Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

TỪ CHUYỆN CHIẾC MŨ BẢO HIỂM

Chuyện chiếc mũ bảo hiểm tưởng nhỏ hoá ra không nhỏ. Nó liên quan đến năng lực và sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước. Chuyện chiếc mủ bảo hiểm và những rối rắm phát sinh hiện nay về chất lượng mũ bán trên thị trường mà có ý kiến đánh giá đến 75% (một con số quá lớn) không đạt tiêu chuẩn, về việc tổ chức kiểm định chất lượng mũ, …cho thấy có ít nhất hai điều chưa ổn trong quản lý nhà nước, cụ thể hơn là trong hoạt động của các bộ.

Thứ nhất, sẽ chẳng có gì phải nói nếu trước khi ban hành Nghị quyết 32/2007/NĐ-CP của Chính phủ mà mục đích là nhằm kiềm chế tai nạn giao thông nhưng có quan hệ đến hàng triệu triệu người dân, các bộ Công thương (trước đây là bộ Công nghiệp và bộ Thương mại) và bộ Khoa học-Công nghệ ngồi lại để rà soát lại toàn bộ năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm trong nước để có kế hoạch tổ chức sản xuất sao cho đáp ứng đủ nhu cầu (cả về số lượng và chất lượng), hoặc trong trường hợp doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng đủ nhu cầu thì cho nhập khẩu mũ bảo hiểm từ đâu, với những tiêu chuẩn bắt buộc như thế nào, và chỉ định cơ quan nào phải chịu trách nhiệm về chất lượng mũ sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu được phép lưu hành trên thị trường. Vấn đề ở đây là một khi đề ra chính sách, bộ máy quản lý phải bảo đảm các điều kiện để chính sách đó được thực thi nghiêm chỉnh, thông suốt trong thực tế.

Thứ hai, sau nhiều phản ảnh của báo chí, của công luận về chất lượng cũng như giá cả mũ bảo hiểm, sau khi nhiều người dân đã phí tiền mua phải những loại mũ giả, mũ dỏm không đạt tiêu chuẩn, các bộ có liên quan hầu như vẫn không có phản ứng gì. Có cảm tưởng bộ máy quản lý nhà nước cấp bộ bận bịu với những vấn đề của chính nó, với sức ỳ của nó hơn là nhanh chóng, chủ động phản ứng vì lợi ích của hàng triệu người dân. Trong cải cách hành chính, người ta đang nói đến việc chuyển bộ máy nhà nước từ chỗ là bộ máy cai trị sang bộ máy phục vụ người dân. Đáng tiếc, trong trường hợp này điều đó đã không xảy ra. Và khi sáp nhập một số bộ, Thủ tướng cũng đề ra một nguyên tắc quản lý là mỗi đầu việc chỉ do một đầu mối chịu trách nhiệm. Nhưng trong trường hợp này, không rõ bộ nào chịu trách nhiệm chính và sự phối hợp giữa các bộ rõ là quá kém. Để đến bây giờ, nhiều tháng sau khi Nghị quyết 32 được ban hành, khi thời hạn áp dụng nghị quyết đã gần kề, Thủ tướng phải ra văn bản yêu cầu các bộ Khoa học-Công nghệ và Công thương phối hợp để quản lý chất lượng mũ bảo hiểm và công bố danh sách những loại mũ đạt tiêu chuẩn; kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh các loại mũ giả, mụ dỏm; yêu cầu bộ Tài chính tổ chức kiểm tra việc niêm yết giá mũ bảo hiểm và bán đúng giá niêm yết, không để xảy ra việc tùy tiện nâng giá làm thiệt hại lợi ích của người tiêu dùng.

Chuyện chiếc mũ bảo hiểm như vậy đã cho thấy những vấn đề lớn hơn trong chức năng, tính chất và sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước. Công cuộc cải cách hành chính của chúng ta bao giờ mới đến nơi ?

