Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

BERLIN – NĂM THỨ MƯỜI MỘT

Theo lời mời của Văn phòng Thông tin-báo chí liên bamg Đức, năm 2000 tôi có sang thăm Đức. Sau đây là ghi nhận của tôi về Berlin lúc ấy, năm thứ 11 sau ngày nước Đức thống nhất.

Bức tường

Berlin, nhất là phía Đông, đập vào mắt du khách như một công trường xây dựng khổng lồ. Lô nhô khắp nơi những giàn giáo, cần cẩu. Nhiều công trình xây dựng mới như dinh Thủ tướng hoặc phục chế qui mô như tòa nhà Quốc hội Đức (Reichstag) nổi tiếng vừa hoàn tất chưa lâu, kể từ khi Berlin trở lại là thủ đô của nước Đức thống nhất. Trên dải đất thuộc Đông Berlin tiếp giáp với Tây Berlin trước đây, mà người dân gọi là "vùng đất hoang", đã và đang mọc lên nhiều trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn…. Nhiều đền đài, cung điện, bảo tàng vẫn đang tiếp tục được trùng tu hoặc vận động xây dựng lại nhằm trả lại cho Berlin tất cả vẻ vàng son xưa, từ thời nó còn là thủ đô của nước Phổ. Một nhà ga trung tâm mới đang được xây dựng thay thế nhà ga cũ vốn chỉ đủ phục vụ cư dân Tây Berlin trước đây. Chính quyền thành phố cũng đang có kế hoạch hiện đại hóa, mở rộng gấp nhiều lần sân bay quốc tế Schonefeld nằm ở phía Đông, thay cho sân bay Brandenburg nhỏ hẹp ở phía Tây hiện nay, nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương của một Berlin 3,5 triệu dân, không còn chia cắt, và sẽ nằm ở ngay tâm điểm của châu Âu khi Liên hiệp châu Au ngày càng mở rộng về phía đông.
Hơn mười năm rồi Berlin không còn chia cắt. Bức tường ngăn cách Đông và Tây giờ chỉ còn lại chừng 300 mét được rào chắn kỹ lưỡng , xem như chứng tích của một thời đã qua. Ơ một số đoạn mà bức tường chạy qua trước đây, dưới mặt đường, người ta gắn những tấm đan bằng sắt đúc nổi dòng chữ :"Bức tường 1961 – 1989". Đông đảo khách du lịch thường đến chụp ảnh lưu niệm tại những nơi đó và tại Nhà bảo tàng Bức tường (Mauer-museum Haus) nằm tại Checkpoint Charlie, điểm tiếp giáp giữa khu vực do Mỹ kiểm soát và khu vực do Liên Xô kiểm soát khi Berlin bị chia thành bốn khu vực do bốn cường quốc Liên Xô, Mỹ, Pháp, Anh kiểm soát sau Thế chiến 2. Đó là những gì còn lại của bức tường. Không thấy có những đổ vỡ hay đảo lộn khác. Những di tích như tượng đài kỷ niệm Hồng quân Liên Xô, tượng Mác-Angghen trên quảng trường Marx-Engels-Forum vẫn còn nguyên đó, kể cả một bức ảnh " O du kích nhỏ giương cao súng…" in trên một cột thép đối diện với tượng Mác-Angghen.
Thế còn những "bức tường" khác ? Tôi thắc mắc hỏi khi nhận thấy, đi ra ngoại ô phía Đông Berlin, sự cách biệt so với phía Tây còn khá rõ. Cô gái hướng dẫn chúng tôi, sinh ra và lớn lên ở Đông Đức, nay vừa làm việc cho Viện Goethe, vừa tiếp tục học Đại học Humboldt ở Berlin, biết ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha và kiếm tiền thêm bằng cách làm hướng dẫn viên cho khách của Trung tâm thông tin-báo chí Liên bang, kể chuyện gia đình cô : bố mẹ cô vẫn ở Đông Đức, nay đã về hưu; mẹ cô rất vui vì vừa sắm chiếc máy vi tính mới, cha cô đi làm từ lúc 14 tuổi, tính thâm niên hơn 45 năm, nay lãnh lương hưu nhiều hơn trước đây. Cô nói : trước đây có tiền cũng chỉ được mua xe Trabant (loại xe hơi phổ biến ở Đông Đức cũ), nay ai muốn mua xe gì thì mua, tất nhiên nếu có đủ tiền, và người ta hài lòng được như vậy.
Nước Đức vừa kỷ niệm 10 năm thống nhất. Một báo cáo mới nhất của chính phủ liên bang cho thấy thu nhập của người lao động ở các bang phía Đông đã tăng từ chỗ bằng 49% thu nhập của các bang phía Tây vào năm 1991, một năm sau khi thống nhất, lên bằng 77% vào năm 2000. Thu nhập ròng của cư dân ở phía Đông hiện nay đã bằng 90% ở phía Tây. Từ tháng 7-2000, lương hưu tiêu chuẩn trả cho một người hưởng lương hưu trung bình từ quỹ lương hưu nhà nước sau 45 năm làm việc là 2020 mác/tháng ở các bang phía Tây và 1754 mác/tháng ở phía Đông, tức bằng 87% của phía Tây. Phụ nữ ở phía Đông, do mức nhân dụng cao hơn và công việc làm trước đây thường ổn định hơn, còn lãnh lương hưu cao hơn phụ nữ ở phía Tây : 1502 mác so với 1308 mác. Theo một cuộc điều tra tiến hành 5 năm một lần của Văn phòng Thống kê Liên bang, thu nhập bình quân của hộ gia đình năm 1998 là 5448 mác/tháng ở phía Tây và 4130 mác ở phía Đông, tức bằng 76%. Một cuộc thăm dò vào mùa xuân năm nay cho thấy 54% những người dân phía Đông được hỏi cho biết tình hình tài chính của họ khá lên từ ngày thống nhất, 17% cho là tệ hơn trước ngày thống nhất. Đánh giá của người dân Đức nói chung về tình hình tài chính của họ chẳng khác nhau là mấy : 53% người dân phía Tây và 47% người dân phía Đông cho rằng tình hình tài chính của họ là tốt, 33% phía Tây và 35% phía Đông cho rằng có tốt có xấu, và 12% phía Tây và 14% phía Đông cho là xấu.
Tuy nhiên tỉ lệ thất nghiệp ở phía Đông vẫn còn cao hơn gấp đôi phía Tây do kinh tế phía Đông đang trong quá trình cơ cấu lại nhằm hiện đại hóa, tăng tính cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp. Nhằm mục đích ấy, chính phủ Đức đã khuyến khích đầu tư tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kết qủa là đến nay đã có trên 500.000 doanh nghiệp mới thành lập, tạo ra trên 3 triệu việc làm mới ở phía Đông. Trong kế hoạch lần thứ hai dự kiến kéo dài từ năm 2005 đến 2019 nhằm phục hồi kinh tế phía Đông, chính phủ liên bang còn dự định sẽ bỏ vào đây 306 tỉ mác (khoảng hơn 150 tỉ USD) nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo, khuyến khích đầu tư theo một hiệp ước với các bang phía Đông, gọi là Hiệp ước Đoàn kết II.
Có lẽ ai cũng hiểu, sớm san bằng sự cách biệt về kinh tế và mức sống giữa hai miền là vì lợi ích của nước Đức thống nhất và của bất kỳ đảng cầm quyền nào ở Đức muốn ổn định xã hội và được lòng dân.

