàn những vỏ ốc to, đẹp lấy từ vùng biển Hoàng Sa trong những chuyến ra khơi trước đây. Như chứng tích về một thời đi biển hào hùng và về sự hào phóng của vùng biển vốn thuộc chủ quyền đất nước mà nay hiểm nguy rình rập.

Một ngư dân không còn phương tiện đi biển, và tủ chè của ông

Biển của mình, vùng đánh bắt lịch sử của mình, nay đang trở thành biển dữ. Không gian sinh tồn của ngư dân Lý Sơn, của ngư dân Việt Nam nói chung đang bị thu hẹp. Ngư dân Lý Sơn sẽ dựa vào đâu để bám biển, để mưu sinh, và để giúp quốc gia khẳng định chủ quyền biển, đảo của mình? Trong những ngày này, khi một số ngư dân bị bắt, được thả, nhưng phương tiện đánh bắt không còn, câu hỏi ấy không chỉ là nỗi niềm riêng của dân đảo Lý Sơn mà là câu hỏi ám ảnh mọi người.
Còn một nỗi niềm nữa của dân Lý Sơn. Hôm chúng tôi đến nhà thờ tộc họ Đặng ở xã An Hải - tộc họ đã hiến cho Nhà nước bản gốc một văn bản thời vua Minh Mạng được lưu giữ nguyên vẹn suốt 175 năm qua, theo đó vua cử ba chiếc thuyền, giao cho ông Đặng Văn Siểm thuộc tộc họ Đặng và hai người khác thuộc tộc họ Võ tuyển phu binh ra Hoàng Sa canh giữ đảo - người nhà nói với vẻ trách móc :” Mấy ổng đến lấy bản gốc tài liệu, hứa hẹn sẽ đưa bản dịch để chúng tôi treo trong nhà thờ, ai đến thì đọc còn biết nghĩa, nhưng đến nay vẫn biệt tăm, chỉ cho chúng tôi bản chụp và cái giấy khen. Hiến tặng tài liệu quý cho Nhà nước, nhưng chúng tôi cũng chẳng được gì, con cái kiếm việc làm cũng không ra”. Chúng tôi chẳng biết nói sao trước những lời trách móc đó. Chỉ cầu mong sao cho những người có công lao với việc khẳng định chủ quyền đất nước như vậy đừng bị bỏ rơi sau khi cơ quan nhà nước đã được việc của mình.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009

TỪ ISRAEL NGHĨ VỀ VIỆT NAM

“Bên bờ sông Babylon, ta ngồi ta khóc ta nhớ Zion”.
Đó là lời ca ai oán của dân Do Thái thuở bị lưu đày sang Babylon. Zion là một ngọn núi nằm bên ngoài thành Jerusalem và được xem như một biểu tượng của đất nước Do Thái (cũng từ đó phong trào phục quốc của người Do Thái cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có tên là phong trào Zion, chủ nghĩa Zion).
Nhưng kiếp nạn của dân Do Thái chưa phải đã hết sau khi trở về từ Babylon. Từ thế kỷ thứ II sau CN, sau khi cuộc nổi dậy cuối cùng chống đế quốc La Mã bị đè bẹp, dân Do Thái bắt đầu thời kỳ gọi là Diaspora, bị lưu tán khắp nơi trong gần 2000 năm, cho đến tận năm 1948 khi họ tái lập được nhà nước của mình. Trong thời kỳ Diaspora dài dằng dặc ấy, người Do Thái sống cảnh lưu đày, bị cô lập trong những khu ghetto khép kín ở các đô thị khắp châu Âu, nhưng vẫn cố gắng duy trì cộng đồng tôn giáo, văn hóa, lối sống, tập quán của mình và nuôi hy vọng một ngày trở về Đất hứa, trở về núi Zion. Cuối cùng, nương theo thời thế và cục diện thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II, với phong trào phục quốc Zion làm nòng cốt, ước mơ trở về quê hương của họ đã trở thành hiện thực. Các đế quốc từng chinh phục mảnh đất Israel hưng thịnh rồi suy tàn, các triều đại đến rồi đi, chỉ có khát vọng tái lập quốc của dân tộc Do Thái là vẫn dai dẳng qua bao nhiêu thế kỷ dù họ bị lưu tán, bị tàn sát như 6 triệu người Do Thái đã bị tàn sát trong các trại tập trung của Đức quốc xã, 15 triệu trẻ em Do Thái bị chết trong những cuộc tàn sát (pogroms) khắp châu Âu. Như vậy, xét về mặt bị đọa đày và khổ đau vì bị mất nước, bị bắt làm nô lệ cho người ngoài, giữa dân tộc Do Thái và dân tộc Việt Nam, xem ra chưa biết ai bị đày đọa, khổ đau hơn ai.