Minh bạch, lại chuyện minh bạch

Cuối cùng thì vào thứ năm tuần trước, 21-6, UBND Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chính thức thông báo ngưng đề án thí điểm cổ phần hóa Bệnh viện (Bv) Bình Dân sau khi công luận bày tỏ sự không đồng tình với đề án, cả về mục tiêu, tính khả thi lẫn tác động của việc cổ phần hóa bệnh viện xét về mặt công bằng xã hội.
Tại cuộc họp báo nhằm thông báo quyết định nói trên của lãnh đạo thành phố, trả lời phỏng vấn của báo chí, Phó chủ tịch UBNDTP Nguyễn Thành Tài cũng cho biết sẽ rút kinh nghiệm, tổ chức lấy ý kiến của các ngành, các tổ chức, đoàn thể, các nhà chuyên môn, nhà kinh tế về đề án cổ phần hóa một bệnh viện khác sau này.
Việc rút kinh nghiệm này quả thực cần thiết, bởi đến bây giờ nhiều người mới biết UBNDTP đã chỉ đạo chuẩn bị xây dựng đề án thí điểm cổ phần hóa Bv Bình Dân từ ba năm trước, đã kiến nghị Chính phủ cho phép tiến hành thí điểm từ hai năm trước và đã được Chính phủ cho phép xây dựng đề án thí điểm trình Chính phủ xem xét từ tháng 9-2005. Thế nhưng mãi đến tháng 5-tháng 6 năm 2007, khi dư luận, qua báo chí, hay biết và tỏ ra bức xúc về đề án thì một số cuộc hội thảo về chủ đề này mới được tổ chức, và cũng không phải do chính quyền thành phố chủ động. Ngoài ra, cũng qua báo chí người ta mới biết trong đề án cổ phần hóa, Bv Bình Dân đã được định giá quá thấp, chỉ bằng khoảng 1/12 giá trị thực – theo một số chuyên gia. Chính vì vậy, và trong bối cảnh không hề có thông tin chính thức về đề án cổ phần hóa bệnh viện, một số người đã nhảy vào trục lợi, mua bán quyền mua cổ phiếu và đẩy giá lên cao khi bệnh viện chưa hề có quyết định cho phép cổ phần hóa. Ngay cả trong tình hình đó, tình hình mà không thể nói cơ quan chức năng không hay biết, thành phố vẫn không hề có thông báo hay cảnh báo chính thức nào. Để rồi bây giờ, khi thành phố chính thức thông báo ngưng đề án thí điểm cổ phần hóa Bv Bình Dân, cả người mua lẫn người bán “cổ phiếu” ảo đều lâm vào tình cảnh khó khăn.
Y tế là một dịch vụ công động chạm đến đông đảo người dân, nhất là đa số người có thu nhập trung bình và nghèo. Lẽ ra, với một đề án động chạm đến đông đảo người dân như vậy, như ông Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng chính phủ kiêm Phó trưởng ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nói tại hội thảo quốc gia về cổ phần hóa bệnh viên công ngày 17-5, “UBNDTPHCM cần công bố đề án công khai để người dân được đóng góp ý kiến, từ đó lãnh đạo thành phố có thể cân nhắc điều hay lẽ thiệt.” Nếu làm như vậy ngay từ đầu, thành phố đã có thể tiết kiệm được thời gian, công sức dốc vào việc xây dựng đề án. Nếu minh bạch ngay từ đầu, có lẽ đã tránh được việc nhiều người bây giờ rơi vào cảnh dở khóc dở cười khi nắm trong tay những “cổ phiếu” ảo do tom góp tiền chạy mua quyền mua cổ phiếu của cán bộ công nhân viên Bv Bình Dân.

BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN

(Lại một bài báo cũ, nhưng vấn đề thì vẫn chưa hề cũ).