Mở

Người hướng dẫn chúng tôi ở Frankfurt, lại cũng là một người của Viện Goethe, nói : nước Đức, người Đức bây giờ đã "mở". "Mở" theo ý ông có nghĩa là quốc tế hóa, không phải chỉ biết có dân tộc mình. Qủa vậy, những người đứng tuổi như ông trước đây biết nói tiếng Pháp, giờ nói thêm tiếng Anh. Cô hướng dẫn viên ở Berlin, tuổi cỡ 30, thì nói thông thạo tiếng Anh, thêm tiếng Pháp và Tây Ban Nha. Giới trẻ bây giờ hầu hết có thể nói tiếng Anh. Đó chỉ mới là một biểu hiện "mở". Hôm chúng tôi đến thăm Ngân hàng Trung ương châu Au (ECB) đóng tại Frankfurt, thủ đô tài chính của châu Au, tiếp chúng tôi để giới thiệu về việc chuẩn bị phát hành đồng tiền chung châu Au Euro ra dân chúng từ đầu năm 2002 là một thanh niên Tây Ban Nha còn rất trẻ, nói lúc tiếng Anh, lúc tiếng Pháp. Một cái gì đó của châu Au nhất thể hóa trên đất Đức.
Ở Berlin, cô hướng dẫn viên hào hứng đưa chúng tôi đi tham quan Trung tâm Sony do hãng Sony của Nhật đầu tư xây dựng, một công trình kiến trúc tân kỳ toàn bằng kính, nổi bật giữa trung tâm thành phố. Ơ đó những sản phẩm công nghệ cao mới nhất của Sony được trưng bày, giới thiệu. Cũng nhiệt tình như vậy, cô đã hướng dẫn chúng tôi đi tham quan Bảo tàng Do Thái, một công trình kiến trúc vừa khánh thành trước đó không lâu, trên cái nền của Bảo tàng Berlin cũ.Phải bỏ cả một buổi để hiểu cuộc sống của người Do Thái từ những thế kỷ xa xưa ở Đức và châu Au, nguồn gốc những thành kiến sai lệch của nhiều người châu Au đối với họ, và những đóng góp của họ cho nền văn minh phương Tây. Bảo tàng nằm giữa Berlin, nơi từng chứng kiến sự ra đời của chủ nghĩa quốc xã, như một lời tạ lỗi – tôi nghĩ.
"Mở" còn ở chỗ, như ông Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu khoa học Liên bang Bulmahn nói, Đức nhận thấy mình đang tụt hậu so với trình độ thế giới trong một số lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhất là về công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, công nghệ gen, và đang đẩy mạnh các hoạt động trao đổi quốc tế về nghiên cứu khoa học và giáo dục đại học. Chính phủ Đức còn đi xa hơn với một kế hoạch gọi là "thẻ xanh", cho phép các công ty bù đắp sự thiếu hụt chuyên gia công nghệ thông tin bằng cách thuê chuyên gia công nghệ thông tin nước ngoài. Cho đến nay đã có 5678 chuyên gia nước ngoài được cấp thẻ xanh (đông nhất là An Độ với 872 người; Nga, Ucraina, Belarus và các nước Baltic tổng cọng 660 người; ít như Pakistan cũng có 94 người; Rumani 4 người; không thấy có người Việt Nam).
Dù sao, khi đến thăm trường Đại học Kỹ thuật Berlin, một trường có lịch sử trên 200 năm, chúng tôi cũng được biết trong số gần 6000 sinh viên nước ngoài (20%) đang học tại đây có 70 sinh viên Việt Nam đang theo học. Đông nhất là người Thổ Nhĩ Kỳ, kế đến là người Trung Quốc đại lục. Vị đại diện của trường tiếp chúng tôi cho biết tuy trường có số lượng sinh viên nước ngoài theo học đông nhất ở Đức nhưng đến nay trường vẫn chĩ sử dụng tiếng Đức và đó là một trở ngại cho việc quốc tế hóa giảng dạy, nghiên cứu. Ong cho hay sắp tới trường sẽ cho sử dụng thêm tiếng Anh trong giảng dạy, qua đó có thể thu hút thêm sinh viên nước ngoài.

Nhà đầu tư Đức và Việt Nam : mới có mặt vài cái antenne nhỏ

Tiếp chúng tôi hai ngày trước chuyến thăm Đức của Thủ tướng Phan Văn Khải, Tiến sĩ Gunter Gruber, Vụ trưởng Vụ Đông Nam A - Úc - New Zealand và Thái Bình Dương của Bộ Ngoại giao Đức nói ông mong đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ phát đi một thông điệp rõ ràng tới các doanh nghiệp Đức, rằng Việt Nam sẽ tạo khung khổ tốt cho kinh doanh và đầu tưqua cải cách kinh tế, cải cách hệ thống ngân hàng, qua việc đặt pháp luật lên trên hết. Ong nhắc lại, doanh nghiệp Đức đã làm ăn là làm ăn lâu dài chứ không ăn xổi. Năm 1994-1995 doanh nghiệp Đức hồ hởi tới Việt Nam nhưng sau đó đã mất dần hồ hởi vì thực tế không như họ nghĩ. Họ so sánh môi trường đầu tư ở Việt Nam với Trung Quốc, Hàn Quốc, An Độ. Việt Nam có nhiều lợi thế nhưng các nước khác cũng có những lợi thế của họ, cạnh tranh thu hút đầu tư với Việt Nam không chỉ có Trung Quốc mà còn nhiều nước khác. Ong cho rằng cần thay đổi từ từ nhưng phải có ý chí thay đổi.
Ong cũng cho biết 80% số doanh nghiệp Đức là doanh nghiệp nhỏ và vừa (1-5000 công nhân). Phải thu hút số doanh nghiệp này đầu tư, điều mà đến nay Việt Nam vẫn chưa làm được.
Cùng một suy nghĩ như Tiến sĩ Gruber, Luật sư Philipp Graf von Walderdorff, phụ trách quan hệ quốc tế, chính trị và lễ tân của Hiệp hội các Phòng Thương mại và công nghiệp Đức (DIHK) là một người thích nói thẳng. Ong cho rằng Việt Nam chưa hấp dẫn được nhà đầu tư Đức, chưa cạnh tranh được với Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc. Doanh nghiệp Đức đầu tư vào Việt Nam mới chỉ là "vài cái antenne nhỏ của vài công ty lớn" (như Siemens, Mercedes, Deutsche Bank), có rủi ro cũng không hề hấn gì, trong khi 80% doanh nghiệp Đức là nhỏ và vừa nhưng rất năng động. Họ cần một mội trường kinh doanh rõ ràng, minh bạch, đúng pháp luật, không có sự can thiệp của những quyết định hành chính nhất thời hoặc theo ý muốn chủ quan của ai đó.
Theo ông, cần phải biết nắm lấy cơ hội, nhưng Việt Nam chưa nắm được một nửa cơ hội.
Tại cuộc gặp gỡ của Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Đức Schroeder với giới báo chí hai ngày sau đó, Thủ tướng Đức có nói là ông muốn các doanh nghiệp Đức hãy nhanh chân vào Việt Nam. Sự ủng hộ của nhà nước đối với doanh nghiệp là hết sức cần thiết, nhưng đồng tiền là của họ và họ sẽ chỉ đầu tư khi nào thấy có lợi, có thể làm ăn được. Mặt khác, việc tiếp thị, định vị hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài như một đối tác làm ăn lâu dài, hiểu biết luật chơi, đáng tin cậy- theo cảm nhận của chúng tôi - còn xa mới có thể coi là đã có kết quả. Mặc dù Đức và Việt Nam có đại sứ quán ở mỗi nước và DIHK có mở một văn phòng ở Hà Nội nhưng, theo Luật sư von Walderdorff, thông tin về Việt Nam ở Đức vẫn rất thiếu.