Ngoài ra, trong lịch sử và Kinh thánh của người Do Thái cũng có nhiều câu chuyện khá gần với lịch sử và truyền thuyết của dân tộc Việt Nam: câu chuyện chàng David nhỏ bé nhưng thông minh đánh bại người khổng lồ Goliath khiến ta liên tưởng đến câu chuyện Phù Đổng từ một cậu bé vươn vai thành một dũng sĩ đánh bại giặc Ân xâm lược nước ta; hay câu chuyện tình bi thảm giữa Samson, người hùng của dân Do Thái và Delilah, một phụ nữ ngoại tộc (người đã ăn cắp được bí mật về sức mạnh phi thường của Samson trong cuộc chiến chống bộ tộc Philistines thù địch khiến cuối cùng Samson phải trả giá bằng chính mạng sống của mình còn dân Do Thái thì bị ngoại nhân thống trị) có cái gì đó giống như câu chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu và bí mật về chiếc nỏ thần bị Trọng Thủy đánh cắp, dẫn đến việc An Dương Vương mất nước và Mỵ Châu bị vua cha chém (*).

Samson và Delilah, của danh họa Rubens

Nếu Việt Nam từng bị mất nước, bị rơi vào vòng nô lệ trong 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm bị Pháp đô hộ, hai lần bị chia cắt lâu dài và trải qua nhiều cuộc kháng chiến gian khổ chống xâm lược thì dân Do Thái nhiều lần bị bắt làm nô lệ không phải ngay trên đất nước mình mà bị lưu đày khỏi quê hương đến những đất nước xa lạ. Nếu dân tộc Việt Nam có thể tự hào vì nhiều lần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của mình thì người Do Thái cũng từng kiên cường chống xâm lược La Mã cho đến khi nhà nước của họ bị diệt vong, nhưng họ vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ý chí phục quốc cho đến ngày thành công.

Gần hơn, nếu Việt Nam giành lại được độc lập năm 1945 từ tay thực dân Pháp thì Israel cũng tuyên bố độc lập vào năm 1948,sau khi nổi dậy chống chính quyền ủy trị của Anh. Cái khác là, trong khi Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước thì Israel, bị bao vây giữa những nước Ả rập thù địch, đã buộc phải dựa vào cái ô che chắn của cường quốc mạnh nhất thế giới và sự ủng hộ về nhân lực, tài chính, chất xám của cộng đồng Do Thái ở khắp nơi trên thế giới để tập trung xây dựng tiềm lực quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật để trở thành một quốc gia phát triển như ngày nay, với thu nhập bình quân đầu người trên 27.000 đôla (năm 2008), đứng hàng thứ 25 trên thế giới, theo World Bank.

Israel hằng năm vẫn nhận được 3 tỉ đôla viện trợ Mỹ và 500 triệu đôla của nước Đức như một sự đền bù cho những khổ đau mà Đức quốc xã đã gây ra cho người Do Thái trong Thế chiến II. Tuy vậy, đó không phải là tất cả. Dù lúc nào cũng phải căng mình ra đối phó với các quốc gia Ả rập láng giềng, gần như ở trong trạng thái chiến tranh thường trực, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi chứ không có “rừng vàng biển bạc” như Việt Nam (trước đây), kinh tế Israel vẫn phát triển với những ngành mũi nhọn như công nghệ viễn thông liên lạc, công nghệ máy tính, chế tác kim cương, nông nghiệp công nghệ cao. Viện công nghệ Technion ở thành phố cảng Haifa là một viện nghiên cứu công nghệ cao nổi tiếng quốc tế của Israel với hai giáo sư của trường từng đoạt giải Nobel hóa học, được thành lập từ năm 1912, tức 36 năm trước ngày nhà nước Israel được thành lập. Còn Đại học Hebrew ở Jerusalem đã được những người Do Thái theo phong trào Zion thai nghén từ năm 1884, đặt viên đá đầu tiên vào năm 1918 và khai trương năm 1925, tức 23 năm trước khi thành lập nhà nước Israel. Trong hội đồng quản lý đầu tiên của trường có tên của những nhà khoa học lừng danh như Albert Einstein, Sigmund Freud, Martin Buber… Trường có hai người đoạt giải Noel kinh tế, hai người tốt nghiệp từ trường này đoạt giải Nobel hóa học,một người đoạt Nobel vật lý.