Trong tất cả các biện pháp chống tham nhũng, chống lãng phí thì công khai hoá phải là biện pháp đầu tiên. Bởi, như mọi người đều biết, mọi lời hô hào chung chung, mọi sự kêu gọi tu dưỡng đạo đức, thậm chí mọi sự lên án mạnh mẽ nhất mà không kèm theo địa chỉ, danh tính cụ thể của những đơn vị, cá nhân vi phạm, cho đến nay đều tỏ ra không có hiệu quả. Tham nhũng, lãng phí vẫn lan tràn, và như tổng kết mới đây của ngành công an cho thấy, càng ngày những kẻ tham nhũng bị phát hiện có chức vụ càng cao.
Cũng chính vì thế, trong những ngày qua, trong khi các đại biểu Quốc hội đang thảo luận với nhiều ý kiến chưa ngã ngũ về dự thảo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng thì việc Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế-ngân sách của Quốc hội Tào Hữu Phùng cho nổ “quả bom” liên quan đến việc một doanh nghiệp nhà nước dự chi đến hơn 847 triệu đồng để đón nhận huân chương Lao động hạng 3 (mặc dù sau đó doanh nghiệp này cho rằng dự toán chỉ có 460 triệu đồng) đã gây nên một tác động lớn. Tác động càng mạnh khi báo Tuổi Trẻ TPHCM và kênh truyền hình VTV1 nêu đích danh đơn vị mà Phó chủ nhiệm ủy ban Kinh tế-ngân sách còn ngại công khai hóa : đó là Công ty gốm xây dựng Hạ Long thuộc Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng - Bộ Xây dựng.
Chỉ khi bị đưa ra ánh sáng, chỉ đích danh, thì những thủ phạm lãng phí, tham nhũng mới thật sự cảm thấy nao núng và luật pháp mới phát huy tác dụng răn đe của nó.
Cũng vậy, việc báo chí công khai hóa những đơn vị, cá nhân liên quan đến việc nhập 150 xe mô tô công vụ trị giá 750.000 đô-la Mỹ cho cảnh sát giao thông TPHCM và nhiều xe ôtô, mô tô trị giá gần nửa triệu đô-la Mỹ cho cảnh sát giao thông Hà Nội trong dự án tăng cường năng lực quản lý giao thông đô thị, nhưng xe nhập lại không sử dụng được do không đúng quy cách, gây lãng phí lớn tiền vay của Ngân hàng Thế giới, cũng đã khiến công luận hết sức bức xúc và buộc những kẻ có liên quan phải đối diện với trách nhiệm của mình.
Trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống lãng phí, nếu tất cả các vụ việc vi phạm đều được công khai hoá như vậy thì những kẻ có ý định tham nhũng hoặc chi xài phung phí ngân sách nhà nước mới cảm thấy chùn tay, không dám phạm tội. Công khai hoá, bên cạnh sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật,chính là cách duy trì sức ép thường xuyên lên mọi mưu toan tham nhũng, chi xài phung phí đồng tiền ngân sách.

TA MUỐN GÌ?

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện...”.

Một mục tiêu như vậy, theo chúng tôi, hẳn sẽ được nhiều người đồng tình. Với điều kiện, chẳng hạn, dân chủ phải thực sự là dân chủ chứ không phải là dân chủ hình thức, bị cắt xén. Công bằng phải thực sự là công bằng cho cả những người dân thấp cổ bé miệng nhất chứ không chỉ giữa những người có quyền thế. Nhân dân phải thực sự làm chủ thông qua những định chế cụ thể và hữu hiệu, chứ không chỉ là khẩu hiệu để trong thực tế chỉ có cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước làm chủ. Người dân được giải phóng khỏi áp bức, bất công, được tự do thực sự chứ không phải khúm núm như người đi xin khi có việc phải tiếp xúc với cơ quan công quyền. Con người được phát triển toàn diện, được tự do sáng tạo và đóng góp thực sự, được tìm kiếm những lối đi mới mẻ cho mình và cho xã hội mà không phải lo sợ bất cứ điều gì... Thực tâm làm được như vậy, theo chúng tôi, Đảng không lo không thu phục được nhân tâm.