MỘT THOÁNG Ý

Rời thành Vienne, rời dòng Danube nhắc nhớ điệu valse của Johann Strauss, bỏ lại sau lưng xứ sở của Mozart, bỏ lại cung điện mùa hè tráng lệ Schonbrunn hao hao giống Versailles của Pháp với 1441 sảnh và phòng mà thời gian một buổi chỉ đủ cho chúng tôi tham quan 7- 8 phòng trong đó có gian phòng lớn nơi Mozart đã so tài với nhạc sĩ cung đình Salieri, phòng Trung Quốc, phòng Nhật Bản bài trí theo phong cách Trung Hoa và Nhật Bản, bỏ lại Nhà hát opera quốc gia nơi diễn ra những cuộc hòa nhạc quốc tế nổi tiếng đầu mỗi năm mới, rời những quán café ấm cúng, dễ thương của Vienne cũng nổi tiếng không kém gì những quán café Paris, chúng tôi băng ngang nước Áo từ đông sang tây để qua Ý. Hai bên đường, nông thôn Áo trải dài trên những núi đồi thoai thoải, xanh mượt, yên bình, thỉnh thoảng điểm xuyết những thành phố nho nhỏ ngăn nắp, sạch sẽ, đẹp như một bức tranh.

1. Xe đến biên giới Áo -Ý,băng vào nước Ý mà chúng tôi không biết là đã vào một quốc gia khác. Chẳng có ai xét hỏi, chẳng thấy một bóng người, xe chẳng phải dừng. Chỉ đến khi trông thấy bên đường tấm biển lớn sơn màu xanh lá cây như màu trên lá cờ Ý,chúng tôi mới biết là mình đã vào đất Ý. Áo và Ýđều là thành viên của hiệp ước Schengen do đó từ nước này có thể tự do đi qua nước kia mà chẳng cần trình giấy tờ gì. Thật khác xa với lúc đặt chân xuống sân bay Vienne, cảnh sát cửa khẩu săm soi từng chữ trong hộ chiếu, lật đi lật lại, cho vào máy kiểm tra, lại săm soi mãi đến sốt ruột rồi mới cho qua, bởi đó là cửa khẩu đầu tiên của chúng tôi vào các quốc gia tham gia hiệp ước Schengen. Nhưng một khi đã vào rồi thì có quyền tự do đi bất cứ đâu trong phạm vi các nước đó.

2. Venise, điểm dừng chân đầu tiên... Venise với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên bờ biển Adriatique đón những cư dân đầu tiên đến sinh sống từ thế kỷ thứ 5 sau công nguyên rồi nhờ biết khai thác vị trí địa lý thuận lợi trên con đường buôn bán với phương Đông mà đã trở thành một thương cảng sầm uất và một cường quốc hải quân hùng mạnh, trở thành Cộng hòa Venise từ thế kỷ thứ 10, nổi tiếng với những nhà buôn và nhà hàng hải, nhà thám hiểm (nổi tiếng nhất trong số đó là Marco Polo) có máu phiêu lưu, làm giàu. Chỉ đến khi bị Napoléon chinh phục (1797) rồi sau đó bị sáp nhập vào Áo, Cộng hòa Venise mới chấm dứt sự tồn tại và, cùng với việc phát hiện ra Tân thế giới, trọng tâm buôn bán từ Địa Trung Hải chuyển sang Đại Tây Dương, thời vàng son của Venise mới kết thúc. Từng đi chinh chiến và ngược lại cũng bị chiếm đoạt, bị trao từ tay đế quốc này qua đế quốc khác, vậy mà du khách đến thăm Venise hôm nay vẫn không thể không ngạc nhiên vì sự giàu có của kho tàng kiến trúc và nghệ thuật rực rỡ mà Venise vẫn gìn giữ được và rất biết cách khai thác để làm giàu cho cuộc sống người dân hôm nay. Một ngày cũng chỉ đủ để rảo bước quanh quảng trường trung tâm San Marco nườm nượp du khách, nhà thờ San Marco xây dựng từ thế kỷ 11,tháp đồng hồ đang tu bổ, cây "Cầu Thở than" nổi tiếng mà ngày xưa các tù nhân thường bị giải qua trước khi vào nhà tù, tượng đài chiến thắng hải quân, tận mắt xem nhữg người thợ thủ công lành nghề biểu diễn thổi pha lê trong một xưởng làm ra thứ pha lê Murano nổi tiếng, len lỏi trong một vài lối đi nhỏ quanh co, yên tĩnh và nhìn những chiếc gondola-ngày nay chủ yếu dùng để chở khách đi tham quan-lướt qua các con kênh. Venise đẹp cổ kính và mông lung giữa sắc trời và sắc nước. Dừng chân ở Venise chỉ từ sáng đến chiều và cũng chỉ loanh quanh ở một góc của hòn đảo trung tâm,chúng tôi ước lượng có không dưới mấy chục ngàn du khách ghé đây mỗi ngày. Giả dụ mỗi người chỉ tiêu pha lặt vặt, mua quà tặng cỡ 100 đôla, Venise mỗi ngày, mỗi năm thu nhập về du lịch sẽ là bao nhiêu ?