Điều đó cho thấy tầm nhìn của người Do Thái và việc họ đặt trọng tâm phát triển vào đâu trong một đất nước ít tài nguyên thiên nhiên lại nằm trong vòng vây của những láng giềng thù địch. Cũng cần nói thêm, dù ở trong tình trạng chiến tranh thường trực và phải thường xuyên đối phó với những cuộc tấn công khủng bố, Israel vẫn là một nước dân chủ đại nghị.


(*) Theo Cựu ước (Kinh thánh của người Do Thái), Samson được Chúa ban cho sức mạnh phi thường nhằm giải thoát dân Do Thái khỏi ách thống trị của người Philistines. Sức mạnh của Samson nằm ở bảy mớ tóc trên đầu mà Samson đã hứa với Chúa sẽ không bao giờ cắt. Nhưng vì chiều lòng Delilah, Samson đã tiết lộ bí quyết sức mạnh của mình cho vợ, bị vợ lén cắt bảy mớ tóc lúc ngủ và vì thế mất hết sức mạnh và bị quân địch bắt. Cuối cùng, khi bị giải ra trước công đường, Samson, lúc này tóc đã bắt đầu mọc lại, đã giật sập công đường, giết nhiều quân địch và cùng chết dưới đống đổ nát. Câu chuyện tình Samson – Delilah đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật ở phương Tây và đã hai lần được dựng thành phim.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009

ĐẾN ISRAEL, NGHE SÓNG LỚP PHẾ HƯNG CỦA LỊCH SỬ

Bài này đã được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 6/8/2009. Nhưng cái chú thích ở cuối bài, do sơ suất của biên tập viên vào giờ chót, có sai một chữ. Đó là tên bài thơ của Bà Huyện Thành Quan, “Chùa Trấn Bắc” đã bị in sai  thành “Chùa Trấn Quốc”.
Tôi cũng sẽ viết thêm một phần tiếp theo: "Từ Israel nghĩ về Việt Nam", do lịch sử hai nước có quá nhiều điểm tương đồng nhưng trình độ phát triển thì quá chênh lệch.

ĐẾN ISRAEL, NGHE SÓNG LỚP PHẾ HƯNG CỦA LỊCH SỬ

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
(Bà Huyện Thanh Quan – Chùa Trấn Bắc)

Có nhiều cách đi du lịch Israel: đi để nhìn, thấy và cảm nhận những điều mới lạ; đi để tìm hiểu những thế mạnh kinh tế-kỹ thuật của đất nước này, chẳng hạn nền nông nghiệp công nghệ cao hay công nghiệp chế tác kim cương của họ; đi như một tín đồ hành hương về Đất thánh. Tôi chọn cách đi như một người muốn hiểu về lịch sử đầy biến động của miền đất này…

Có lẽ không đâu như ở Israel, một mảnh đất nhỏ hẹp, khô cằn ven Địa Trung Hải và ở rìa của bán đảo Ả rập, diện tích chỉ 20.330km2 (bằng khoảng 1/16 diện tích Việt Nam), khách tham quan lại có cảm nhận đậm đặc đến thế - đậm đặc như nước muối Biển Chết mà người ta có thể thả người trên đó, không sợ bị chìm - về lớp lớp thời gian và lịch sử, về sóng lớp phế hưng của những đế quốc, những nền văn minh, những triều đại chen lấn nhau, xô đẩy nhau, giành giật lẫn nhau, chồng chất lên nhau, đến rồi đi mà dấu tích để lại vẫn còn đó đến nay. Trên mảnh đất nhỏ hẹp này, hầu như đi đến đâu, đụng vào đâu ta cũng gặp phải lịch sử, một lịch sử mà ta có cảm giác rất rõ rệt vẫn còn cất tiếng thì thầm, vang vọng từ nhiều ngàn năm trước.