Thế nên, trước những ý kiến nhiều chiều về những vấn đề quan trọng đang được đặt ra trong cuộc thảo luận góp ý cho Đại hội Đảng lần thứ X, theo chúng tôi, cần đặt ra câu hỏi: Ta muốn gì? Nói cách khác: Mục tiêu của ta là gì? Ta muốn đất nước đi về đâu? Tiếp tục phát triển, hội nhập và sánh vai với các nước trên thế giới hay dừng lại, thậm chí lùi lại (so với những gì mà 20 năm đổi mới đã làm sáng tỏ) với những giáo điều, những tư tưởng, những mô hình đã chứng tỏ là bất cập, cản trở sự phát triển vì không có hiệu quả, không có sức sống, không theo kịp thời đại? Hỏi tức là đã trả lời.

Vậy, nếu điều mà ta muốn, nếu mục tiêu mà Đảng đề ra và có thể đoan chắc là không người Việt Nam bình thường nào ở trong và ngoài nước không đồng tình là “xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thực sự, thì những vấn đề đang được đặt ra cần phải được giải quyết phù hợp với mục tiêu ấy. Chẳng hạn vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, vấn đề kinh tế quốc doanh và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, việc sử dụng người giỏi bất kể là trong hay ngoài Đảng ở mọi nấc thang của bộ máy hành chính, việc cải tổ hệ thống chính trị và dân chủ hóa xã hội, phát triển xã hội dân sự...

Phải giải quyết những vấn đề ấy phù hợp với mục tiêu đề ra, phù hợp với mong mỏi của người dân mà đa số góp ý trong thời gian qua đã cho thấy, và phù hợp với sự phát triển, dứt khoát không đi ngược lại sự phát triển.

VỐN XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM, NHÌN TỪ THỰC TẾ HÔM NAY

Lại một bài báo cũ từ tháng 6/2006 của tôi. Đây là bài ghi nhận từ cuộc hội thảo “Vốn xã hội trong phát triển” do Tạp chí Tia Sáng tổ chức ngày 24-6 -2006 tại Hà Nội. Hội thảo đã không tốn nhiều thì giờ cho các vấn đề lý thuyết, đi từ cách hiểu của R. Putnam, F. Fukuyama đến J. Coleman, C. Bourdieu hay xa hơn như L.J. Hanifan - dù vốn xã hội là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. Những bức xúc nóng bỏng từ thực tế đã “đổ bộ” vào hội thảo.

Một cách khái quát, vốn xã hội nhằm chỉ những mối liên kết, những “mạng lưới xã hội” hình thành trên cơ sở lòng tin hay sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên của “mạng lưới”, của cộng đồng vốn cùng nhau chấp nhận những quy tắc, những chuẩn mực xã hội chung. Những mối liên kết ấy, sự tin cậy lẫn nhau ấy, những chuẩn mực cùng được chấp nhận ấy có thể giúp làm giảm các chi phí giao dịch giữa các thực thể trong xã hội, làm tăng hiệu quả của các hoạt động xã hội bằng cách thúc đẩy sự hợp tác, và tăng hiệu quả của các thiết chế xã hội mà không cần đến sự can thiệp của luật pháp. Tạm đồng ý với nhau về cách hiểu vốn xã hội như vậy, những người tham dự hội thảo đã tập trung phân tích về thực trạng của vốn xã hội ở Việt Nam và giải pháp để phát triển nguồn vốn này.