Nếu Venise đẹp cổ kính, hoành tráng thì Florence, một trong những cái nôi của thời Phục hưng lại đẹp rực rỡ và thanh thoát hơn với các kiến trúc gothic. Đây là cái nôi của những bậc thầy nghệ thuật và khoa học của thời Phục hưng: Michelangelo, Rafael, Galileo, Leonardo da Vinci, Giotto, Botticelli...Và trước đó là Dante của "Thần khúc"(thế kỷ 13-14). Sử sách chép lại rằng từ năm 1434 nhà nước-đô thị này đã có hiến pháp riêng dưới quyền cai trị khôn ngoan suốt 30 năm của Cosimo de Mediciê, người đã giữ cho Florence ở cái thế cân bằng giữa các nhà nước phong kiến gây chiến tranh liên miên thời ấy. Người cháu của ông là Lorenzo vẫn tiếp tục chính sách ấy và đã tạo điều kiện cho văn học và nghệ thuật nảy nở. Chủ nghĩa nhân văn và cùng với nó là trào lưu Phục hưng đề cao cái đẹp trí tuệ và tinh thần phát triển mạnh mẽ ở Florence và trên khắp đất Ý, làm nảy sinh những tư tưởng mới và trở thành động lực cho ra đời những thiên tài nghệ thuật và khoa học của thời kỳ ấy.

Chúng tôi đến Florence vào một buổi chiều.Và cũng như ở Venise, du khách nườm nượp trên khắp các quảng trường, các nẻo đường, trước các giáo đường, đua nhau chụp ảnh trước bức tượng David của Michelangelo và những tượng đài khác, xếp hàng dài cho đến tận chiều tối để vào các bảo tàng nghệ thuật. Hòa vào dòng người chen chúc nhau, chúng tôi đã rảo qua con đường chính cổ nhất Florence với nhũng tiệm kim hoàn nho nhỏ (Florence nổi tiếng từ thời Trung cổ với các phường thợ kim hoàn, len, tơ lụa bên cạnh kiến trúc và hội hoa) vẫn còn cho đến nay và buôn bán tấp nập,đứng trên chiếc cầu Vecchio cỗ xưa bắc qua sông Arno chia đôi thành phố. Nhưng Florence không chỉ có công trình kiến trúc và nghệ thuật cổ, Florence còn là một trong những trung tâm thời trang của cả Ý lẫn châu Âu với những tên tuổi Gucci, Bally, Fendi...nằm san sát nhau trên những con đường trung tâm.

Và Rome, "kinh thành muôn thuở". Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là một thành phố chìm trong bóng cây xanh. Mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm nghệ thuật và tất cả đều hài hòa-nói như vậy e thừa với La Mã và chắc cũng không đủ thì giờ để mô tả.

3. Chỉ xin nói gọn: Venise, Florence, Pise, Rome... Này là thành quách, pháo đài, lâu đài, cung điện. Này là giáo đường uy nghiêm, tượng đài, tháp chuông cổ kính, quảng trường bao la với những phiến đá nhẵn thín vì thời gian và gót chân người, này là những đấu trường cổ xưa nay chỉ còn là phế tích làm chứng cho một thời vàng son đã qua, này là bảo tàng với những tác phẩm nghê thuật vô giá, rồi thư viện, nhà hát... Họ thừa hưởng một gia sản văn minh vật chất quá giàu của cha ông để lại.Và họ rất biết cách gìn giữ trước hết là cho chính họ, sau là khai thác để thu hút du khách và làm giàu. Đấu trường Coloseum, nơi diễn ra các trận giác đấu ngày xưa, vẫn còn đó những chuồng nhốt nô lệ và sư tử, và hôm chúng tôi đến đang được tu bổ. Tháp đồng hồ ở Venise cũng đang được tu bổ. Giá cả ở Venise có đắt hơn ở Rome chút ít, nhưng ở đâu cũng chỉ một giá, dù anh là ai. Chúng tôi được hướng dẫn viên cảnh báo là ở Ý kém an ninh hơn ở Áo, nạn móc túi (chủ yếu là người Zigan) nhiều hơn, chúng tôi tin là vậy, nhưng không thấy có nạn quấy nhiễu du khách. Còn chúng ta, không giàu có được như người về di sản vật chất, phải chăng chỉ có thiên nhiên và con người, mà nếu đánh mất thì...

Trên chiếc máy bay của Lauda Air (hãng hàng không Áo trẻ này cùng với công ty du lịch T&T là người tổ chức chuyến tham quan làm quen Áo,Ý cho một số đại lý và du khách), nhìn các cô tiếp viên trẻ phục vụ khách tận tình, tôi bỗng nghĩ tới những bãi biển ngày càng bị ô nhiễm, tới nạn quấy nhiễu du khách, nạn giựt dọc, "chém đẹp" và...cả chế độ hai giá ở ta.

Của đền đài, núi lửa, vũ nữ và hương liệu

Những vũ nữ Java huyền thoại, những ngôi đền cổ ngàn năm, núi lửa, một bảo tàng xe lửa với những đầu máy có từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những hương liệu đầy mê hoặc... Đó chỉ là một số trong nhiều nét đặc sắc của thiên nhiên và văn hóa lâu đời của miền Trung Java đang thu hút du khách đến vùng đất này. Ghi nhận sau một chuyến thăm miền Trung Java.


Núi lửa, đền chùa và bảo tàng xe lửa

Giữa bầu trời miền Trung Java, ngọn núi lửa Merapi vẫn đang hoạt động, cao sừng sững đến 2.911 mét so với mực nước biển nhưng ít khi lộ diện hoàn toàn từ chân đến đỉnh núi cho mọi người nhìn ngắm. Mây mù thường xuyên che phủ đỉnh và chân núi khiến phần giữa ngọn núi như treo lơ lửng, chơi vơi giữa trời, đầy vẻ huyền bí.

Từ đèo Ketep, cách núi lửa Merapi một khoảng cách an toàn, chính quyền Indonesia đã xây một trung tâm nghiên cứu núi lửa, nơi khách tham quan có thể tìm hiểu lịch sử các lần hoạt động của núi lửa này mà lần mới nhất là vào năm 1994, cũng như xem cường độ địa chấn theo thời gian thực trực tuyến trên màn hình máy tính. Bên cạnh là một phòng chiếu phim nhỏ, đẹp, xây bằng đá, nơi khách tham quan có thể xem những thước phim tư liệu về những đoàn nghiên cứu núi lửa này. Cạnh đó là một đài quan sát núi lửa dành cho khách tham quan, từ đó du khách nếu có đủ kiên nhẫn, có thể chờ đợi để ngắm nhìn và chụp ảnh những giây phút hiếm hoi núi lửa Merapi lộ nguyên hình. Chỉ mới cách đây chưa lâu, địa điểm này còn chưa được khai thác, đưa vào tour du lịch, nhưng giờ đây, sau khi đương kim Tổng thống Megawati Soekarnoputri đặt viên đá khánh thành điểm du lịch này năm 2002, đèo Ketep đã trở thành một địa điểm tham quan và là một thắng cảnh ngày càng thu hút du khách.