Nói đến những sóng lớp phế hưng của lịch sử, đầu tiên phải kể đến Jerusalem mà cả nhà nước Israel và Palestine hiện đều coi là thủ đô của mình. Có một Jerusalem mới đang được xây dựng và mở rộng ở phía Tây thành cổ. Và một Jerusalem cổ, một bảo tàng sống về những thời đại đã qua mà vẫn còn để lại ảnh hưởng, chi phối ở tầng sâu những biến động hiện tại trên mảnh đất này. Từ khoảng năm 1000 trước Công nguyên (CN), sau cuộc hành trình đằng đẵng 40 năm từ chốn lưu đày ở Ai Cập trở về, người Do Thái đã thành lập nhà nước của họ và chính David, người hùng đánh bại Goliath của bộ tộc Philistines, đã đánh chiếm Jerusalem để lập nên kinh đô của 12 bộ tộc Do Thái. Nhưng rồi họ lại phân liệt thành hai nhà nước, nhà nước phía Bắc với tên gọi Israel và nhà nước phía Nam với tên gọi Judah, cả hai lần lượt bị tiêu diệt vào năm 722 trước CN và năm 586 trước CN, dân Do Thái một lần nữa bị lưu đày, phân tán. Jerusalem qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực khác nhau, từ Babylone, Ba Tư đến Hy Lạp, La Mã, Hồi giáo Ả rập rồi các đoàn quân Thập tự chinh Thiên Chúa giáo…, cuối cùng là đế quốc Ottoman-Thổ từ cuối thế kỷ XVI đến tận năm 1917, khi đế quốc Anh được Hội Quốc liên ủy trị vùng đất này. Những bức tường thành cao ngất và hoành tráng bao quanh thành cổ Jerusalem ngày nay là tác phẩm của quốc vương Suleiman (biệt danh The Magnificent) của đế quốc Ottoman-Thổ vào nửa sau thế kỷ XVI. Trước đền thờ Dome of the Rock

Trong thành cổ, trên đỉnh Núi Đền thờ (The Temple Mount), tâm điểm của Jerusalem, là ngôi đền Hồi giáo Golden Dome với cái mái vòm bằng nhôm giát vàng nổi bật trên nền trời Jerusalem và nổi tiếng với sự tích Tiên tri Mohammed cưỡi ngựa bay lên trời từ một tảng đá nay nằm bên trong đền thờ (từ đó nó còn có tên là đền thờ Dome of the Rock), còn người Do Thái thì lại tin là trên tảng đá đó tổ phụ Abraham của họ đã trói và đặt con trai mình là Isaac để sẵn sàng giết và hiến tế cho Thượng đế của họ. Đền thờ được xây dựng vào năm 709 sau CN bởi một quốc vương Hồi giáo trên chính cái nền của ngôi đền thờ thiêng liêng và là biểu tượng của Do Thái giáo và nhà nước Do Thái cổ. Ngôi đền này hai lần được xây dựng rồi bị phá hủy, đầu tiên do Solomon, một minh quân kế tục vua David, cho xây dựng vào thế kỷ thứ X trước CN và bị đế quốc Babylone phá hủy vào năm 586 trước CN. Ngôi đền thứ hai được những người Do Thái trở về từ nơi lưu đày ở Babylone xây dựng cũng tại vị trí cũ vào năm 516 trước CN để rồi lại bị đế quốc La Mã san bằng vào năm 70 sau CN. Ngày nay, những gì còn lại của đền thờ Jerusalem của người Do Thái chỉ là một bức tường nằm dười chân Núi Đền thờ mà du khách thường đi đến đó sau khi đi qua giáo đường Hồi giáo Dome of the Rock. Đó chính là Bức tường phía Tây hay Bức tường Than khóc (Wailing Wall) mà người theo Do Thái giáo xem là nơi thiêng liêng nhất và là nơi họ đến để than khóc cho ngôi đền thờ bị phá hủy, cho sự mất nước và lưu đày, cũng như để cầu xin cả những lợi lộc vật chất cho cuộc sống trần gian của họ. Trước Bức tường Than khóc