Nghịch lý: kinh tế tăng trưởng, vốn xã hội suy giảm

Không gửi tham luận trước mà phát biểu trực tiếp tại hội thảo, Giáo sư Hoàng Tụy cho rằng vốn xã hội phát triển hay không phụ thuộc vào hai yếu tố: kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội và thể chế chính trị. Theo ông, về hạ tầng tâm lý xã hội, đã đến lúc nói đến những nhược điểm, những khuyết tật trong tâm lý xã hội của dân tộc. Nổi cộm nhất hiện nay trong hạ tầng tâm lý xã hội, theo ông, là sự gian dối, không chỉ trong thi cử hay các vụ tham nhũng mà còn ở những cái lớn hơn, như nói trị tham nhũng không trừ ai nhưng việc xử lý những vụ tham nhũng gần đây chưa chứng tỏ được điều ấy. Một khuyết nhược khác trong hạ tầng tâm lý xã hội của dân tộc là sự thiếu óc tưởng tượng, óc sáng tạo, ngay từ trong giáo dục. Về thể chế chính trị, ông cho rằng đang có những “lỗi hệ thống” và cơ chế lựa chọn lãnh đạo đang có những bất cập. Muốn phát triển vốn xã hội của Việt Nam cần sửa đổi những yếu tố trên.
Tiếp nối ý tưởng trên, GS Nguyễn Văn Chiển cho rằng ở Việt Nam đang thiếu cơ chế để người dân có thể vạch trần sự gian dối. Ông cũng cho rằng có nhiều thứ đang mai một trong vốn xã hội của Việt Nam như truyền thống đoàn kết đang suy yếu, thay vào đó là sự tranh giành quyền lợi.
Diễn giả Nguyễn Trung cho rằng trong khi đời sống vật chất được cải thiện thì vốn xã hội lại đang sút giảm nghiêm trọng và so với thế giới, đặt trong bối cảnh cạnh tranh, vốn xã hội của ta đang rất thấp. Ông nói ông không hình dung được vốn xã hội, đạo đức xã hội xuống cấp như thế này thì làm sao Việt Nam có thể trở thành một xã hội công nghiệp hiện đại, một quốc gia công nghiệp vào năm 2020?
Ngược dòng thời gian, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, trong tham luận của mình, phân tích: từ sau năm 1953, chính sách đại đoàn kết dân tộc bị thay thế bằng một loạt chính sách rất xa lạ với truyền thống của dân tộc (thay đại đoàn kết dân tộc bằng đấu tranh giai cấp, cải cách ruộng đất với đấu tố, xử lý oan sai hàng loạt cán bộ, sử dụng nhục hình, kích động con tố cha, vợ tố chồng…) đã phá hoại nặng nề vốn xã hội ở nông thôn và để lại những di chứng lâu dài. Cải tạo xã hội chủ nghiã ở thành phố cũng gây ra tác hại tương tự về vốn xã hội trong quan hệ giữa người và người, sự tàn phá vốn văn hoá, vốn đạo đức cũng cực kỳ nghiêm trọng và để lại những hệ qủa lâu dài. Việc áp dụng triệt để quan niệm thành phần chủ nghiã trong chính sách cán bộ đã bóp méo nghiêm trọng vốn xã hội truyền thống tốt đẹp của dân tộc và gây ra rất nhiều tác động tiêu cực nhiều mặt đối với xã hội. Con người không còn được quyết định bởi năng lực và đóng góp của bản thân mình mà bởi “thành phần” của cha mẹ, ông bà để lại. Theo ông, trong quá trình đổi mới, một số những cách làm quá thô bạo và phi lý đã được lặng lẽ điều chỉnh nhưng chưa bao giờ được chính thức thừa nhận là sai. Song chừng nào việc quyết định cán bộ còn thiếu công khai minh bạch, được quyết định bởi những yếu tố không liên quan gì đến năng lực, phẩm chất thì vốn con người và vốn xã hội vẫn còn bị hạn chế và bị bóp méo.
Diễn giả Trần Hữu Quang phân tích thêm: chính não trạng coi trọng chính trị hơn đạo đức trong bối cảnh các thiết chế xã hội bị nhà nước hoá, chính trị hoá đã khiến cho người ta có xu hướng quan tâm tới mục đích hơn là phương tiện, coi trọng thành tích hơn là nỗ lực, phương pháp và con đường đạt tới mục tiêu - từ đó dẫn tới một thứ tâm lý thực dụng hiểu theo nghiã tiêu cực trong xã hội. Luật sư Nguyễn Ngọc Bích thì nhấn mạnh tới tác hại của chủ nghiã thành tích: chủ nghiã thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả hiện tại mà nó đề cao là không thật. Khi cá nhân chạy theo thành tích, họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác tự nguyện, không góp vào mà còn làm giảm đi vốn xã hội.