Không chỉ có đèo Ketep và núi lửa Merapi, chính quyền Trung Java còn biết cách khai thác cho mục đích du lịch cả một nhà ga và những đầu máy xe lửa có từ thời thực dân Hà Lan. Nhà ga Ambarawa và tuyến xe lửa trên cao nguyên Trung Java này được thực dân Hà Lan xây dựng vào đầu thế kỷ trước nhằm chuyên chở sản vật từ vùng đất trù phú này về xuôi. Nay nhà ga và tuyến đường sắt này được biến thành bảo tàng Ambarawa và chỉ còn được dùng cho mục đích du lịch. Khác với ga Đà Lạt của ta, trông có vẻ hoang tàn và chỉ có một đầu máy hơi nước do Nhật chế tạo năm 1930 và một toa tàu do Đức chế tạo cũng vào năm ấy, bảo tàng Ambarawa được bảo tồn khá kỹ lưỡng với hàng chục đầu máy hơi nước được chế tạo từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Một đầu tàu được chế tạo năm 1911 kéo những toa tàu có thể chở khoảng 60 du khách đi từ ga Ambarawa leo đồi vượt dốc đến ga cuối Bedono trong vòng một tiếng đồng hồ, băng qua những làng mạc mang đậm nét đặc trưng Java, qua những thửa ruộng, đồn điền, vườn rau và vườn cây trái, với xa xa là những ngọn núi xanh thẫm (ngoài Merapi, miền Trung Java còn có bảy, tám ngọn núi cao khác) bao quanh.

Indonesia với hơn 13.000 hòn đảo lớn nhỏ có người ở là một đất nước đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, danh thắng và di tích. Khác với đảo Bali, nơi được nhiều du khách phương Tây biết đến, với những bãi tắm tuyệt đẹp và những khu resort đắt tiền, đảo Java và đặc biệt là miền Trung Java lại tự hào không chỉ về cảnh quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của lịch sử và nền văn hóa Java cổ kính, với cố đô Yoyakarta của một vương triều Hồi giáo vẫn còn tồn tại và nay được hưởng quy chế như một tỉnh mà tỉnh trưởng chính là nhà vua (sultan) của triều đại Hameng- kubuwono đang trị vì; với những đền đài Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo cổ xưa. Trung Java được mệnh danh là miền đất của ngàn ngôi đền. Nổi danh nhất trong số đó là Borobudur, một đền thờ Phật giáo lớn nhất thế giới, làm toàn bằng đá núi lửa, được xây dựng từ thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên (cùng thời với Angkor của vương quốc Khmer), chứng tích của sự giao lưu thương mại và văn hóa giữa Ấn Độ với vùng đảo Java, bị lãng quên và chỉ được nhà cai trị thực dân người Anh Sir Thomas Stamford Raffles khám phá và trùng tu mười thế kỷ sau (1814). Nhiều di sản của những thời kỳ lịch sử xa xưa vẫn còn sót lại như những vũ điệu Java truyền thống, khoa trị liệu bằng massage với đủ thứ hương liệu từ thảo mộc được nâng lên hàng nghệ thuật.

"Tư duy" mới

"Care n' smile" (Ân cần và vui vẻ) là câu khẩu hiệu được gắn trên mỗi lưng ghế trên các máy bay của Garuda, hãng hàng không quốc gia Indonesia. Ân cần và vui vẻ cũng là cảm giác của chúng tôi ở mọi nơi mà chúng tôi đến thăm trong chuyến đi ngắn ngày đến Trung Java. Trung Java đang muốn đua tranh thu hút khách du lịch với những vùng khác của Indonesia. Chẳng vậy mà nhiều quan chức đầu tỉnh Trung Java đã đến phòng chờ trong sân bay Semarang, thủ phủ Trung Java, từ rất sớm để ra tận chân cầu thang máy bay đón đoàn khách du lịch đầu tiên bay thẳng từ Singapore đến Semarang (không qua thủ đô Jakarta) tối hôm đó. Rồi sau đó, tại buổi tiệc chiêu đãi các đoàn khách du lịch đầu tiên bay thẳng đến Semarang từ Việt Nam, Singapore, Malaysia và các doanh nghiệp du lịch ngay tại dinh tỉnh trưởng, đích thân ông tỉnh trưởng H. Mardiyanto đã rất tự nhiên, không ngần ngại giúp vui bằng giọng ca của mình, sau mấy vũ điệu Java truyền thống.

Sự cởi mở nhằm thu hút du khách ấy không chỉ là hình thức. Nó quán xuyến cả trong việc lựa chọn để giới thiệu những điểm tham quan cho du khách, và trong "tư duy" về làm du lịch. Đưa chúng tôi tới thăm ngôi chùa Sam Po Kong của người Hoa ở Semarang đang được trùng tu, cô hướng dẫn viên du lịch người Java nói, trước đây chùa này không được đưa vào danh sách các điểm tham quan vì có người bảo đó không phải là văn hóa Java, nhưng nhiều ý kiến khác cho rằng người Hoa đã đến đây từ nhiều thế kỷ trước, đã làm ăn sinh sống ở đây, đã trở thành công dân Indonesia, "công dân" Java, sao văn hóa của họ lại không trở thành một bộ phận của văn hóa Java? Thế là Sam Po Kong, nơi có mô hình một chiếc thuyền đi biển của Trịnh Hòa, nhà thám hiểm nổi tiếng của Trung Hoa xưa, được đưa vào danh sách các điểm tham quan. Tuy nhiên, đâu đó trong suy nghĩ của du khách vẫn còn mối e ngại về những vụ khủng bố như ở Bali năm nào. Như đoán được suy nghĩ của du khách, một cán bộ của Sở Du lịch Trung Java, đi với chúng tôi suốt những ngày thăm miền đất này, nói: "Thật ra Hồi giáo ở đây rất ôn hòa, chúng tôi sống chung với các tôn giáo khác". Quả vậy, ở Trung Java có những trường đại học nổi tiếng của nhiều tôn giáo khác nhau, và ở thủ phủ Semarang, di sản của thời kỳ người Hà Lan cai trị Indonesia, kể cả một ngôi nhà thờ vòm khá đẹp, vẫn được bảo tồn kỹ lưỡng và được xem là một điểm du lịch có tiếng.

TĂNG TRƯỞNG và MÔI TRƯỜNG: NHÌN TỪ PHILIPPINES

Ghi nhận từ cuộc hội thảo về “Tác động của kinh tế toàn cầu đối với môi trường của các nước ASEAN” do Konrad Adenauer Foundation tổ chức từ ngày 26 đến 30-3-2000 tại Manila, thủ đô Philippines.