Trong khi đó, ngôi đền Hồi giáo Dome of the Rock được xây dựng trên nền ngôi đên thờ của Do Thái giáo và tồn tại đến nay cũng từng bị biến thành nhà thờ và nơi trú đóng của các đạo quân Thập tự chinh vào thế kỷ XI-XII. Kết cục của lớp lớp biến động lịch sử này là thành cổ Jerusalem hiện được chia thành bốn khu vực do người Hồi giáo, người Do thái giáo, người Thiên chúa giáo và người Armenia (đến đây từ thời đế quốc Byzantine thống trị vùng đất này) kiểm soát.

Ngoài ngôi đền Dome of the Rock và Bức tường Than khóc, trong thành cổ, nằm kề bên nhau, sát vách nhau, hoặc cái trên cái dưới là vô số những di tích, những địa điểm lịch sử mà cái này thì thuộc Thiên chúa giáo, cái kia thuộc Chính thống giáo, cái này của Hồi giáo, cái kia của Do thái giáo. Như những chặng đường Via Dolorosa, con đường khổ nạn mà người ta tin là Jesus đã vác thập giá đi qua để đến chỗ bị đóng đinh trên núi Sọ, nay phải ngoằn ngoèo xuyên qua những con phố dốc, nhỏ hẹp, với san sát hai bên là những cửa hàng buôn bán mà đa số là của người Ả rập theo đạo Hồi. Hay như nhà thờ Mộ Thánh (Holy Sepulcher) ở cuối con đường khổ nạn, trên đồi Golgotha (tức núi Sọ), nơi mà người ta tin là địa điểm dựng cây thập giá và có ngôi mộ táng Jesus, năm tôn giáo cùng chia nhau cai quản năm phần trong đó, phần thì do Chính thống giáo Hy Lạp quản lý, phần sát bên lại do Công giáo La Mã hoặc Chính thống giáo Armenia quản lý… Bản thân nhà thờ được xây dựng lần đầu từ thế kỷ thứ IV sau CN, dưới thời đế quốc La Mã, nhưng sau đó bị phá hủy nhiều lần và chỉ được xây dựng lại từ thế kỷ XII, khi quân Thập tự chinh chiếm Jerusalem, và tồn tại đến nay.

Tương tự như vậy, với những địa danh, di tích khác như Bethlehem, nơi có nhà thờ Giáng sinh xây dựng bên trên hang đá nơi Jesus ra đời, nay nằm dưới sự kiểm soát của người Palestine. Muốn đến Bethlehem để thăm nhà thờ Giáng sinh rồi từ đó trở về khu vực do Israel kiểm soát, người ta phải vượt qua chốt kiểm soát nghiêm ngặt đặt tại một cửa ngõ của bức tường cao ngất và dài cả trăm cây số, mà nghe nói phía Israel dựng lên chỉ trong một đêm, nhằm ngăn các phần tử khủng bố từ khu vực của người Palestine xâm nhập vào khu vực do Israel kiểm soát. Hay Jericho, đô thị cổ xưa nhất trên thế giới,nơi Jesus từng đến rao giảng, nay chỉ còn lại ít phế tích bên cạnh đô thị mới, cũng nằm dưới sự cai quản của người Palestine. Cả Bethlehem và Jericho đều nằm ở bờ Tây sông Jordan, khu vực tranh chấp giữa Israel và nước láng giềng Jordan, dù thực tế Israel đang kiểm soát về mặt quân sự vùng đất này từ sau cuộc chiến tranh 6 ngày vào năm 1967.
Bức tường ngăn cách khu vực do Israel kiểm soát với khu vực do người Palestine kiểm soát, trên đường đi Bethlehem

Nhưng nói đến sóng lớp phế hưng, không thể không nhắc đến thành cổ Akko (hay Acre), cảng cổ Jaffa (hay Yafo), Masada - cứ điểm cuối cùng của những người Do Thái kháng chiến chống đế quốc La Mã, hay Caesarea – một thành cổ ven Địa Trung Hải do vua Herod the Great của Do Thái xây dựng dưới thời đế quốc La Mã đô hộ.