Vốn xã hội – Nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự

Vậy làm thế nào để phục hồi và phát triển vốn xã hội của Việt Nam?
Hầu như tất cả các diễn giả đều chỉ ra mối liên hệ giữa việc phát triển vốn xã hội với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, bởi vốn xã hội không tách rời mà luôn có sự tương tác với môi trường các thiết chế nhà nước và xã hội.
Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng trong xã hội có những mối liên kết dọc (tiêu biểu là các quan hệ thứ bậc trong trật tự hành chính, quan hệ giữa nhà nước và công dân) và những mối liên kết ngang (liên kết tự nguyện và bình đẳng giữa các cá nhân, không có quan hệ tùy thuộc, trên dưới). Xét theo quan điểm vốn xã hội, chính các mối liên kết ngang vốn rất đa dạng, phong phú mới có nhiều khả năng đóng góp những ý tưởng, những giải pháp thiết thực, có hiệu quả cho những bài toán phức tạp của cuộc sống muôn màu muôn vẻ khó lường trước được. Loại liên kết ngang này chủ yếu là các liên kết trong các tổ chức của xã hội dân sự, độc lập và bổ khuyết cho Nhà nước pháp quyền trong một xã hội dân chủ. Như vậy vốn xã hội chỉ có thể phát triển trong điều kiện xã hội dân sự được phát triển. Một khi xã hội dân sự chưa được phát triển thì vốn xã hội còn nghèo nàn và chưa đóng góp được gì đáng kể cho phát triển kinh tế, thậm chí còn chưa được coi là một nhân tố phát triển.
Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhấn mạnh: nói đến vốn xã hội là nói đến xã hội dân sự, nói đến dân chủ theo nghiã là sự tham gia trực tiếp của người dân (không phải dân chủ qua bỏ phiếu). Cái gì người dân làm được hãy để cho dân làm. Nếu Nhà nước nhúng tay vào tổ chức mọi hoạt động, có thể có những ảnh hưởng tiêu cực đối với vốn xã hội, người dân sẽ quen ỷ lại và đánh mất những khả năng vốn có trong các haọt động chung. Ở Việt Nam, vướng mắc lớn nhất trong các năm qua là vấn đề cơ chế: quyền lực thì tập trung cao độ mà Nhà nước lại quản lý kém.
Diễn giả Nguyễn Trung cũng cho rằng không thể tránh né hai vấn đề cơ bản để phát huy vốn xã hội, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân sự, trong đó, theo ông, hai yếu tố dân tộc và dân chủ là không thể thiếu. Theo ông, việc phát triển vốn xã hội trên cơ sở Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là bảo đảm tốt nhất loại trừ những hiện tượng hoang dã trên con đường hướng tới tương lai, là cách trả giá ít nhất những cái giá phải trả trong quá trình này, và là cách sử dụng tối ưu, tiết kiệm nhất mọi nguồn lực có thể huy động được.
Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng trong thời bao cấp chính vốn xã hội tự có của người Việt Nam đã cứu được xã hội, thể hiện qua việc đổi mới là từ dưới lên; trong thời đổi mới, vốn xã hội tự có đã làm cho kinh tế xã hội phát triển. Nhưng có một nghịch lý là vốn xã hội tích cực ngày càng suy giảm trong khi những liên kết xã hội xấu, “ma qủy” lại phát triển mạnh. Do đó vấn đề đặt ra là vừa phải khôi phục vốn xã hội tốt, vừa phải khắc phục những liên kết xấu. Muốn làm được như vậy, theo ông, cần phát triển dân chủ. Những luật cụ thể nhằm triển khai những quyền tự do cơ bản được ghi trong Hiến pháp không thể nằm trên Hiến pháp, giới hạn Hiến pháp mà ngược lại. Chẳng hạn, theo ông và một số diễn giả khác, Luật về hội, Luật báo chí nên là Luật về quyền tự do lập hội, Luật về quyền tự do báo chí. Có như vậy mới khắc phục được tư duy nhà nước hoá tất cả. Có như vậy xã hội dân sự mới có thể phát triển và vốn xã hội tăng lên.