Pasig - Nhiêu Lộc

Con sông Pasig chảy qua Manila, một thời thơ mộng, nay là một dòng sông chết, bốc mùi hôi thối, đầy rác rưởi sinh hoạt và chất thải công nghiệp. Một thứ kênh Nhiêu Lộc của Manila. Một ủy ban phục hồi sông Pasig đã được thành lập từ năm 1993 dưới trào Marcos, nay được Tổng thống Estrada trao thêm phương tiện và quyền lực, dự định sẽ làm cho Pasig trở lại trong xanh vào năm 2008. Trong kế hoạch phục hồi sông Pasig, những doanh nghiệp mà cơ sở sản xuất nằm trên bờ sông như Unilever Philippines cũng tham gia.
Đoàn nhà báo dự hội thảo được hướng dẫn tham quan thiết bị xử lý nước thải của Unilever, có thể thấy một hồ nước nhỏ đã qua xử lý, trong đó tung tăng một đàn cá. Nhưng đó chỉ mới như là một điểm trình diễn. Con sông Pasig, đoạn chảy qua nhà máy vẫn còn đen kịt và bốc mùi hôi. Cán bộ phụ trách việc xử lý ô nhiễm của nhà máy giải thích, vì con sông chảy qua nhiều khu dân cư và cơ sở sản xuất khác nên phải có sự phối hợp mới có thể giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường. Dưới áp lực tăng trưởng kinh tế, toàn cầu hóa kinh tế và thương mại, môi trường ở các nước châu Á cũng ở trong tình cảnh tương tự. Đó có thể nói là một cái vòng lẩn quẩn : để sống còn, để thoát khỏi đói nghèo, người ta phải khai thác và khai thác đến mức cạn kiệt thiên nhiên, bất chấp cái giá phải trả ngày mai. Để tăng trưởng, những nước nghèo buộc phải tăng cường xuất khẩu, chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm thô, khai thác từ thiên nhiên. Rừng ở Indonesia, ở Myanmar, Thái Lan hay Philippines bị khai thác cạn kiệt cũng vì vậy. Việt Nam mất 200.000 ha rừng một năm, theo một số ước lượng, ngoài nguyên nhân do khai thác gỗ lậu và tình trạng di dân tự do, còn do người ta phá rừng để lấy đất trồng cà-phê vì xuất khẩu có giá.
Theo Tiến sĩ Delfin J. Ganapin Jr., điều phối viên của Liên đoàn Bảo vệ môi trường Philippines (PFEC) diện tích nuôi tôm ở Thái Lan trong những năm 1970 mới chỉ khoảng 10.000 ha, đến những năm 1990 đã lên tới khoảng 65.000 ha với sản lượng khoảng 180.000 tấn. Tuy nhiên, chỉ riêng ở hai tỉnh Samut Sakhon và Samut Songkhram, từ những năm 1990 đến nay đã có hơn một nửa diện tích nuôi tôm bị bỏ hoang do nước bị ô nhiễm nặng nề. Trong cả nước Thái Lan, khoảng 16.000 ha nuôi tôm đã bị bỏ hoang (số liệu 1995). Ở Indonesia, việc khai thác gỗ và phát triển diện tích nuôi cá đã khiến cho khoảng 500.000 ha rừng ngập mặn biến mất đầu những năm 1990.
Gánh nặng nợ nước ngoài cũng gây áp lực nặng nề đối với môi trường. Lấy thí dụ Indonesia với những vụ cháy rừng năm 1997. Đó là năm mà Indonesia rơi vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Báo cáo của chuyên gia cao cấp về môi trường của Ngân hàng Phát triển châu Á tại hội thảo cho thấy : Tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc dân của Indonesia là một trong những tỷ lệ cao nhất trong số các nước ASEAN - 65,3%. Mức nợ cao cộng với sự giảm giá mạnh của đồng rupiah và tình trạng quản lý tồi đã khiến cho nạn đốn gỗ bất hợp pháp và phá rừng, lấy đất trồng trọt nhằm gia tăng xuất khẩu để có tiền trả nợ nước ngoài đã khiến cho hàng loạt diện tích rừng bốc cháy. Hậu quả đối với môi trường cũng như đối với bản thân nền kinh tế Indonesia thật nặng nề : ô nhiễm không khí vượt cả biên giới quốc gia, lan sang các nước láng giềng, gây hại cho sức khỏe người dân và khiến cho ngành công nghiệp du lịch cả khu vực bị ảnh hưởng. Sự suy thoái của môi trường đã tác động ngược trở lại đối với tăng trưởng kinh tế.

Từ ZKK, Ecomark, Ecolabel…

Ở Navotas, Manila, bên dòng sông Pasig có một làng chài mà dân cư từng phải sống giữa một đống rác thải và chịu cảnh nhà cửa thường xuyên bị ngập nước do thiếu hệ thống thoát nước. Hôm các nhà báo đến thăm ngôi làng, các đường phố chật hẹp cũng còn lênh láng nước.Với hơn 19.000 hộ gia đình, hơn 87.000 nhân khẩu, có tới 27,5% sống trong những căn nhà ổ chuột, 25% lao động thất nghiệp. Năm 1996, nữ bác sĩ Judea Millora đã có sáng kiến phát động một chương trình có tên gọi là “Zero Kalat sa Kaunlaran” - viết tắt là ZKK - tiếng Tagalog có nghĩa là : không có rác xả, vì sự tiến bộ. Mục tiêu của chương trình không chỉ là dọn sạch rác rưởi, cải thiện môi trường mà còn là giải quyết tình trạng vô gia cư và nâng cao thu nhập cho dân cư. Rác được thu gom, phân loại, đưa đến các nhà máy để xử lý lại hoặc được tận dụng làm ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Một khu vườn và một trung tâm giống được hình thành để khuyến khích sản xuất thực phẩm. Với thời gian, ZKK đã trở thành một hợp tác xã nuôi sống nhiều gia đình đồng thời giải quyết được nạn ô nhiễm rác thải. Hợp tác xã được tổ chức thành năm đội : đội dọn dẹp chuyên dọn dẹp rác cho các công ty, các cao ốc, các hộ gia đình; đội huấn luyện giúp huấn luyện cho xã viên và cả những ai muốn học tập kinh nghiệm của ZKK; đội thủ công mỹ nghệ chuyên chế tạo những sản phẩm thủ công từ rác tận dụng để đem bán; đội thu gom rác có thể tái xử lý; đội phân loại rác và đội xử lý rác hữu cơ, biến rác thành phân bón dùng cho khu vườn.
Theo những người phụ trách, cùng với việc giải quyết thu nhập cho dân cư, ZKK bây giờ đã trở thành một lối sống đối với những người tham gia chương trình, một lối sống thân thiện với môi trường, hạn chế đến mức thấp nhất kiểu “văn minh vứt xả”. Nhưng đó là ở phạm vi một cộng đồng nhỏ. Còn trong phạm vi cả nền kinh tế ? Tiến sĩ Philippe Bergeron, Giám đốc Viện Công nghệ môi trường khu vực có trụ sở ở Singapore, trong báo cáo tại hội thảo cho biết nhiều nước châu Á và ASEAN đã sử dụng các công cụ chứng nhận về bảo vệ môi trường như ISO 14001 hoặc Ecomark, Ecolabel, Greenlabel… để thúc đẩy việc sản xuất sản phẩm không tác hại đến môi trường. Những vấn đề then chốt để có thể xúc tiến việc sản xuất sạch là : kỹ năng chuyên môn và kinh nghiệm của những chuyên gia trong lĩnh vực này, khả năng đánh giá khách quan chu kỳ sống của sản phẩm, đề ra được định hướng nhãn hiệu môi trường riêng của quốc gia, sự trưởng thành về ý thức môi trường của người tiêu dùng và khả năng tồn tại (của sản xuất sạch) về mặt tài chính.
Chính ở điểm này, một số nhà báo tham dự hội thảo đã cho rằng các nước giàu cần thiết phải chuyển giao, hỗ trợ công nghệ sản xuất sạch cho các nước nghèo.
Dù thế nào, mọi người đều có chung một nhận định : việc tự do hóa thương mại sẽ tác động đáng kể lên các nguồn tài nguyên của các nước ASEAN. Và như nhận định của tiểu chương trình Thương mại và Môi trường ASEAN-UNDP, cùng với việc giảm thuế quan và các hàng rào thương mại, những thay đổi trong cơ cấu sản xuất và các luồng đầu tư sẽ diễn ra khi lợi thế cạnh tranh chuyển qua những quốc gia sản xuất hiệu qủa hơn. Nhu cầu lớn hơn về những hàng hóa dựa trên tài nguyên thiên nhiên có thể đẩy những quốc gia tương đối nghèo hơn gia tăng khai thác thiên nhiên đến mức đánh mất tính bền vững trong phát triển. Mặt khác, những hoạt động chế tạo với giá trị gia tăng cao hơn tại những nước giàu cũng sẽ làm trầm trọng hơn nạn ô nhiễm. Công nghệ và tác động của tự do hóa thương mại đối với môi trường cần phải được xem là một nỗ lực nghiêm túc nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững./.