Nằm ở phía bắc thành phố cảng Haifa, Akko là một trong những cảng thị cổ xưa nhất có cư dân ở liên tục từ 1500 năm trước Công nguyên (CN) cho đến nay. Akko đầu tiên là một cảng thị của người Phoenicians, sau đó đã qua tay nhiều đế quốc, nhiều thế lực, nhiều triều đại. Người Assyrians chiếm đóng cảng thị này vào khoảng năm 700 trước CN. Vào năm 332 trước CN, nó bị Alexander đại đế sáp nhập vào đế quốc Hy Lạp. Kế đến bị Ptolemy của Ai Cập chiếm đóng và đổi tên thành Ptolemais, để sau đó lại trở thành một thuộc địa của đế quốc La Mã khi La Mã thống trị cả vùng Địa Trung Hải. Đến năm 395 sau CN, khi đế quốc La Mã phân liệt thành đế quốc phía Tây với Rome là trung tâm và đế quốc phía Đông với Bysance (nay là Istanbul, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) là trung tâm, Akko về tay đế quốc Đông La Mã. Đến năm 638 Akko rơi vào tay người Ả rập và nằm dưới sự cai trị của người Ả rập cho đến thế kỷ XII. Tiếp đó là các đoàn quân Thập tự chinh, những người xây dựng nên cả một thành lũy kiên cố và rộng lớn mà người ta thấy còn tồn tại đến nay. Ngay cả Napoléon vào năm 1799 cũng tìm cách đặt chân lên Akko nhưng cuối cùng bị đẩy lùi. Năm 1917 Akko cũng như toàn bộ vùng đất bấy giờ được gọi là Palestine nằm dưới quyền ủy trị của nước Anh và chỉ được giao lại cho Israel khi nhà nước này được thành lập vào năm 1948. Akko nay được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại.Bao lơn cầu Bridge of Wishes ở Jaffa có 12 cung hoàng đạo theo tử vi phương Tây, đúc bằng đồng, tuyệt đẹp. Trong ảnh là phù điêu Xử nữ. Người ta thường đến cầu này để cầu may mắn. Ai thuộc tuổi nào thì đến chỗ có phù điêu tượng trưng cho tuổi ấy để cầu xin.

Cũng là một cảng thị sầm uất như Akko trước đây nhưng ra đời trước cả Akko, cảng cổ Jaffa nằm ở phía nam Tel-Aviv và là một phần của Tel-Aviv ngày nay. Jaffa gắn liền với truyền thuyết trong Kinh thánh về trận Đại hồng thủy, khi một người con của Noah, người sống sót qua trận hồng thủy, quyết định định cư tại đây, và với truyền thuyết Hy Lạp về câu chuyện tình giữa Perseus và nàng Andromeda xinh đẹp, theo đó chàng Perseus trên con ngựa trắng có cánh đã từ trên trời bay xuống cứu nàng Andromeda, con gái của nhà vua thành Jaffa đang bị vua cha trói vào một tảng đá trên cảng để tế thủy thần. Là cửa ngõ chính nhập khẩu hàng hóa cho thủ đô Jerusalem xưa kia, Jaffa từng bị đánh chiếm, phá hủy rồi xây dựng lại ít nhất 15 lần trong lịch sử 4.000 năm tồn tại của mình bởi những thế lực, những đế quốc muốn làm chủ vùng đất ven biển Địa Trung Hải này, từ Ai Cập đến đế quốc Ottoman-Thổ, từ Napoleon đến quân Anh. Ngày nay Jaffa là một thành phố du lịch nổi bật với những ngôi nhà cổ xây bằng đá màu vàng như mật ong, những biển số nhà bằng gốm xanh da trời tuyệt đẹp, những con tàu sơn nhiều màu sắc thả neo ngoài cảng và những xưởng sáng tác của các nghệ sĩ.
Một bảng hiệu bằng gốm tại cảng cổ Jaffa