Các nhãn hiệu môi trường ở châu Á
Quốc gia Nhãn hiệu Năm Sản phẩm Số sản phẩm
tham gia thành lập được chứng nhận

Nhật Ecomark 1989 55 2500
Ấn Độ Ecomark 1991 19 không có số liệu
Singapore Green label 1992 21 702
Hàn Quốc Ecomark 1992 12 96
Trung QuốcEnvironmentallabel 1994 15 80
Thái Lan Green label 1995 6 không có số liệu
Indonesia Eco label 1997 4 nt

(Nguồn : Philippe Bergeron - Viện Công nghệ môi trường khu vực)

NẾU TRỊNH HÒA VẪN TIẾP TỤC GIONG THUYỀN ĐI BIỂN...


Thì bộ mặt của thế giới ngày nay có lẽ đã khác.

Hay đúng hơn,bàn cờ thế giới có lẽ vẫn thế,những vấn đề đặt ra cho các quốc gia ngày nay có lẽ vẫn thế,chỉ có điều là những quân cờ trên bàn cờ thế giới sẽ hoán đổi vị trí cho nhau.Phương Tây sẽ không phải là những người mang vốn liếng đi đầu tư ở nước ngoài, chuyển giao công nghệ ra nước ngoài mà ngược lại sẽ là người nhận đầu tư,nhận chuyển giao công nghệ.Người mang vốn liếng và công nghệ ra nước ngoài đầu tư và chuyển giao sẽ là Trung quốc và những nước Châu Á khác (trừ trường hợp Nhật bản đã đứng trong danh sách này).Người suốt 13 năm ròng thương thuyết để được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới cũng sẽ không phải là Trung quốc và người đặt điều kiện sẽ không phải là Mỹ mà ngược lại, v.v...

Tất nhiên, như một câu tục ngữ Pháp nói, với những chữ "nếu" người ta có thể cho cả Paris vào trong một cái lọ. Lịch sử là lịch sử. Thế nhưng nhìn lại lịch sử, đặt ra những giả thiết, thật ra cũng là để rút bài học cho ngày hôm nay và cả ngày mai.
Giữa thế kỷ 15, thiên niên kỷ thứ hai, khi nhà buôn,nhà hàng hải,nhà thám hiểm Trung quốc Trịnh Hòa cùng với đội tàu buôn của mình đặt chân đến cảng Aden ở Trung Đông, Trung quốc đã đi trước Châu Au hàng thế kỷ xét về mặt kỹ thuật,kinh tế,chính trị trong khi Châu Au vẫn đang chìm trong "đêm dài Trung cổ". Điều gì sẽ xảy ra nếu Trịnh Hòa tiếp tục giong thuyền vòng qua mũi Hảo vọng rồi tiến lên phía bắc, đến Châu Au ?
Tiếc thay,điều đó đã không xảy ra.Những cuộc tranh giành quyền lực phe phái trong triều đình nhà Minh đã dẫn đến hậu qủa là những chuyến đi biển như thế bị cấm và Trung quốc đóng cửa với giao thương bên ngoài.

Các nhà sử học vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân nào khiến phương Tây có thể bành trướng mạnh mẽ từ nửa sau của thiên niên kỷ này,nhưng hầu như mọi người đều nhất trí rằng chính sự co cụm, tự cô lập của Trung quốc từ giữa thế kỷ 15 trong khi Châu Au đang chuẩn bị cho những chuyến thám hiểm đầu tiên của mình đã là nhân tố chính làm nên diện mạo của thế giới ngày nay.

Học giả Wang Gungwu, Giám đốc Viện Đông Á ở Singapore, nguyên Phó Giám đốc Viện Đại học Hồng kông, trong một bài báo trên Tạp chí Kinh tế Viễn Đông cho rằng có một sợi dây gần như xuyên suốt toàn bộ thiên niên kỷ này ở Châu A, đó là cuộc đấu tranh dai dẳng giữa các nhà cai trị và tầng lớp thương nhân mà nhà cầm quyền luôn coi như là một thứ tai họa cần thiết,một thứ tai họa buộc phải chấp nhận.Chính vì thế mà họ luôn tìm cách hạn chế và kiểm soát việc buôn bán.Và sự thắng thế của chính trị đối với thương mại trong hầu hết thiên niên kỷ thứ hai ở Châu Á đã bóp nghẹt sự tăng trưởng kinh tế cũng như sự nở rộ của khoa học và văn hóa đi kèm theo nó.Thất bại của Trung quốc trong việc tiến vào kỷ nguyên công nghiệp
trước Châu Âu cũng bắt nguồn từ đó, mặc dù như đã nói ở trên, về nhiều mặt Trung quốc đã đi trước Châu Âu hàng thế kỷ.

Qủa thực, ngay từ thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên các dân tộc ven biển ở Nam và Tây Á (chủ yếu là Ấn Độ,Ba Tư và sau đó là các nhà nước Ả rập) trên đường đến các cảng Trung quốc, đã dẫn đầu trong buôn bán với lục địa Đông Nam Á và quần đảo Indonesia. Trên đường đi buôn bán của họ, họ đã để lại những tác phẩm vĩ đại từ bàn tay con người. Đó là những đền đài nổi tiếng như Borobudur (kiến trúc Ấn Độ,xây dựng từ thế kỷ thứ 9 trên đảo Java,Indonesia) và Angkor Wat (Campuchia) mà người ta coi là những thí dụ về ảnh hưởng của những thương nhân đi biển.Không những thế, các thương nhân còn mang theo mình những tư tưởng,những định chế ảnh hưởng lên đời sống tôn giáo,chính trị và nghệ thuật trong vùng mà họ đến buôn bán.Sự phát triển của thương mại tác động đến văn minh là thế.

Tuy nhiên, ở Châu Á thương mại qua đường biển phải vật lộn trong hàng thế kỷ với các nhà nước nông nghiệp vốn thích sự ổn định hơn là sự dịch chuyển và đặt ưu tiên cho việc bảo vệ đường biên giới trên bộ chống lại sự xâm lăng của bên ngoài. Cả Trung quốc và An Độ đếu thiết lập những hệ thống giá trị xem quyền lực chính trị là thống soái,xem nhẹ tầm quan trọng của biển và thương mại qua đường biển. Ở Trung quốc,thang giá trị đó là sĩ-nông-công-thương, ở An Độ thương nhân cũng bị coi là giai tầng hạ đẳng. Với thời gian, cả những nước láng giềng cũng bị ảnh hưởng bởi hệ thống giá trị này và những cảng thị phồn thịnh một thời nhờ buôn bán ở Java,ở ven biển miền trung Việt Nam và ở thung lũng Menam thuộc miền trung Thái Lan ngày nay cũng lây nhiễm những thành kiến tương tự.

Trong thế kỷ thứ 10, thương mại phát triển mạnh ở các tỉnh miền Nam Trung quốc như Quảng Đông, Phúc Kiến và Triết Giang , mở ra một kỷ nguyên hoạt động hàng hải tấp nập của người Trung quốc dựa trên những quan hệ chính thức với các vuơng quốc Champa, Khmer và các cảng thị ở Sumatra và bán đảo Malay. Với sự hỗ trợ trước hết là của triều đình Nam Tống (1127-1279) và sau đó là của các viên quan lại ở vùng Hoa Nam của đế quốc Nguyên Mông, người Trung quốc đã thiết lập được sự hiện diện thương mại mạnh mẽ tại các quốc gia ven biển ở phía Nam trước khi các nhà buôn phương Tây đặt chân đến đây vào thế kỷ thứ 16. Một thế kỷ trước khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến vùng này vào năm 1508, nhà Minh (1368-1644) đã chứng tỏ sức mạnh trên biển của họ bằng cách giao cho Trịnh Hòa cầm đầu bảy chuyến đi biển lớn trong khoảng thời gian từ 1405 đến 1435. Tuy vậy những chuyến thám hiểm ấy không phản ánh một sự thay đổi nào trong chính sách bóp nghẹt thương mại của nhà Minh. Ngược lại, chúng chỉ thể hiện ý muốn của triều đình nắm độc quyền ngoại thương và không muốn cho tư nhân nhúng tay vào. Chính sách ấy được nhà Minh duy trì trong gần 200 năm và mãi cho đến năm 1567 mới được nới lỏng phần nào khi, đứng trước tình hình buôn bán qua đường biển ngày càng tấp nập do người Bồ Đào Nha cầm đầu ở ngoài khơi bờ biển Trung quốc, triều đình buộc phải cho phép một số nhà buôn Trung hoa được ra nước ngoài buôn bán.
Trong vùng Đông Nam Á cũng vậy, mọi cố gắng nhằm xây dựng những vương quốc thương mại dù là của người Java, người Chăm, người Khmer, người Malay hay người Thái đều tỏ ra uổng công vô ích. Các nhà cai trị của họ luôn coi quyền lực chính trị mới là nguồn gốc mang lại sự giàu có do buôn bán chứ không bao giờ có chuyện ngược lại.

Trong khi đó, vào cuối thế kỷ 16,người Châu Au đã tăng cường sự có mặt trong vùng và họ chẳng những mang tới những con tàu mạnh hơn, những phương pháp hải chiến mới hơn mà còn mang tới những hệ thống chính trị mới ủng hộ tầng lớp thương nhân và cho phép họ có vai trò lớn hơn trong chính quyền. Đó là kết qủa của sự thay đổi căn bản trong mối quan hệ giữa thương mại và quyền lực đã khởi đầu từ giữa thiên niên kỷ thứ hai ở Châu Au mà nguồn gốc lâu đời phải lần ngược lên tới những đế quốc thương mại phồn thịnh một thời quanh Địa Trung Hải. Qua thế kỷ 18 –19 thì tư tưởng trọng thương đã biến đổi các chính quyền ở khắp Châu Au.Những thiết chế ra đời từ các tư tưởng đó đã tạo cơ sở cho sự xuất hiện của chủ nghĩa đế quốc.

Và với việc Trịnh Hòa và những người như Trịnh Hòa, không chỉ ở Trung quốc mà cả ở những nước Châu Á khác, bị cấm đi biển, cấm giao thương với bên ngoài, thì khi những đạo quân phương Tây kéo tới họ nhanh chóng bị khuất phục là lẽ đương nhiên. Vẫn còn cho mình là trung tâm của vũ trụ, họ không biết được thế giới đã biến đổi đến mức nào, phương Tây đã có những bước tiến về mặt kỹ thuật ra sao. Ở Việt Nam, khi những con người lỗi lạc, có đầu óc thức thời, nhận ra được ưu thế kỹ thuật của phương Tây và muốn cải cách như Nguyễn Trường Tộ ở nửa sau thế kỷ 19 thì đất nước đã rơi vào tay thực dân Pháp; hoặc một nhà nho có đầu óc canh tân như Phạm Phú Thứ, đến khi cùng phái bộ Phan Thanh Giản qua Pháp và Tây Ban Nha điều đình và nhận ra các nước Châu Âu
"Cây hoa,sông núi qua song kính,
"Dây điện chạy ven lộ, phố, đài.
"Bát chính rõ ràng làm được tốt,
"Tứ đoan thâm thúy chẳng truyền hay.
"Phương Đông giá sớm thêm cơ xảo,
"Pha-lý,Long-đôn chửa hẳn tài."(*)
thì mọi sự cũng đã rồi.

Cho mãi đến thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ này,và có nước thì tận cuối thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ,lần đầu tiên trong lịch sử tầng lớp thương nhân mới có được vị trí xứng đáng ở các quốc gia và lãnh thổ Châu Á,điển hình là Nhật, Hồng Kông, Singapore, Đài .Vì thế mà họ giàu.

Bước vào thiên niên kỷ sắp tới, khi kinh tế và thương mại trở nên toàn cầu hóa, Châu Á - theo học giả Wang Gungwu - vẫn đứng trước những thách thức rất lớn,đồng thời cơ hội cũng rất lớn : hoặc là xem trọng những Trịnh Hòa của thời đại mới và đạt đến phồn vinh hơn hoặc là quay trở lại những giá trị cũ và tiếp tục thua kém tụt hậu trên bàn cờ thế giới.
__________________________________________
* Paris, London