Còn Masada gần Biển Chết, nay là một di sản văn hóa nhân loại, là chứng tích của một thời Herod The Great, vua Do Thái, với lối sống xa hoa và ưa thích hoành tráng, đã cho xây dựng cả một lâu đài nguy nga với đầy đủ những tiện nghi đế vương trên một đỉnh núi giữa sa mạc khô cằn. Masada cũng là nơi những người Do Thái chống đế quốc La Mã dùng làm điểm kháng cự cuối cùng để rồi tự sát tập thể trước khi nó rơi vào tay quân La Mã vào năm 73 sau CN. Ngày nay, Masada trở thành một biểu tượng của ý chí bảo vệ lãnh thổ của người Israel, nơi mà các tân binh nam nữ Israel đến luyện tập và hô vang lời thề: “Chúng ta sẽ không để Masada thất thủ một lần nữa”. Trong khi đó, Caesarea bên bờ Địa Trung Hải từng là một đô thị sầm uất được Herod xây dựng nhằm tôn vinh hoàng đế La Mã Augustus Caesar. Chính tại đây đã xảy ra cuộc thảm sát hàng chục ngàn người Do Thái và khơi mào cho cuộc nổi dậy chống quân La Mã chiếm đóng. Đến năm 639 Caesarea rơi vào tay quân Ả rập để đến đầu thế kỷ XII lại vào tay quân Thập tự chinh và cuối cùng bị người Hồi giáo phá hủy. Những gì còn lại hiện nay là một đường dẫn nước đồ sộ trên cao (aqueduct) và một hí trường kiểu La Mã…

Hai nữ quân nhân Israel. Rất xinh.


Còn nhiều nữa những chứng tích về sự hưng phế của các đế quốc, các triều đại xô đẩy nhau trên mảnh đất này, mảnh đất mà du khách nhìn thấy chủ yếu là sỏi đá khô cằn nhưng người Do Thái coi là miền Đất hứa, “miền đất chảy sữa và mật ong”. Phải chăng vì vị trí địa chiến lược của nó, nằm ven Địa Trung Hải, giữa Bắc Phi và Nam Âu, giữa thế giới phương Tây và thế giới Ả rập, mà vùng đất này đã trở thành sân khấu cho sự giành giật qua lại giữa tất cả các đế quốc nổi lên trong và ngoài vùng? Nhìn những chứng tích của những thời đã qua trên mảnh đất nhỏ hẹp này rồi nhìn sóng biển Địa Trung Hải vỗ vào bờ như hàng ngàn năm nay sóng vẫn vỗ, du khách không rứt khỏi được ý nghĩ: những đế quốc ấy, những triều đại ấy, những thế lực ấy, trong thời hưng thịnh của mình đã không bao giờ nghĩ sẽ có ngày diệt vong, nhưng rồi chúng đã bị lịch sử, như sóng biển hết lớp này đến lớp khác cuốn đi. Đế quốc nào, triều đại nào rồi cũng có lúc suy tàn, chỉ khác là chúng đi vào lịch sử như thế nào mà thôi. Chỉ có Địa Trung Hải ngàn năm nay vẫn thế; biển Chết ngàn năm nay vẫn thế, dù gần đây nó có co lại mỗi năm khoảng 1 mét vuông do nước từ sông Jordan đổ vào ít hơn. Hay biển Galilee (thực ra là một hồ nước ngọt) ngàn năm nay vẫn thế, chỉ khác là ven hồ, những thành phố mới, những khu nghỉ mát mới đua nhau mọc lên.


(*) Tour du lịch Israel do công ty du lịch Hương Băng Travel tổ chức thường xuyên, vừa mang tính hành hương vừa mang tính lịch sử-văn hóa.
Địa chỉ công ty: 48/46 Hồ Biểu Chánh, phường 11, quận Phú Nhuận. Văn phòng giao dịch công ty: 402/9A Lê Văn Sỹ, phường 14 quận 3, TPHCM.
ĐT: 399.733.69 – Email:
huongbang-td@vnn.vn
Web: http://www.huongbangtravel.com